Nhà bê tông bị nung nóng ban ngày, ban đêm nhả nhiệt, trời vẫn hầm hập. Sau những trận mưa giải nhiệt, Hà Nội lại tiếp tục nắng nóng. Quạt tay, quạt máy, quạt hơi nước thổi không khí nóng vào người chẳng thấm vào đâu.
Máy lạnh nhà tôi mở hết ở các phòng. Trong phòng thì mát mẻ còn bên ngoài thì nóng. Những nhà san sát nhau trong ngõ, những cục nóng máy lạnh cứ thi nhau chạy hết công suất và phả khí nóng ra bên ngoài, làm không khí thêm phần ngột ngạt.
Mọi người bàn nhau về El Nino, về biến đổi khí hậu nóng lên từng năm. Tôi nhớ những bộ phim khoa học viễn tưởng kể về ngày con người phải đi tìm hành tinh mới vì Trái Đất không còn thích hợp để sinh sống.
Nhưng thực tế có lẽ không cần chờ đến một tương lai xa như vậy. Biến đổi khí hậu đang hiện diện ngay trong những ngày hè mà chúng ta trải qua. Khi tôi ngồi trong phòng điều hòa mát lạnh, ngoài kia vẫn có hàng triệu người không có lựa chọn đó.
Đó là những công nhân xây dựng đội nắng trên các công trường. Những người giao hàng chạy xe giữa mặt đường bỏng rát. Những người bán vé số, bán hàng rong, thu gom ve chai, công nhân môi trường, người lao động tự do. Trong khi nhiều người tìm cách tránh nắng thì công việc của họ lại bắt buộc phải đối mặt với nắng nóng nhiều giờ liền.
Nhiệt độ ngoài trời 39-40 độ C đo trong lều khí tượng chưa phải là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ là nhiệt độ cảm nhận trên mặt đường bê tông, nhựa đường hay các khu vực ít cây xanh có thể cao hơn rất nhiều. Cơ thể liên tục mất nước, kiệt sức và đối mặt với nguy cơ sốc nhiệt. Một ngày làm việc dưới nắng gắt không chỉ là sự khó chịu mà còn là sự bào mòn sức khỏe theo thời gian.
Người có điều hòa, có xe hơi, có văn phòng làm việc sẽ chịu ảnh hưởng ít hơn. Người lao động ngoài trời, người thu nhập thấp, người già và trẻ nhỏ thường là những đối tượng chịu tác động nặng nề nhất. Nói cách khác, những người đóng góp ít nhất vào lượng phát thải gây nóng lên toàn cầu lại thường là những người phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất.
Nghịch lý ấy khiến câu chuyện nắng nóng không còn đơn thuần là chuyện thời tiết. Nó là câu chuyện của quy hoạch đô thị, của môi trường sống và của trách nhiệm xã hội.
Trong nhiều năm, những khoảng đất trống dần được phủ kín bằng bê tông. Cây xanh bị thay thế bởi các tòa nhà. Ao hồ bị san lấp. Những khu dân cư ngày càng dày đặc nhưng không gian xanh lại không tăng tương ứng. Thành phố giống như một khối bê tông khổng lồ hấp thụ nhiệt vào ban ngày rồi âm thầm nhả nhiệt suốt đêm. Đó là lý do nhiều người có cảm giác Hà Nội ngày càng nóng hơn, kể cả khi mặt trời đã lặn.
Tất nhiên, không ai có thể một mình giải quyết biến đổi khí hậu. Việc tắt một bóng đèn hay trồng một cái cây sẽ không ngay lập tức làm nhiệt độ giảm xuống. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta bất lực.
Các thành phố cần nhiều cây xanh hơn, nhiều mặt nước hơn và những công trình tiết kiệm năng lượng hơn. Các khu dân cư cần được quy hoạch theo hướng giảm hấp thụ nhiệt. Người lao động ngoài trời cần được bảo vệ tốt hơn bằng những quy định về thời gian làm việc trong điều kiện nắng nóng cực đoan, các điểm nghỉ chân, nước uống và hỗ trợ y tế cần thiết.
Về phía mỗi cá nhân, sử dụng năng lượng tiết kiệm hơn, hạn chế lãng phí điện, trồng thêm cây xanh hay lựa chọn những phương tiện ít phát thải hơn có thể là những việc nhỏ nhưng không vô nghĩa. Mỗi hành động riêng lẻ có thể không tạo ra thay đổi lớn, nhưng hàng triệu hành động nhỏ cộng lại sẽ tạo nên khác biệt.
Những vấn đề nêu trên có lẽ là hình ảnh thu nhỏ của nhiều vấn đề môi trường hiện nay. Chúng ta thường tìm cách làm mát phần không gian của riêng mình mà quên mất cái giá mà cộng đồng phải trả.
Nếu một ngày nào đó những đợt nắng 40 độ C trở thành điều “bình thường mới”, câu hỏi sẽ là làm thế nào để thành phố và cả Trái Đất này vẫn còn là nơi đáng sống cho tất cả mọi người e rằng đã quá trễ để trả lời.
Thời điểm mua vàng chưa có quy định trên 20 triệu đồng bắt buộc phải chuyển khoản, tôi có mua 5 cây vàng nhẫn 9999 giá 12,8 triệu đồng một chỉ.
Do mua ở tiệm quen gần nhà, đã mua bán nhiều lần trước đó nên tôi một tay đưa tiền, một tay nhận vàng. Chủ tiệm chỉ cho một túi nhung có in tên tiệm để đựng mà không có hóa đơn mua bán vàng. Theo quán tính, tôi cũng không đòi hóa đơn và cũng không nghĩ nhiều về việc này.
Gần đây người thân của tôi bảo mua vàng thì phải có hóa đơn để chứng minh nguồn gốc, tiệm nào không ghi hóa đơn thì dứt khoát không mua. Tôi bị chột dạ vì điều này. Số vàng trên tôi dự định để dành trong thời gian dài vì hiện tại chưa có việc cần dùng đến.
Lỡ 10-20 năm nữa tôi có việc cần, đi bán ra mà không có hóa đơn thì sao? Tệ nhất trong trường hợp tiệm đóng cửa, phá sản thì làm thế nào? Trong lòng mỗi chiếc nhẫn có khắc tên tiệm có đủ chứng minh nguồn gốc không?
Hay là tôi bán số vàng này, rồi bù thêm tiền mua lại số vàng tương đương ở tiệm có hóa đơn để yên tâm?
Tôi là một cô gái Gen Z, năm nay 25 tuổi và đã tham gia thị trường lao động gần bốn năm nay. Sau khi đọc bài "Áp lực 'tăng ca vô hình' của lao động công sở", bởi tôi nhận ra bản thân mình trong từng chi tiết của bài viết ấy.
Tôi từng nghĩ chỉ cần còn trẻ thì có thể làm việc nhiều hơn người khác, chịu áp lực tốt hơn người khác và hy sinh thời gian cá nhân để đổi lấy cơ hội thăng tiến. Nhưng sau bốn năm đi làm, điều khiến tôi sợ nhất không còn là KPI hay deadline, mà là cảm giác cuộc sống của mình đang dần bị công việc nuốt chửng.
Nhiều người vẫn nghĩ Gen Z là thế hệ thích nghỉ ngơi, dễ bỏ việc và thiếu chịu đựng áp lực. Nhưng ít ai nhìn thấy phía sau những bức ảnh check-in văn phòng hay những dòng trạng thái bận rộn trên mạng xã hội là một thế hệ đang kiệt sức âm thầm.
Chúng tôi lớn lên trong thời đại công nghệ phát triển, nơi mọi thứ diễn ra nhanh hơn, cạnh tranh hơn và áp lực cũng nhiều hơn. Công việc không còn dừng lại ở tám tiếng nơi công sở. Nó theo chúng tôi lên xe buýt, vào bữa cơm tối, lên giường ngủ và cả trong những ngày nghỉ hiếm hoi.
Tôi làm ở một công ty chuyên về quản lý kinh doanh. Bộ phận của tôi có 30 người, nhiệm vụ phát triển đối tác và xây dựng nhóm kinh doanh mới, trực tiếp mang doanh thu về cho công ty. Năm trước phòng tôi vượt KPI, năm nay công ty tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thành tích càng tốt thì áp lực càng lớn.
Trong môi trường ấy, việc tăng ca gần như trở thành điều hiển nhiên. Có những ngày tôi rời văn phòng lúc 19h nhưng công việc vẫn chưa kết thúc. Điện thoại liên tục rung lên vì tin nhắn từ các nhóm chat công việc. Khách hàng gọi lúc tối muộn vì ban ngày họ bận. Có hôm tôi đang chuẩn bị ngủ thì sếp "tag" vào nhóm yêu cầu sửa báo cáo gấp cho cuộc họp sáng hôm sau. Tôi bật laptop lúc gần nửa đêm, vừa sửa file vừa cố giữ tỉnh táo bằng ly cà phê.
Điều đáng sợ nhất là chúng tôi dần xem cuộc sống ấy như bình thường. Tôi từng tự hào vì mình có thể thức đến một giờ sáng để chạy deadline. Tôi nghĩ đó là biểu hiện của sự chăm chỉ và cầu tiến. Trong môi trường công sở hiện đại, những người online muộn nhất thường được xem là có trách nhiệm nhất.
Chúng tôi ca ngợi văn hóa "hustle" như một điều đáng ngưỡng mộ. Nhưng rồi tôi nhận ra đằng sau những giờ tăng ca ấy là những cơ thể đang kiệt quệ và những tâm trí không còn được nghỉ ngơi đúng nghĩa. Tôi từng bị đau đầu kéo dài vì thiếu ngủ. Có những hôm bụng đau quặn vì ăn uống thất thường nhưng vẫn phải họp online với khách hàng.
Có ngày cuối tuần, bạn bè rủ đi cà phê nhưng tôi vẫn mang theo laptop vì "có thể khách sẽ cần gấp". Tôi không nhớ lần cuối cùng mình thật sự thư giãn mà không cầm điện thoại để kiểm tra email là khi nào. Sau khi đọc bài viết về "tăng ca vô hình", tôi mới nhận ra điều đáng sợ nhất của môi trường công sở hiện nay không phải là những giờ tăng ca được ghi trên bảng chấm công, mà là những giờ làm việc vô hình không ai tính đến.
Đó là những tin nhắn công việc lúc 23h. Là cảm giác lo lắng khi không trả lời điện thoại của sếp ngoài giờ hành chính. Là việc dù đang nghỉ phép nhưng vẫn phải mở máy tính xử lý công việc từ xa. Công nghệ giúp chúng ta làm việc linh hoạt hơn, nhưng cũng khiến ranh giới giữa công việc và cuộc sống gần như biến mất. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh, văn phòng có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu.
Chúng tôi không còn thật sự "tan làm", mà chỉ là chuyển từ làm việc ở công ty sang làm việc ở nhà. Tôi nghĩ Gen Z đang là thế hệ chịu mâu thuẫn rất lớn. Chúng tôi được dạy phải sống hết mình cho tuổi trẻ, phải thành công sớm, phải độc lập tài chính trước tuổi 30. Mạng xã hội mỗi ngày đều tràn ngập hình ảnh những người trẻ kiếm tiền giỏi, thăng tiến nhanh và sống đầy năng lượng. Điều đó vô tình tạo nên áp lực rằng nếu mình nghỉ ngơi, mình sẽ tụt lại phía sau.
Nhiều người lớn thường nói Gen Z nhảy việc quá nhiều. Nhưng đôi khi, đó không phải vì chúng tôi thiếu kiên trì mà vì chúng tôi đang quá mệt mỏi. Một thế hệ lớn lên giữa khủng hoảng kinh tế, áp lực thành công và nhịp sống số hóa liên tục rất dễ rơi vào trạng thái "burnout" - kiệt sức vì công việc.
Chúng tôi mất ngủ, lo âu, dễ cáu gắt và dần không còn cảm thấy hạnh phúc với chính cuộc sống của mình. Điều buồn nhất là nhiều công ty vẫn xem sự hy sinh đời sống cá nhân là tiêu chuẩn của nhân viên tốt. Người làm việc đến khuya được khen trách nhiệm. Người luôn online cuối tuần được đánh giá nhiệt tình. Trong khi đó, những người muốn giữ cân bằng cuộc sống lại dễ bị xem là thiếu tham vọng.
Tôi ước có một ngày cuối tuần thật sự được nghỉ ngơi mà không phải ám ảnh bởi deadline. Và là khi chúng ta vẫn còn năng lượng để gặp gỡ bạn bè, chăm sóc gia đình và lắng nghe chính mình.
Khi bà tôi 87 tuổi, mẹ tôi 60 tuổi phải nghỉ hẳn chuyện làm ăn đang có thu nhập khá cao để về quê chăm sóc toàn thời gian. Các cô em gái của bố tôi sống ở quê cũng phải thay phiên nhau chăm sóc bà.
Gia đình không thiếu tiền thuê người, nhưng với thế hệ bố mẹ tôi, chăm cha mẹ là việc phải tự tay làm. Còn với thế hệ chúng tôi, điều đó ngày càng không khả thi.
Việt Nam đang già hóa nhanh, nhưng dường như vẫn chưa có một ngành chăm sóc người cao tuổi đúng nghĩa. Công việc này vẫn bị xếp lẫn giữa "giúp việc" và "y tế" dựa trên việc tự chịu trách nhiệm, nên không có tiêu chuẩn nghề, không có chứng chỉ, không thu hút được lao động.
Trong khi đó, nhu cầu thực tế đã xuất hiện. Ở nhiều nơi, y tá nghỉ hưu nhận chăm sóc tại nhà với thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi tháng. Có gia đình thuê cả một nhóm 2-3 người chăm sóc một cụ già theo vai trò khác nhau. Đây rõ ràng là một dịch vụ chuyên nghiệp, nhưng vẫn đang được xếp vào diện "người giúp việc nhà".
Chúng ta đang có một nguồn nhân lực lớn. Những công nhân vào nhà máy từ giai đoạn 1995-2000 nay đã 45-50 tuổi, khó tiếp tục làm việc trong môi trường sản xuất, nhưng vẫn còn sức khỏe, kỷ luật và trách nhiệm. Họ hoàn toàn có thể được đào tạo chuyển đổi trong vài tháng để trở thành lực lượng chăm sóc cơ bản cho người cao tuổi để có một nghề tiếp tục kiếm thu nhập cho đến năm 70 tuổi.
Giải pháp là cần sớm chuẩn hóa nghề "chăm sóc người cao tuổi" như một ngành riêng, với bộ tiêu chuẩn do Bộ Y tế ban hành và hệ thống chứng chỉ theo cấp độ. Đào tạo nên linh hoạt theo nền tảng sẵn có: Người biết lái xe học thêm kỹ năng hỗ trợ di chuyển, người có chuyên môn y tế có thể làm ngay, công nhân học phần chăm sóc cơ bản.
Không chỉ dừng ở đào tạo cho người độ tuổi 50+, cần mở cho người trẻ học chứng chỉ như một kỹ năng bổ trợ. Một tài xế hay điều dưỡng trẻ có thêm kỹ năng chăm sóc người cao tuổi sẽ có giá trị cao hơn, đồng thời tích lũy cho tương lai của chính họ.
Theo tôi, đây là một "thời điểm vàng" không dài. Nếu chậm trễ, chúng ta sẽ lãng phí cả lực lượng lao động trung niên lẫn cơ hội phát triển một ngành mới.
Ngược lại, nếu hành động kịp thời, chăm sóc người cao tuổi có thể trở thành một hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp, nơi đạo hiếu được thực hiện theo cách phù hợp hơn với xã hội hiện đại, và nơi nhiều người có thêm cơ hội làm việc sau tuổi 50.