Sau đây là tóm tắt cho câu chuyện viral hôm qua: Một nhóm khách ngồi suốt 10 tiếng nhưng chỉ gọi một ly nước, sau đó bị phụ thu và để lại đánh giá một sao. Câu chuyện nhanh chóng bùng lên tranh cãi: Ai đúng, ai sai?
Trong nhiều năm qua, quán cà phê ở các thành phố lớn không chỉ là nơi uống nước. Đó là nơi học bài, làm việc, gặp gỡ, thậm chí nghỉ ngơi. Một ly cà phê đôi khi “khuyến mãi” đi kèm là vài tiếng sử dụng không gian của quán.
Vấn đề khách ngồi đồng ở quán cà phê xuất hiện từ nhiều năm nay. Ngồi 10 tiếng với một ly nước, mang đồ ăn bên ngoài vào, rời đi vẫn giữ chỗ, quay lại nằm nghỉ… có lẽ đã chạm tới giới hạn chịu đựng của một chủ quán cà phê. Bởi mỗi chiếc bàn trong quán không chỉ là chỗ ngồi, mà còn là doanh thu, là chi phí vận hành, là áp lực thuê mặt bằng, điện nước, nhân sự.
Việc phụ thu 40.000 đồng một người trong trường hợp này không phải là vô lý. Thậm chí, nhiều quán hiện nay đã có quy định rõ: giới hạn thời gian ngồi, yêu cầu gọi thêm nước, hoặc không cho mang đồ ăn từ ngoài vào.
Vấn đề nằm ở chỗ là những quy định đó có được thông báo rõ ràng từ đầu hay không. Nếu khách không được biết trước, việc áp dụng phụ thu dễ tạo cảm giác khó chịu. Ngược lại, nếu quán đã nhắc nhở nhưng không có cách xử lý mềm dẻo, câu chuyện lại chuyển sang xung đột.
Đáng nói hơn, việc quán đăng hình camera lên mạng xã hội đã đẩy mâu thuẫn từ một tình huống dịch vụ thành một cuộc đấu tố công khai. Khi đó, câu chuyện không còn dừng ở đúng sai, mà trở thành cuộc chiến hình ảnh: Ai cũng muốn chứng minh mình là nạn nhân.
Ở chiều ngược lại, cách hành xử của nhóm khách cũng khó có thể xem là hợp lý.
Quán cà phê không phải thư viện miễn phí. Việc mang đồ ăn, nước uống từ ngoài vào, chiếm chỗ cả ngày, thậm chí rời đi vẫn giữ bàn… là những hành vi dễ gây khó chịu, không chỉ với quán mà cả những khách khác.
Đặc biệt, việc để lại đánh giá một sao sau khi xảy ra mâu thuẫn cho thấy một xu hướng đáng lo mà nhiều người đã nói: Dùng đánh giá như “công cụ trả đũa”, thay vì phản hồi mang tính xây dựng.
Một xã hội dịch vụ không thể vận hành lành mạnh nếu khách hàng chỉ nhấn mạnh quyền lợi mà bỏ qua trách nhiệm.
Mỗi lần xảy ra một vụ khách ngồi đồng tại quán cà phê, nó lại gây tranh cãi, bởi chúng ta vẫn đang vận hành bằng những luật bất thành văn khi ngồi cà phê. Khoảng trống đó khiến mâu thuẫn dễ phát sinh và khi không có quy trình xử lý rõ ràng, câu chuyện được đem lên mạng xã hội để giành lẽ phải về ai.
Để tránh những tình huống tương tự, điều cần thiết không phải là tranh cãi ai đúng ai sai, mà cần những bộ quy tắc ứng xử cho từng quán cà phê, mà chủ quán phải là người xây dựng nên chúng:
Cần công khai rõ ràng quy định (thời gian ngồi, phụ thu, đồ ăn ngoài…), nhắc nhở khách một cách bình tĩnh, chuyên nghiệp. Hạn chế đưa mâu thuẫn lên mạng khi chưa thực sự cần thiết.
Nếu không có sự điều chỉnh từ cả hai phía, những cuộc khẩu chiến như vậy sẽ còn lặp lại chỉ là ở một quán khác, với những vị khách khác.
Từ ngày 15/5, Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT chính thức có hiệu lực, siết chặt quản lý để chống ép buộc dạy thêm. Câu chuyện này lại trở thành chủ đề nóng trong các nhóm phụ huynh và giáo viên. Nhân đây, tôi cũng muốn kể lại hồi ức về việc học thêm của mình - một cựu học sinh đã ngót nghét 40 tuổi.
Ngày tôi học cấp 1, cấp 2, học thêm chưa bao giờ là một "phong trào" rầm rộ. Khi đó, việc học thêm do chính nhà trường tổ chức. Thầy cô dành thời gian này để ôn lại kiến thức cho các bạn yếu và mở rộng một số dạng bài nâng cao cho những bạn khá hơn. Thực chất, kiến thức buổi học thêm không khác biệt quá nhiều so với trên lớp, chỉ là chúng tôi được củng cố lại "kỹ" hơn.
Nếu tiết Toán trên lớp chỉ đủ thời gian làm hai bài tập ví dụ, thì buổi học thêm thầy cô cho làm năm bài để học sinh hiểu sâu, nhớ lâu. Học Văn cũng vậy, chúng tôi được thực hành viết ngay tại lớp học thêm để cô sửa trực tiếp, không có chuyện "đóng sách lại là quên" như những tiết học vội vã. Tuyệt nhiên, không bao giờ có chuyện bạn nào đi học thêm mới làm được bài kiểm tra.
>> Dạy chính khóa 'thiếu chất' nên phải có học thêm cho 'đủ chất'
Ngày ấy, thầy dạy thêm của tôi chính là thầy đứng lớp hàng ngày. Phòng học là lớp học cũ tận dụng lúc trống tiết. Chi phí vì thế rất nhẹ nhàng, không khiến cha mẹ phải chắt bóp tính toán. Thậm chí, những bạn có hoàn cảnh khó khăn còn được thầy cô miễn phí hoàn toàn. Cách quản lý khi ấy đơn giản mà đúng quy chuẩn, không ai phải coi học thêm là vấn đề nan giải, không trẻ con nào phải áp lực giờ giấc ngược xuôi.
Nhìn lại ngày nay, tôi thấy xót xa khi chứng kiến các con mình nháo nhác "chạy show" học thêm. Lũ trẻ phải căn từng phút để kịp di chuyển giữa lớp học chính và trung tâm phụ đạo. Vì nhà trường không được tổ chức, chi phí thuê mặt bằng, vận hành trung tâm đều đổ dồn lên vai phụ huynh. Đáng buồn hơn, có những nơi kiến thức trọng tâm chỉ được dạy tại lớp học thêm, khiến đứa trẻ nào không theo thì khó lòng đạt điểm tốt.
Nhìn các con học từ sáng đến chiều, tối lại lao vào guồng quay bổ trợ, những bậc làm cha làm mẹ như tôi thực sự bất lực. Hy vọng rằng việc học chính hay học thêm đều ngày một "tiến" theo đúng nghĩa của nó: học để lấy kiến thức, chứ không phải học vì nỗi lo sợ bị bỏ lại phía sau.
Sau bài viết Chiều cao người Việt thuộc nhóm trung bình thấp nhất thế giới, tôi thấy nhiều người bàn tán sôi nổi, chỉ ra các nguyên nhân do: học hành nhiều, ít vận động, do dinh dưỡng (sữa) và thời tiết - nước ta ở vùng nhiệt đới nên trung bình kích thước cơ thể thon gọn để tối ưu trao đổi nhiệt, tiết kiệm năng lượng và do di truyền.
Nhiều họ hàng, bạn bè và người quen, nếu có con sinh cùng tuổi, khi gặp nhau, câu hỏi thăm đầu tiên sẽ là: "Con nặng bao nhiêu cân"?, "Có sổ sữa không?". Đến khi trẻ biết đi, biết chạy cho đến lúc vào tiểu học, thì mối quan tâm vẫn là câu chuyện "có bụ bẫm không", "nặng bao nhiêu".
Trong hai thông số cân nặng và chiều cao, tôi thấy đa số các bậc phụ huynh Việt vẫn quan tâm "bề ngang" hơn là "bề dài" với các mối bận tâm: "Ăn gì để con tăng cân" hơn là "làm sao để con cao lớn". Một trong những lý do dẫn đến việc này, theo họ là vì gen ảnh hưởng. "Bố mẹ không cao, con thấp là chuyện bình thường".
Trong khi đó, tôi thuộc thế hệ 8X, vợ chồng tôi cao chưa đến 1m7, tôi cao 1m69, vợ tôi 1m6 nhưng con trai tôi lúc học lớp 9 đã cao 1m76. Ngay từ khi con còn nhỏ, vợ chồng tôi đã tìm tòi nhiều phương pháp để cứu vãn chiều cao của "thế hệ F2".
Nếu các bạn đến các trường cấp 2, 3 bây giờ, có thể nhận thấy trẻ ngày nay cao trên 1m7 không hiếm. Số trẻ cao chạm mốc 1m8 cũng không ít.
Tôi nghĩ để có kết quả này, ngoài việc phụ thuộc các yếu tố di truyền, khí hậu... thì đây là kết quả của dinh dưỡng, vận động và đặc biệt là sự quan tâm cải thiện chiều cao cho con của các bậc cha mẹ.
Tại lễ phát động chiến dịch Vì một kỷ nguyên cao khỏe diễn ra ở Hà Nội hôm 12/5, TS. BS Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, cho biết nam giới nước ta hiện đạt 168,1 cm và nữ giới cao 156,2 cm.
Bảng thống kê của mạng lưới NCD Risk Factor Collaboration xếp người Việt đứng thứ 153 trên tổng số 201 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thanh niên Việt Nam hiện còn thấp hơn khoảng 3 cm so với mức trung bình 171 cm của nam giới toàn cầu.
Tôi sống ở TP HCM, mỗi mùa nắng đến là tiền điện lại tăng vọt vì nhà dùng máy lạnh nhiều. Gần đây tôi còn lo hơn khi con trai hay bật điều hòa xuống 18 độ C để "trùm mền ngủ cho đã", có hôm đi ra ngoài còn quên tắt.
Nhà tôi có hai phòng trên lầu ít sử dụng, chỉ khi có người thân lên chơi mới dùng quạt. Tôi đang tính tận dụng lại máy lạnh cũ để lắp cho hai phòng này và đục tường, lắp một máy lạnh công suất lớn để làm mát chung hai phòng, với hy vọng tiết kiệm điện.
Nhưng tôi băn khoăn cách làm này có thực sự tiết kiệm điện không, hay lại tốn hơn?