Xã Trà Linh có đỉnh núi Ngọc Linh, nơi có diện tích trồng sâm Ngọc Linh rất lớn ở Đà Nẵng. Đến đây mùa này, khắp núi rừng cây thanh mai (còn gọi là dâu rừng, dâu rượu, người Xê Đăng gọi là trái muôil) đang vào mùa cho quả rộ chín mọng.
Nóc Tắk Xanh, thôn 3, xã Trà Linh, nơi có nhiều cây cho quả chín hồng hoặc ngả sang đỏ, trái khi hái xuống ăn có vị chua chua xen lẫn ngọt.
Có cây được người dân trồng ở vườn nhà, nhưng cũng có nhiều cây cổ thụ mọc tự nhiên ở đồi núi cao.
Mùa này, người Xê Đăng trèo lên cây hái quả đem về ăn, rồi biếu tặng người thân, bạn bè. Ngoài ra họ còn đem đến chợ bán hoặc đưa đến chợ phiên Trà Linh bán cho du khách gần xa thưởng thức.
Anh Hồ Văn Hát (30 tuổi, nóc Tắk Xanh, thôn 3, xã Trà Linh) cho biết quả này còn được đồng bào Xê Đăng gọi một cái tên khác là trái muôil.
Trái ăn có vị chua chua, ngọt ngọt, nhất là chấm với muối ớt ăn rất ngon. Thường thì cây trồng đến độ 3- 5 năm tuổi là cho quả. “Mùa quả chín rộ nhất từ tháng 4 – 5. Trên núi cũng có nhiều cây cổ thụ, mùa quả tầm tháng 6 mới chín rộ”, anh Hát kể.
Quả thanh mai ở Trà Linh khi chín thường ngả một màu hồng rất đẹp hoặc hơi đỏ, hơi khác với loại thanh mai ở miền núi phía bắc nước ta thường có màu đỏ sẫm hoặc tím đen khi chín.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Với chủ đề “Tinh hoa áo dài Việt - Sắc lụa sông Hàn”, Lễ hội Áo dài Đà Nẵng 2026 lần đầu tiên được thành phố tổ chức, hướng đến việc tôn vinh và lan tỏa giá trị áo dài trong đời sống đương đại.
Lễ hội diễn ra từ ngày 24 đến 26-4 tại nhiều không gian trung tâm thành phố Đà Nẵng và kết nối với đô thị cổ Hội An
Tại đêm khai mạc tối 24-4, các tiết mục trình diễn hát múa kết hợp thời trang áo dài đại diện cho các vùng miền, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một không gian nghệ thuật đặc sắc. Đồng thời, màn giới thiệu bộ sưu tập “Tinh hoa miền di sản” của nhà thiết kế Tuấn Nguyễn trên nền ca khúc “Dáng lụa Hà Đông”, mang đến nhiều cảm xúc cho khán giả.
Lễ hội là bước đi mới của Đà Nẵng trong cách tiếp cận áo dài, chuyển từ giá trị biểu trưng sang giá trị ứng dụng, đưa trang phục truyền thống từ không gian trình diễn đến gần hơn với đời sống thường nhật.
Qua đó, thành phố hướng tới xây dựng hình ảnh điểm đến văn hóa sáng tạo, thân thiện và giàu bản sắc, đồng thời khuyến khích cộng đồng, doanh nghiệp, nhà thiết kế và nghệ nhân cùng tham gia phát triển, quảng bá áo dài.
Bên cạnh lễ khai mạc, chuỗi hoạt động phong phú của lễ hội mang đến nhiều trải nghiệm cho người dân và du khách như diễu hành áo dài “Dấu ấn Đà Nẵng”, chương trình trình diễn “Hội An - Sắc màu của lụa”, không gian trải nghiệm và may đo tại chỗ, chương trình nghệ thuật “Hội tụ sông Hàn” diễn ra tại cầu Nguyễn Văn Trỗi...
Bà Nguyễn Thị Hội An - Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng - cho biết lễ hội hướng đến việc tiếp tục tôn vinh, bảo tồn và phát huy giá trị áo dài Việt Nam trong đời sống đương đại.
Thành phố cũng kỳ vọng từng bước xây dựng lễ hội trở thành hoạt động văn hóa thường niên mang bản sắc riêng, góp phần phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, thu hút du khách trong và ngoài nước. Đồng thời, đây cũng là dịp để khơi dậy niềm tự hào về di sản dân tộc, tạo không gian kết nối, sáng tạo giữa các nhà nghiên cứu, nghệ nhân, doanh nghiệp và cộng đồng.
Thông qua lễ hội, hình ảnh áo dài Việt Nam được kỳ vọng sẽ hiện diện sâu rộng hơn trong đời sống, từ trường học, công sở đến các hoạt động du lịch và giao lưu quốc tế, góp phần lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện đại.
Mỗi bộ áo dài mang một dấu ấn riêng, tái hiện nét đẹp văn hóa của từng vùng miền qua chất liệu, họa tiết. Tất cả tạo nên một bức tranh đầy màu sắc và đậm nét ... của phục truyền thống Việt Nam.
Du khách nước ngoài thích thú theo dõi buổi trình diễn áo dài - Ảnh: THANH NGUYÊN
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Mùa nước đổ tại ruộng bậc thang ở xã Mù Cang Chải, Lào Cai thường bắt đầu vào tháng 6 hằng năm, trùng thời gian những cơn mưa mùa hạ đổ xuống vùng cao.
Tại Sáng Nhù, nông dân đang tập trung làm đất để chuẩn bị cấy lúa. Trước khi các cơn mưa đổ xuống, họ cày ải, đắp bờ và dẫn nước từ các khe suối trên núi vào ruộng.
Mùa nước đổ tại ruộng bậc thang ở xã Mù Cang Chải, Lào Cai thường bắt đầu vào tháng 6 hằng năm, trùng thời gian những cơn mưa mùa hạ đổ xuống vùng cao.
Tại Sáng Nhù, nông dân đang tập trung làm đất để chuẩn bị cấy lúa. Trước khi các cơn mưa đổ xuống, họ cày ải, đắp bờ và dẫn nước từ các khe suối trên núi vào ruộng.
Do lượng nước phân bổ không đều giữa các tầng ruộng (ruộng có nước xen kẽ ruộng khô), người dân ở Sáng Nhù phải làm cuốn chiếu, nước dẫn đến đâu xuống giống đến đó.
Do lượng nước phân bổ không đều giữa các tầng ruộng (ruộng có nước xen kẽ ruộng khô), người dân ở Sáng Nhù phải làm cuốn chiếu, nước dẫn đến đâu xuống giống đến đó.
Ruộng bậc thang giúp tận dụng diện tích đất núi hẹp và đồi dốc, tạo ra một hệ thống tưới tối ưu và gia tăng năng suất nông nghiệp.
Vào mùa đổ ải, mặt nước của ruộng bậc thang phản chiếu nhiều màu sắc thiên nhiên, vàng nâu của bùn đất, tảo, xanh lá của mạ non, ánh sáng của bầu trời.
Ruộng bậc thang giúp tận dụng diện tích đất núi hẹp và đồi dốc, tạo ra một hệ thống tưới tối ưu và gia tăng năng suất nông nghiệp.
Vào mùa đổ ải, mặt nước của ruộng bậc thang phản chiếu nhiều màu sắc thiên nhiên, vàng nâu của bùn đất, tảo, xanh lá của mạ non, ánh sáng của bầu trời.
Giữa tháng 6, nhiếp ảnh gia Phạm Đối, sống tại Hải Phòng, ghé thăm Mù Cang Chải một tuần, ghi lại cảnh nước đổ về các triền ruộng, người dân vào vụ cấy mới.
Điểm đầu tiên anh Phạm Đối ghé là ruộng bậc thang ở bản Kim Nọi, cách chợ trung tâm Mù Cang Chải 8 km.
"Địa điểm này lý tưởng để săn bình minh", nam nhiếp ảnh gia nói.
Khung cảnh khiến nam nhiếp ảnh gia ấn tượng nhất trong chuyến săn mùa nước đổ là những thửa ruộng xếp lớp nhiều màu trên đồi Móng Ngựa ở bản Sáng Nhù (ảnh). Địa điểm này cách trung tâm Mù Cang Chải khoảng 2 km.
Giữa tháng 6, nhiếp ảnh gia Phạm Đối, sống tại Hải Phòng, ghé thăm Mù Cang Chải một tuần, ghi lại cảnh nước đổ về các triền ruộng, người dân vào vụ cấy mới.
Điểm đầu tiên anh Phạm Đối ghé là ruộng bậc thang ở bản Kim Nọi, cách chợ trung tâm Mù Cang Chải 8 km.
"Địa điểm này lý tưởng để săn bình minh", nam nhiếp ảnh gia nói.
Khung cảnh khiến nam nhiếp ảnh gia ấn tượng nhất trong chuyến săn mùa nước đổ là những thửa ruộng xếp lớp nhiều màu trên đồi Móng Ngựa ở bản Sáng Nhù (ảnh). Địa điểm này cách trung tâm Mù Cang Chải khoảng 2 km.
So với năm trước, lượng nước năm nay đổ về ruộng không đều, bà con vừa cấy vừa chờ nước.
"Nhiều người sốt ruột vì bây giờ họ đi làm công ty ở miền xuôi, phải xin nghỉ một tuần về đi cấy", anh Đối nói.
Tại xã Púng Luông (La Pán Tẩn cũ), bà con bắt đầu gieo mạ từ giữa tháng 6 (ảnh).
So với năm trước, lượng nước năm nay đổ về ruộng không đều, bà con vừa cấy vừa chờ nước.
"Nhiều người sốt ruột vì bây giờ họ đi làm công ty ở miền xuôi, phải xin nghỉ một tuần về đi cấy", anh Đối nói.
Tại xã Púng Luông (La Pán Tẩn cũ), bà con bắt đầu gieo mạ từ giữa tháng 6 (ảnh).
Ruộng bậc thang La Pán Tẩn nằm trên sườn núi Khau Phạ, cách trung tâm Mù Cang Chải 15-20 km. Khu vực này ở độ cao gần 2.000 m so với mực nước biển, thuộc vùng lõi danh thắng quốc gia.
Ruộng bậc thang La Pán Tẩn nằm trên sườn núi Khau Phạ, cách trung tâm Mù Cang Chải 15-20 km. Khu vực này ở độ cao gần 2.000 m so với mực nước biển, thuộc vùng lõi danh thắng quốc gia.
Một điểm dừng khác trong chuyến ngắm mùa đổ ải ở vùng cao của anh Phạm Đối là ruộng bậc thang ở xã Lao Chải. Khu vực này nằm cách trung tâm Mù Cang Chải 10-12 km về phía tây.
Du khách có thể lưu trú tại các nhà nghỉ, khách sạn tại trung tâm Mù Cang Chải hoặc các homestay tại các bản như Thái, Lìm Mông, La Pán Tẩn.
Một điểm dừng khác trong chuyến ngắm mùa đổ ải ở vùng cao của anh Phạm Đối là ruộng bậc thang ở xã Lao Chải. Khu vực này nằm cách trung tâm Mù Cang Chải 10-12 km về phía tây.
Du khách có thể lưu trú tại các nhà nghỉ, khách sạn tại trung tâm Mù Cang Chải hoặc các homestay tại các bản như Thái, Lìm Mông, La Pán Tẩn.
Theo quan sát của anh Đối, đa phần cảnh quan ruộng bậc thang tại Lao Chải có địa hình như nhau, chồng tầng và bao quanh là đồi núi chập chùng. Thời gian này mưa nhiều, việc di chuyển giữa các điểm vùng cao không thuận tiện, xuất hiện nhiều điểm sạt lở trên sườn núi.
"Xe và người có thể ngã nhào bất cứ lúc nào", anh Đối cho biết.
Theo quan sát của anh Đối, đa phần cảnh quan ruộng bậc thang tại Lao Chải có địa hình như nhau, chồng tầng và bao quanh là đồi núi chập chùng. Thời gian này mưa nhiều, việc di chuyển giữa các điểm vùng cao không thuận tiện, xuất hiện nhiều điểm sạt lở trên sườn núi.
"Xe và người có thể ngã nhào bất cứ lúc nào", anh Đối cho biết.
Mặt ruộng ngập nước tạo thành những ''tấm gương khổng lồ'' phản chiếu mây trời, xen lẫn màu xanh của mạ non.
Mặt ruộng ngập nước tạo thành những ''tấm gương khổng lồ'' phản chiếu mây trời, xen lẫn màu xanh của mạ non.
Khi đến Mù Cang Chải vào mùa nước đổ, du khách từ Hà Nội có thể đặt xe khách giường nằm đến trung tâm thị trấn, sau đó thuê xe máy hoặc dịch vụ xe ôm bản địa để di chuyển giữa các địa điểm, cách nhau 15-20 km.
Du khách nên chuẩn bị giày có độ bám tốt, áo mưa, túi chống nước cho thiết bị điện tử và theo dõi dự báo thời tiết hằng ngày để cập nhật các vị trí sạt lở trên sườn núi.
Khi đến Mù Cang Chải vào mùa nước đổ, du khách từ Hà Nội có thể đặt xe khách giường nằm đến trung tâm thị trấn, sau đó thuê xe máy hoặc dịch vụ xe ôm bản địa để di chuyển giữa các địa điểm, cách nhau 15-20 km.
Du khách nên chuẩn bị giày có độ bám tốt, áo mưa, túi chống nước cho thiết bị điện tử và theo dõi dự báo thời tiết hằng ngày để cập nhật các vị trí sạt lở trên sườn núi.
Tin Gốc: Vnexpress

Có những vùng đất lớn lên từ lớp lớp phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm, từ những mùa nước nổi và từ sự nhẫn nại của con người sống giữa bốn bề sông nước. Cù Lao Giêng (tỉnh An Giang) là một vùng đất như thế.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, xã Cù Lao Giêng hôm nay có diện tích tự nhiên gần 69km² với hơn 70.000 dân sinh sống hoàn toàn trên dải cù lao nằm giữa sông Tiền. Bốn bề sông nước vừa tạo nên vẻ biệt lập đặc trưng, vừa hình thành nên một không gian văn hóa, sinh kế và đời sống rất riêng của cư dân miền Tây Nam Bộ.
Hàng thế kỷ qua, dòng phù sa đỏ nặng từ thượng nguồn vẫn lặng lẽ bồi đắp cho vùng đất này những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum suê và cả một nếp sống đặc trưng của cư dân miền sông nước. Nhưng nếu chỉ nhìn Cù Lao Giêng hôm nay qua những vườn xoài trĩu quả hay những tuyến đường bê tông rộng mở thì vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của vùng đất này.
Bởi trước khi trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang, nơi đây từng là một xứ lúa nghèo giữa sông Tiền, nơi cuộc sống của nhiều thế hệ người dân gắn với ruộng đồng, mùa nước nổi và những chuyến xuồng ghe xuôi ngược theo con nước.
Người già ở Cù Lao Giêng vẫn nhớ rất rõ hình ảnh của những cánh đồng ngày trước. Khi ấy, quanh cù lao gần như là ruộng lúa nối tiếp nhau. Mùa nước nổi về, phù sa phủ lên mặt ruộng một lớp màu mỡ, người dân xuống giống rồi chờ ngày gặt hái. Nhà nào cũng sống nhờ đất. Có người làm thêm nghề chài lưới, bắt cá trên sông, nhưng cái gốc của cuộc sống vẫn là cây lúa.
Những buổi sáng trên cù lao ngày ấy bắt đầu bằng tiếng người gọi nhau ra đồng, mùi rơm mới, tiếng máy suốt lúa vọng giữa cánh đồng còn đẫm hơi sương. Cuộc sống tuy nghèo nhưng bình yên theo cách rất riêng của miền Tây.
Người dân khi đó không nghĩ nhiều đến những khái niệm lớn lao như phát triển hay hội nhập. Điều họ mong mỏi chỉ đơn giản là mùa màng đừng thất bát, nước đừng lên quá lớn và con cái có cơ hội học hành tốt hơn cha mẹ.
Ít ai biết rằng Cù Lao Giêng cũng là một trong những vùng đất được khai phá khá sớm ở Nam Bộ. Từ thế kỷ XVIII, khi những đoàn lưu dân người Việt theo hành trình Nam tiến xuôi về phương Nam mở cõi, vùng đất giữa sông Tiền này đã dần hình thành những xóm làng đầu tiên.
Khi ấy, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang sơ với lau sậy, rừng rậm và những bãi bồi ngập nước. Những cư dân đầu tiên chủ yếu đến từ miền Trung và miền Bắc, mang theo tập quán trồng lúa nước, đào mương, đắp bờ và dựng xóm làng ven sông. Họ sống nhờ phù sa, nhờ con nước và mở đất bằng chính đôi tay mình.
Suốt hàng trăm năm, phù sa sông Tiền không chỉ bồi đắp nên ruộng đồng màu mỡ mà còn tạo nên chiều sâu văn hóa rất riêng cho vùng cù lao này. Dòng họ Nguyễn Tộc ở Cù Lao Giêng đến nay vẫn gìn giữ tục thờ Ba quan thượng đẳng - những bậc tiền nhân được vua Gia Long truy phong danh hiệu cao quý để ghi nhận công lao mở đất và giữ gìn xóm làng.
Mảnh đất phù sa ấy cũng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng - một trong những bác sĩ tiêu biểu của nền y học cách mạng Việt Nam, và cố Bộ trưởng Ung Văn Khiêm - nhà ngoại giao nổi bật trong giai đoạn đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng.
Người dân nơi đây vẫn nhắc về họ bằng niềm tự hào của một vùng đất nhỏ nhưng đã góp phần làm nên những con người mang tầm vóc quốc gia.
Điều đặc biệt của Cù Lao Giêng không chỉ nằm ở lịch sử khai phá hay những mùa trái ngọt, mà còn ở chiều sâu văn hóa hiếm nơi nào ở miền Tây còn giữ được nguyên vẹn như vậy.
Từ cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây đã đến đây truyền giáo, xây dựng nhà thờ, trường học và bệnh viện.
Đến nay, Nhà thờ Cù Lao Giêng vẫn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính nhất Nam Kỳ còn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc châu Âu cổ.
Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng phủ xuống những bức tường vàng cũ kỹ và tiếng chuông ngân lên giữa hàng cây cổ thụ, không gian nơi đây khiến người ta có cảm giác như thời gian đang trôi chậm lại.
Nhưng Cù Lao Giêng không chỉ có Công giáo. Trên cùng một dải cù lao nhỏ, đình thần chùa chiềng và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại suốt hàng trăm năm như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.
Chùa Ông Đạo Nằm gắn với câu chuyện tu hành khổ hạnh của Hòa thượng Tịnh Nghiêm, còn Chùa Chim gây ấn tượng với quần thể tượng Phật quy mô lớn giữa không gian sông nước thanh tịnh.
Không ngại đường xa, khách hành hương vẫn tìm về nơi này mỗi ngày. Anh Văn Thắng, một du khách đến từ Tân Châu, chia sẻ rằng đây đã là lần thứ ba anh đưa gia đình đến Cù Lao Giêng để cầu an và vãn cảnh.
"Không gian ở đây rất thanh tịnh, yên bình và có cảm giác khác hẳn nhiều nơi khác. Đến đây thấy lòng nhẹ lại", anh nói.
Không chỉ có chiều sâu văn hóa, Cù Lao Giêng còn đang mở ra hướng đi mới bằng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ở nơi này, thiên nhiên, kiến trúc và ký ức làng quê hòa quyện với nhau theo cách rất tự nhiên.
Khu du lịch sinh thái Cồn Én là một trong những điểm đến tiêu biểu. Không gian nơi đây tái hiện ký ức miền quê bằng chất liệu gỗ lũa, những mái nhà mộc mạc và cảnh quan gần như giữ nguyên vẻ nguyên sơ của vùng sông nước.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc điều hành khu du lịch, cho biết đơn vị đang hướng đến mở rộng dịch vụ lưu trú, đầu tư thêm các hoạt động trải nghiệm để phục vụ khách quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo chị, du khách tìm đến Cù Lao Giêng không phải để tìm sự náo nhiệt mà để tìm sự bình yên, cảm giác được sống chậm giữa miền quê còn giữ nguyên bản sắc.
"Du lịch ở Cù Lao Giêng vì thế cũng không đi theo hướng đô thị hóa ồn ào. Người ta tìm đến nơi này vì những con đường nhỏ chạy dọc bờ sông, vì tiếng chuông chùa buổi chiều, vì những khu vườn xanh rợp bóng và vì cảm giác được trở về một miền Tây cũ kỹ nhưng đầy sức sống".
Dẫu vậy, gốc rễ của Cù Lao Giêng vẫn là nông nghiệp. Và sự chuyển mình lớn nhất của vùng đất này bắt đầu khi người dân nhận ra đất phù sa nơi đây đặc biệt phù hợp với cây xoài.
Ban đầu chỉ vài hộ chuyển đổi từ đất lúa sang cây ăn trái. Nhưng rồi từ những khu vườn nhỏ lẻ, cây xoài dần phủ xanh cả cù lao. Những cánh đồng lúa năm nào lần lượt nhường chỗ cho những vườn xoài trải dài đến tận mé sông.
Đến nay, Cù Lao Giêng đã trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang với gần 5.000ha. Trên hơn 4.300ha đất sản xuất, phần lớn diện tích hiện là cây ăn trái với nhiều vùng trồng được cấp mã số xuất khẩu và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.
Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng thành lập năm 2020 được xem là bước ngoặt lớn của nông nghiệp địa phương. Anh Nguyễn Minh Hiền – Chủ tịch HTX cho biết xoài Cù Lao Giêng có ưu thế nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, giúp trái xoài có độ bóng đẹp và chất lượng cao hơn nhiều nơi khác.
"Từ trước tới nay, xoài Cù Lao Giêng luôn được thị trường đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng. Khi làm theo quy trình VietGAP, GlobalGAP và có mã số vùng trồng, trái xoài đi được vào các thị trường khó tính hơn, đầu ra cũng ổn định hơn cho nông dân", anh Hiền nói.
Từ một vùng sản xuất nhỏ lẻ, xoài nơi đây giờ đã xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Hiện HTX có hơn 50 thành viên chính thức cùng hàng trăm hộ liên kết sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.
Không chỉ có cây trái, nghề nuôi cá bè cũng phát triển mạnh với hơn 1.000 lồng bè nuôi cá tra và cá diêu hồng, cho sản lượng khoảng 3.600 tấn mỗi năm. Những bè cá nối dài trên sông cùng các vườn xoài xanh ngút mắt đang tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng cù lao giữa sông Tiền.
Sự đổi thay ấy hiện diện rõ nhất trong cuộc sống của người dân. Ông Lê Ngọc Bia, năm nay 71 tuổi, vẫn nhớ những năm tháng vợ chồng ông phải bán bún tươi, bán trứng vịt để nuôi hai con ăn học.
"Ngày đó cực lắm, chỉ mong đủ tiền cho con học hết phổ thông", ông kể.
Giờ đây, con trai lớn của ông đã là giáo viên, người con út làm việc trong doanh nghiệp thủy sản, cuộc sống gia đình cũng ổn định hơn sau hàng chục năm chắt chiu từ đất.
Ông Phạm Văn Khang cũng từng bắt đầu chỉ với hai công ruộng, một chiếc xuồng nhỏ đánh cá và một con bò cái gây giống. Sau nhiều năm tích cóp, ông đã dựng được căn nhà mới khang trang bên con đường ven sông.
Những câu chuyện như vậy không hiếm ở Cù Lao Giêng, bởi sự đổi thay nơi đây không đến từ những dự án đồ sộ mà đến từ từng gia đình, từng khu vườn và từng mùa trái ngọt.
Suốt nhiều năm, yếu tố địa lý sông nước từng khiến Cù Lao Giêng gặp không ít khó khăn trong phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục và đời sống dân sinh. Nhưng từ khi chính thức được công nhận là xã đảo của tỉnh An Giang, vùng đất này bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Danh xưng "xã đảo" không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn mở ra nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế và an sinh xã hội. Người dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận vốn ưu đãi và các chương trình giảm nghèo.
Đặc biệt, toàn bộ cư dân trên địa bàn được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế - một chính sách được người dân xem là rất thiết thực đối với một vùng còn nhiều lao động nông nghiệp và lao động tự do.
Theo ông Võ Minh Nâng – Bí thư Đảng uỷ xã Cù Lao Giêng, trong nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đặt mục tiêu phát triển toàn diện trên nền tảng kinh tế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Cù Lao Giêng sẽ lấy nông nghiệp công nghệ cao và đặc sản xoài làm trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Chiều xuống trên sông Tiền, nắng cuối ngày phủ vàng những vườn xoài trải dài ven sông. Cuộc sống ở Cù Lao Giêng hôm nay đã khác rất nhiều so với thời chỉ sống bằng ruộng lúa và những mùa nước nổi. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, người trẻ có thêm cơ hội học hành và làm ăn, du lịch bắt đầu tìm đến, nông nghiệp bước vào hành trình chuyển đổi mới.
Nhưng giữa tất cả những đổi thay ấy, vùng đất này vẫn giữ được điều quý nhất: tinh thần của một miền Tây sống nhờ phù sa, nhờ đất và nhờ sự bền bỉ của con người.
Và có lẽ, đó mới chính là vẻ đẹp sâu nhất của Cù Lao Giêng hôm nay - một xã đảo đang bước vào tương lai mới nhưng vẫn giữ nguyên hồn vía của miền sông nước Nam Bộ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

