Đây không còn là câu chuyện giáo dục, mà là bài toán tương lai quốc gia. Vì thế nếu chỉ hiểu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu nâng cấp một vài đại học hay cải thiện chất lượng đào tạo, có lẽ vẫn chưa chạm tới bản chất vấn đề. Điều thực sự được đặt ra là một yêu cầu chiến lược: VN phải tái định nghĩa vai trò của đại học trong mô hình phát triển quốc gia mới.
Từ mô hình Humboldt thế kỷ 19, đại học hiện đại không còn là nơi chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và dẫn dắt tư tưởng. Tuy nhiên, trong phần lớn quá trình phát triển của mình, giáo dục đại học VN chủ yếu được nhìn như nơi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.
Nhưng trong thế kỷ 21, dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và cạnh tranh địa chính trị – công nghệ, đại học đã trở thành hạ tầng chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quốc gia nào sở hữu các trung tâm sản sinh tri thức, công nghệ lõi và tinh hoa dẫn dắt sẽ làm chủ chuỗi giá trị. Quốc gia nào tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, gia công và nhập khẩu công nghệ sẽ tiếp tục ở vị trí thấp trong trật tự phát triển mới. Đó không còn là cảnh báo. Đó là thực tế đang diễn ra.
Nhiều năm qua, đại học VN phát triển nhanh về quy mô: số trường tăng, sinh viên tăng, công bố quốc tế cải thiện. Nhưng nếu nhìn thẳng vào năng lực tạo công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hay đóng góp cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học, khoảng cách của đại học VN với các đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á vẫn còn xa.
Điểm yếu lớn nhất của đại học VN không phải thiếu trường, mà thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Nhiều trường hiện vẫn vận hành như cơ sở đào tạo mở rộng quy mô hơn là trung tâm tạo tri thức mới. Thành công nhiều khi vẫn được đo bằng số lượng tuyển sinh, số ngành mở mới hay số lượng bài báo được đong đếm cơ học, thay vì năng lực giải quyết những bài toán phát triển của đất nước và năng lực tạo ra công nghệ có giá trị thực.
Đại học VN đang mạnh về bài báo nhưng còn rất yếu về bằng sáng chế quốc tế; nếu so sánh về số lượng bằng sáng chế quốc tế với các đại học trong khu vực, thì sự hiện diện của các đại học VN trên bản đồ sở hữu trí tuệ công nghệ toàn cầu vẫn còn mờ nhạt.
Đó là khoảng cách đáng lo.
Trong khi đó, mô hình đại học thế giới đã thay đổi rất nhanh. Đại học Stanford góp phần tạo ra Thung lũng Silicon, MIT trở thành trung tâm kết nối công nghệ – quốc phòng – công nghiệp của Mỹ. Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đang đóng vai trò trung tâm trong chiến lược công nghệ và AI của Trung Quốc. NUS là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Singapore.
Họ không chỉ đào tạo nhân lực, mà họ còn tham gia tạo tương lai quốc gia.
Điều đáng suy nghĩ hơn là AI đang làm thay đổi tận gốc mô hình đại học truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tri thức phổ thông không còn chủ yếu nằm trong giảng đường hay thư viện đại học; đại học đứng trước nguy cơ mất độc quyền tri thức, nền tảng quyền lực quan trọng của mình.
Khi tri thức phổ thông trở nên gần như miễn phí nhờ AI, giá trị của đại học sẽ không còn nằm ở việc truyền đạt cái đã biết, mà ở khả năng tạo ra cái chưa ai biết; không phải đào tạo những con người làm theo quy trình, mà đào tạo những người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo công nghệ và dẫn dắt xã hội trong môi trường đầy bất định.
Nếu không chuyển đổi kịp, nhiều đại học có thể tụt hậu ngay trong chính chức năng truyền thống của mình.
Nhưng thách thức lớn nhất của đại học VN hiện nay không đơn thuần là tiền bạc hay cơ sở vật chất. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở mô hình quản trị và tư duy phát triển. Bởi lẽ, một đại học nghiên cứu đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ chuyển giao công nghệ. Sứ mệnh tối cao của nó là trở thành chiếc nôi đào tạo và hình thành các tầng lớp tinh hoa, từ khoa học, công nghệ đến quản trị chính sách và doanh nghiệp, những bộ óc đủ tầm dẫn dắt tương lai quốc gia.
Tinh thần của đại học nghiên cứu là tự do học thuật, tranh luận và chấp nhận rủi ro sáng tạo.
Nhưng mô hình quản lý hiện nay lại thiên về kiểm soát, cào bằng và an toàn. Chúng ta muốn đại học đổi mới sáng tạo, nhưng lại vận hành bằng tư duy của một đơn vị sự nghiệp hành chính.
Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin – cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Không thể có nghiên cứu đột phá nếu môi trường học thuật thiếu phản biện thực chất và cạnh tranh học thuật đúng nghĩa.
Không thể thu hút nhân tài toàn cầu hay các nhà khoa học VN hàng đầu trở về nếu cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và hợp tác quốc tế vẫn chậm chạp, khép kín và thiếu chuẩn quốc tế.
Điều đáng mừng là lần đầu tiên, VN đặt khoa học – công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia. Chủ trương dành 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo và khoảng 2% GDP cho khoa học – công nghệ là một quyết định lớn, cho thấy tư duy phát triển quốc gia đã thay đổi.
Nhưng nguồn lực dù lớn đến đâu cũng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là dám thay đổi mô hình phát triển đại học.
VN không cần thêm những đại học lớn về quy mô. VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia. Muốn vậy, phải chấp nhận cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia: tự trị học thuật thực chất, cạnh tranh nhân tài toàn cầu và mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế.
Cần nhìn nhận đúng định nghĩa: tự chủ đại học tuyệt đối không phải là sự đánh đồng với việc Nhà nước “khoán tài chính” để đại học tự lo trong bài toán tăng học phí, mà đó là một cam kết thể chế: Nhà nước tiếp tục đầu tư trọng điểm, chiến lược nhưng kiên quyết buông bỏ tư duy kiểm soát hành chính, trao lại quyền tự trị học thuật thực chất cho giảng đường.
Nếu không hình thành được ít nhất vài đại học nghiên cứu đủ mạnh trong 15-20 năm tới, VN có nguy cơ tiếp tục đứng ở vị trí gia công công nghệ và phụ thuộc tri thức trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay cả khi có thêm vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại.
Điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra với Đại học Quốc gia Hà Nội thực chất là một yêu cầu chiến lược đối với tương lai VN: phải hình thành những “đầu tàu trí tuệ” đủ sức dẫn dắt công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.
Trong thế kỷ 21, khoảng cách giữa các quốc gia sẽ ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức và công nghệ. Vì vậy, cải cách đại học không còn là câu chuyện riêng của ngành giáo dục.
Muốn trở thành quốc gia phát triển, VN trước hết phải trở thành quốc gia có đại học nghiên cứu mạnh.
Hai Ngày hội Lựa chọn nguyện vọng xét tuyển đại học - cao đẳng năm 2026 sẽ diễn ra tại Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP.HCM) và Đại học Bách khoa Hà Nội. Chương trình do báo Tuổi Trẻ phối hợp với Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) tổ chức với sự đồng hành của Tập đoàn Vingroup.
Dự kiến, Bộ GD-ĐT sẽ công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào sáng 1-7. Ngay sau đó, từ ngày 2 đến 17h ngày 14-7, thí sinh sẽ chính thức đăng ký, điều chỉnh và bổ sung nguyện vọng trực tiếp trên hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia.
Đây cũng là giai đoạn khiến nhiều thí sinh và phụ huynh áp lực nhất sau kỳ thi tốt nghiệp THPT, đặc biệt trong bối cảnh quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 có nhiều thay đổi lớn.
Việc các trường điều chỉnh phương thức xét tuyển, quy đổi điểm cùng những quy định mới về đăng ký và sắp xếp nguyện vọng khiến không ít thí sinh lo lắng.
Chỉ một thao tác thêm, bớt hay thay đổi thứ tự nguyện vọng trên hệ thống cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội trúng tuyển. Trong khi đó, theo quy định, mỗi thí sinh chỉ trúng tuyển vào nguyện vọng cao nhất đủ điều kiện nên việc lựa chọn ngành học và sắp xếp nguyện vọng phù hợp càng trở nên quan trọng.
Theo ban tổ chức, đó cũng là lý do Ngày hội Lựa chọn nguyện vọng xét tuyển đại học - cao đẳng năm 2026 của báo Tuổi Trẻ được tổ chức diễn ra chỉ sau ba ngày công bố điểm thi tốt nghiệp THPT và bắt đầu thời gian đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng.
Ngày hội được kỳ vọng sẽ giúp thí sinh và phụ huynh kịp thời cập nhật thông tin tuyển sinh mới nhất, nghe tư vấn trực tiếp từ chuyên gia để hiểu rõ hơn về chọn ngành, chọn trường trong bối cảnh tuyển sinh ngày càng đa dạng phương thức, đồng thời tự tin hơn trước thời điểm "chốt" nguyện vọng trên hệ thống.
Những ngày sau kỳ thi tốt nghiệp THPT cũng là lúc nhiều học sinh bắt đầu căng thẳng với bài toán chọn ngành, chọn trường và sắp xếp nguyện vọng.
Nguyễn Minh Anh, học sinh lớp 12 tại TP.HCM, cho biết em đang phân vân giữa ngành truyền thông và marketing vì thích cả hai lĩnh vực nhưng chưa hiểu rõ khác biệt về chương trình đào tạo và cơ hội việc làm. "Em nghe nói nếu sắp xếp nguyện vọng không hợp lý có thể mất cơ hội vào ngành mình thích. Em muốn đến ngày hội để được tư vấn kỹ hơn trước khi đăng ký", Minh Anh chia sẻ.
Trong khi đó, chị Lê Thu Hà - phụ huynh có con học lớp 12 tại Hà Nội - cho biết gia đình đặc biệt quan tâm đến các thông tin về học phí, học bổng và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp. "Hiện nay trường nào cũng có nhiều phương thức xét tuyển nên phụ huynh rất khó theo dõi. Tôi muốn nghe tư vấn trực tiếp từ các trường để hiểu rõ hơn trước khi cùng con quyết định", chị Hà nói.
Theo ban tổ chức, đây cũng là tâm lý chung của nhiều phụ huynh và học sinh trong mùa tuyển sinh năm nay khi các phương thức xét tuyển ngày càng đa dạng, từ điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, đánh giá năng lực đến xét tuyển tổng hợp. Đáng chú ý, mùa tuyển sinh 2026 có thêm nhiều thay đổi quan trọng trong quy chế tuyển sinh.
Theo quy định mới, để được tham gia xét tuyển đại học, thí sinh tốt nghiệp THPT năm 2026 phải đạt tối thiểu 15/30 điểm với tổ hợp ba môn xét tuyển trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Trường hợp sử dụng điểm toán, ngữ văn và một môn thi khác để xét tuyển cũng áp dụng mức sàn này (trừ thí sinh thuộc diện đặc cách hoặc được miễn thi tốt nghiệp).
Trong bối cảnh quy định mới và số lượng phương thức xét tuyển ngày càng nhiều, chỉ cần đăng ký hoặc sắp xếp nguyện vọng thiếu hợp lý, thí sinh hoàn toàn có thể trượt ngành mong muốn dù điểm thi không thấp.
Tại hai ngày hội, các chuyên gia tuyển sinh từ Bộ GD-ĐT và đại diện nhiều trường đại học sẽ trực tiếp giải đáp những vấn đề thí sinh quan tâm nhất như cách đăng ký nguyện vọng trên hệ thống; nguyên tắc sắp xếp thứ tự nguyện vọng; chiến lược tăng khả năng trúng tuyển; quy đổi điểm giữa các phương thức; lựa chọn ngành học phù hợp năng lực và xu hướng việc làm.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), hệ thống hỗ trợ tuyển sinh của bộ năm nay tiếp tục thực hiện đơn giản hóa việc đăng ký xét tuyển.
Tất cả các thí sinh đăng ký xét tuyển theo mã xét tuyển của ngành/chương trình đào tạo (không đăng ký chi tiết đến các phương thức xét tuyển/tổ hợp xét tuyển). Thông tin đăng ký xét tuyển bao gồm thứ tự nguyện vọng, mã trường và tên cơ sở đào tạo, mã xét tuyển.
Trong khi các chuyên gia tuyển sinh lưu ý sự khác biệt giữa đăng ký nguyện vọng trên hệ thống riêng của các trường và hệ thống xét tuyển chung của Bộ GD-ĐT là điểm thí sinh bắt buộc phải nắm rõ.
Theo ThS Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng tuyển sinh và công tác sinh viên Trường ĐH Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM), hệ thống của bộ là nơi duy nhất để thí sinh sắp xếp thứ tự và xác nhận nguyện vọng.
"Mỗi thí sinh chỉ trúng tuyển một nguyện vọng theo nguyên tắc xét từ trên xuống và dừng lại khi đã trúng tuyển. Vì vậy thí sinh cần đặt ngành, trường mong muốn ở vị trí ưu tiên cao nhất và kiểm tra chính xác mã trường, mã ngành trước khi bấm xác nhận.
Trong thời gian quy định, thí sinh được điều chỉnh không giới hạn số lần nhưng phải xác nhận lại sau mỗi lần thay đổi. Đồng thời cần nộp lệ phí đúng hạn và xác nhận nhập học khi trúng tuyển, nếu không kết quả sẽ không được công nhận", ông Tiến lưu ý.
TS Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng đào tạo Trường đại học Công nghiệp TP.HCM - cho rằng nhiều thí sinh hiện nay vẫn có tâm lý đăng ký theo "trào lưu" hoặc chọn ngành chỉ vì điểm chuẩn cao. "Điều quan trọng nhất là thí sinh phải hiểu năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp của bản thân. Việc gặp trực tiếp giảng viên, chuyên gia tại ngày hội sẽ giúp học sinh có thêm dữ liệu thực tế thay vì chọn ngành theo cảm tính", ông Nhân nói.
Chiều 8.4, Trường ĐH Ngoại thương đã chính thức công bố thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026. Điểm mới đáng chú ý nhất trong mùa tuyển sinh sắp tới là việc nhà trường chính thức sử dụng kết quả bài thi đánh giá tư duy (TSA) do ĐH Bách khoa Hà Nội tổ chức và mở mới nhiều ngành đào tạo, trong đó có các ngành thuộc nhóm ngành về công nghệ.
Năm 2026, tổng chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học chính quy của Trường ĐH Ngoại thương dự kiến là 4.540 chỉ tiêu, tăng 370 chỉ tiêu so với năm ngoái. Trong đó, cơ sở tại Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn nhất với 3.490 chỉ tiêu, cơ sở tại TP.HCM tuyển 950 chỉ tiêu, cơ sở tại Quảng Ninh tuyển 100 chỉ tiêu.
Đáng chú ý, từ năm 2026, Trường ĐH Ngoại thương sẽ mở mới 10 ngành đào tạo, tập trung vào lĩnh vực công nghệ, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo như: trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, công nghệ tài chính, kinh tế số và phân tích dữ liệu… Song song đó, nhà trường cũng phát triển 3 ngành đào tạo từ các chương trình hiện có và mở thêm 1 chương trình đào tạo mới thuộc ngành đã có.
Với các ngành khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, nhà trường sẽ sử dụng thêm phương thức sử dụng kết quả kỳ thi đánh giá tư duy TSA (do ĐH Bách khoa tổ chức) để xét tuyển.
Về phương thức tuyển sinh, Trường ĐH Ngoại thương vẫn giữ ổn định với 4 phương thức gồm: xét tuyển thẳng theo quy chế của Bộ GD-ĐT; sử dụng kết quả học tập THPT khi đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng của nhà trường (với điểm sàn là 24, xét theo tổng điểm tổ hợp 3 môn thi tốt nghiệp THPT 2026); kết quả thi tốt nghiệp THPT 2026; sử dụng chứng chỉ đánh giá năng lực, đánh giá tư duy trong nước và đánh giá năng lực quốc tế.
Riêng với phương thức tuyển thẳng, thí sinh cần lưu ý là năm nay Trường ĐH Ngoại thương không tuyển thẳng những em đạt trong các hội thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, cấp quốc tế. Những thí sinh này có nội dung dự thi được hội đồng tuyển sinh Trường ĐH Ngoại thương đánh giá là phù hợp với tổ hợp xét tuyển chỉ được cộng điểm thưởng giải tương ứng các loại giải theo quy định của nhà trường.
Nhân sự kiện Hội thảo khoa học quốc gia CTST 2026 diễn ra vào ngày 16.5.2026 tại Trường đại học Giao thông vận tải TP.HCM (UTH), phóng viên Báo Nhân Dân đã trao đổi với PGS-TS Nguyễn Tiến Thủy - Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng UTH xung quanh vấn đề này.
Thưa ông, điểm nhấn nổi bật nhất của CTST 2026 năm nay là gì?
PGS-TS Nguyễn Tiến Thủy: Điểm nhấn quan trọng nhất của CTST 2026 là tăng cường kết nối giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ với nhu cầu phát triển hạ tầng trọng điểm của đất nước. Việt Nam đang ở giai đoạn then chốt trong phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, từ đường sắt tốc độ cao, metro đến logistics cảng biển, giao thông thông minh và hạ tầng số.
Hội thảo không chỉ là diễn đàn học thuật, mà còn là cầu nối giữa nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Trọng tâm không dừng ở công bố kết quả nghiên cứu, mà hướng tới thúc đẩy ứng dụng vào các công trình, dự án cụ thể, phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển quốc gia.
Các nghiên cứu tại hội thảo có thể đóng góp cụ thể gì cho những dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, metro hay logistics?
Vai trò của nghiên cứu là rất cụ thể và xuyên suốt. Trong lĩnh vực đường sắt, các nghiên cứu có thể hỗ trợ từ quy hoạch tuyến, thiết kế nhà ga, xử lý nền đất yếu, đến tổ chức thi công, vận hành và bảo trì. Đặc biệt, yêu cầu làm chủ công nghệ cốt lõi là rất cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị triển khai các dự án quy mô lớn.
Với logistics, nghiên cứu góp phần tối ưu hóa vận tải đa phương thức, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm chi phí. Những hướng như số hóa logistics cảng biển, kho bãi thông minh hay phân tích dữ liệu lớn sẽ là chìa khóa.
Quan trọng hơn, các nghiên cứu không dừng ở mô hình hay bài báo, mà phải đi vào thực tiễn vận hành, giải quyết các bài toán cụ thể của doanh nghiệp và địa phương.
Với vai trò là đơn vị tổ chức, Trường đại học Giao thông vận tải TP.HCM đang định vị mình như thế nào trong hệ sinh thái nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hiện nay?
Trước yêu cầu phát triển các lĩnh vực trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, logistics hiện đại, giao thông thông minh và các ứng dụng kinh tế tầm thấp phục vụ quản lý, khai thác, giám sát hạ tầng đô thị, Nhà trường xác định vai trò là "ba điểm kết nối".
Thứ nhất, kết nối đào tạo với nhu cầu nhân lực mới, cấp thiết của quốc gia, thông qua chủ động cập nhật chương trình, tăng cường thực hành tại doanh nghiệp, năng lực số, ngoại ngữ và tư duy hệ thống cho người học.
Thứ hai, kết nối nghiên cứu với thực tiễn, hướng các đề tài vào những bài toán cụ thể về kỹ thuật, quản lý, vận hành và chính sách từ doanh nghiệp, địa phương và các dự án lớn.
Thứ ba, kết nối nguồn lực để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thông qua hợp tác trong nước và quốc tế, phát triển phòng thí nghiệm liên kết trọng điểm quốc gia, nhóm nghiên cứu mạnh và năng lực chuyển giao công nghệ.
Chúng tôi hướng tới trở thành trung tâm khoa học công nghệ giao thông vận tải theo định hướng ứng dụng, gắn chặt với nhu cầu phát triển đất nước.
Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất khiến nhiều nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải chưa đi vào thực tiễn và hội thảo lần này có thể góp phần thu hẹp khoảng cách đó ra sao?
Rào cản lớn nhất là sự kết nối giữa nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn chưa đủ chặt chẽ. Nhiều đề tài còn xuất phát từ logic học thuật hơn là từ bài toán thực tế, nên khó chuyển hóa thành giải pháp ứng dụng. Bên cạnh đó là thiếu cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Một điểm nữa là cách đánh giá kết quả nghiên cứu còn nặng về số lượng công bố, chưa chú trọng đầy đủ đến giá trị ứng dụng.
CTST 2026 kỳ vọng sẽ thúc đẩy các nghiên cứu đi vào thí điểm, ứng dụng và kiểm chứng trong thực tế, qua đó tạo ra giá trị thiết thực cho phát triển ngành.
Từ góc độ nhà quản lý giáo dục, ông kỳ vọng gì vào vai trò của sinh viên và các nhà khoa học trẻ trong nghiên cứu khoa học và phát triển ngành giao thông vận tải trong thời gian tới?
Tôi đặt rất nhiều kỳ vọng vào lực lượng trẻ. Trong 10-20 năm tới, họ sẽ là lực lượng trực tiếp đảm nhiệm các dự án lớn của ngành giao thông vận tải.
Đối với sinh viên, nghiên cứu khoa học cần gắn với việc rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Các em cần tiếp cận công trường, doanh nghiệp, hệ thống giao thông thực tế.
Đối với các nhà khoa học trẻ, cần có nền tảng chuyên môn vững, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực liên ngành như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vật liệu, năng lượng và môi trường.
Nếu dám theo đuổi những vấn đề lớn, kiên trì làm chủ công nghệ cốt lõi và gắn bó với nhu cầu của đất nước, lực lượng trẻ sẽ đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa ngành giao thông vận tải Việt Nam.