Với điểm trung bình ở cả hai ngành cùng đạt 3.1/4, Hồ Tiến Dũng, 24 tuổi, nhận bằng tốt nghiệp loại khá của trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM. Nam sinh là người duy nhất nhận cùng lúc hai bằng cử nhân trong đợt tốt nghiệp tháng 4 của trường, trừ nhóm ngành Kỹ thuật Tàu thủy – Hàng không vốn được thiết kế song bằng.
“Mình hơi tiếc vì hụt tấm bằng loại giỏi, chỉ thiếu 0,1. Nhưng đây vẫn là hành trình rực rỡ, đáng nhớ thời thanh xuân”, chàng trai đến từ Quảng Trị chia sẻ.
Đại diện trường cho hay trong hai ngành mà Dũng theo học, một thiên về lĩnh vực kinh tế, còn lại thuần kỹ thuật. Chương trình đào tạo có nhiều khác biệt, ít môn chung để rút gọn nên việc Dũng tốt nghiệp sớm nửa năm là “đáng khen”.
Nam sinh kể từ khi học cấp 2 đã đặt mục tiêu vào trường Bách khoa. Một lần xem phóng sự truyền hình, Dũng biết đến về tầm quan trọng của dầu – mạch máu của ngành công nghiệp, kinh tế toàn cầu. Cảm phục những kỹ sư làm việc giữa bốn bề sóng biển, Dũng chọn làm hình mẫu để phấn đấu.
Năm 2020, nam sinh đỗ ngành Kỹ thuật dầu khí của Bách khoa TP HCM như mong ước. Vừa vào trường, ngoài học tập, Dũng xông xáo tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa lẫn các hội thảo về ngành. Tình cờ nghe chuyên gia khuyến khích kết hợp tư duy quản lý kinh tế lẫn chuyên môn kỹ thuật, Dũng lên website khoa Quản lý công nghiệp tìm hiểu. Chàng trai trẻ đọc và tâm đắc với triết lý của GS Phạm Phụ, trưởng khoa đầu tiên, rằng: “Kỹ sư không chỉ giỏi kỹ thuật mà còn cần hiểu về quản lý và kinh tế”.
Được truyền cảm hứng, nam sinh xem quy chế đào tạo văn bằng 2 và chương trình ngành Kỹ thuật dầu khí, Quản lý công nghiệp. Nắm chắc lộ trình các môn học từ đại cương, cơ sở ngành, nhập môn đến khối chuyên ngành và nhóm môn tốt nghiệp, nam sinh bắt đầu hành trình chinh phục ngành Quản lý công nghiệp từ đầu năm thứ hai.
“Đây là quyết định mạo hiểm, đòi hỏi sự kỷ luật cao, kiên trì và biết sắp xếp mọi thứ một cách tối ưu”, Dũng nhìn nhận.
Dù chuẩn bị tâm lý nhưng khi đối mặt với khối lượng bài vở gấp đôi và khác biệt giữa nhóm kinh tế và kỹ thuật, Dũng hoang mang, có lúc hoài nghi về năng lực. Dù vậy, nền tảng tư duy tốt giúp nam sinh nhanh chóng thích nghi.
Mỗi kỳ, Dũng đăng ký khoảng 21-24 tín chỉ, vượt 6-7 tín chỉ so với thông thường. Có những thời điểm, nam sinh phải học 3 môn trong một ngày. Những buổi vắng vì đuối sức, Dũng mượn vở của bạn để ghi chép, cố gắng bắt kịp.
“Mình quan niệm học ra học, chơi ra chơi. Đi học được buổi nào thì mình luôn xem kỹ bài hôm đó”, nam sinh chia sẻ. “Nếu chờ đến lúc thi mới ôn thì học một ngành cũng quá tải, không nói đến song ngành”.
Những đợt thi cuối kỳ, Dũng xây dựng kế hoạch ôn tập chi tiết. Nam sinh có thể tự học từ 7h đến 22h, xen kẽ những đoạn nghỉ ngắn 30 phút.
Theo quy chế của trường với một số môn học, sinh viên phải nhận quyết định tốt nghiệp ngành đầu mới được học tiếp ngành hai. Vì thế, tháng 4 năm ngoái, Dũng mới đăng ký nốt 4 môn cuối của ngành Quản lý công nghiệp.
Ngoài học, nam sinh vẫn có nhiều trải nghiệm từ các hoạt động đoàn thể, tình nguyện. Dũng được kết nạp vào Đảng từ năm thứ hai đại học, từng là đội trưởng đội tình nguyện Mùa hè xanh của trường tại tỉnh Đồng Tháp.
Thầy Trần Duy Thanh, Phó khoa Quản lý công nghiệp, đánh giá việc học cùng lúc 2 ngành không dễ dàng. Ngoài năng lực và phương pháp học tốt, sinh viên phải có kế hoạch rõ để hoàn thành các khối kiến thức khác nhau. Sau 5,5 năm, Dũng tích lũy 216 tín chỉ, trong khi chương trình song bằng ở các ngành gần chỉ cần khoảng 160-170 tín chỉ.
Còn thầy Trần Nguyễn Thiện Tâm, giảng viên Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, nhận thấy Dũng có trí thông minh cảm xúc (EQ) tốt, năng động và chịu khó.
Quá trình hướng dẫn đồ án tốt nghiệp, thầy Tâm nhấn mạnh sự bất cẩn trong kỹ thuật có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, như tai nạn sập nhà, cầu đường, cháy nổ, điện giật,… Do đó, thầy đòi hỏi khắt khe về mặt chuyên môn với sinh viên năm cuối. Trong buổi đầu trao đổi về đồ án, thầy từng đưa ra một số nhận xét gay gắt với Dũng.
“Thông thường sinh viên sẽ tủi thân hoặc không vui nhưng Dũng tiếp thu và tiến bộ rất nhanh sau đó”, thầy Tâm kể.
Ngoài ra, Dũng tích cực trò chuyện với thầy để tìm hiểu kinh nghiệm làm việc, vốn sống. Theo thầy Tâm đây là những điểm đáng khen, cho thấy Dũng chủ động và hiểu rõ mục tiêu của bản thân.
Thời gian này, song song thử việc tại một công ty dầu khí ở Bà Rịa – Vũng Tàu, chàng kỹ sư trẻ học thêm tiếng Anh giao tiếp, dự định học thạc sĩ chuyên ngành dầu khí sau này.
Làm bài thi thử môn tiếng Anh của cụm trường THPT số 1 Hà Nội hồi đầu tháng, Đức Dũng, học sinh lớp 12, với 6.5 IELTS (7.0 phần Đọc), thừa nhận khá chật vật.
Dũng kể thường hiểu được 80-85% các bài đọc, nhưng với đề thi này, sau hơn 20 phút (gần một nửa thời gian làm bài), em vẫn chưa hoàn thành một trong hai bài đọc. Ở bài số 1 với 10 câu hỏi, ngay từ đầu đã xuất hiện loạt từ như climatic perturbations (biến động khí hậu), transmuting (biến đổi), terrestrial biotopes (sinh cảnh trên cạn),... mà Dũng nhận xét là "khủng". Nam sinh đành "khoanh lụi" mấy câu.
"Em thấy ngộp và siêu thiếu thời gian", Dũng chia sẻ.
Ở Thanh Hóa, Quỳnh, học sinh lớp 12, với chứng chỉ 7.5 IELTS (tương đương trình độ C1) với kỹ năng Đọc đạt tuyệt đối 9.0, cũng lúng túng với đề thi thử lần 2 của Sở Giáo dục và Đào tạo. Bài đọc có nhiều từ khó, như crystallized (kết tinh), algorithmic sociality (tính xã hội thuật toán), social proofing (bằng chứng xã hội),...
"Nếu không phải học sinh chuyên Anh hoặc chưa từng học IELTS thì khó hiểu được", nữ sinh nhận xét.
Các đề thi này gần đây thu hút nhiều thảo luận trên các diễn đàn, phần lớn e ngại về độ khó. Một số giáo viên và chuyên gia ngôn ngữ đặt câu hỏi về sự cần thiết của việc đưa các thuật ngữ hiếm gặp vào bài ôn tập, kiểm tra dành cho học sinh phổ thông.
Anh Ngô Huy Tú, giảng viên tiếng Anh tại trường Đại học Đại Nam, tác giả sách IELTS Key Writing, đánh giá bài đọc của cụm trường số 1 ở Hà Nội có mức độ từ vựng cực khó, do có những thuật ngữ khoa học, triết học phức tạp, hoặc từ dài, hiếm gặp và có gốc La-tinh, Hy Lạp. Những từ này ở mức C2, cao nhất theo Khung tham chiếu châu Âu (CEFR).
Ngoài ra, các cấu trúc danh từ hóa được sử dụng với tần suất "cực đại", tăng độ nén thông tin và độ khó của văn bản lên hơn nhiều so với các bài đọc hiểu trong kỳ thi IELTS (thường ở mức B2-C1) hoặc với mức B1 ở phổ thông.
Nếu dùng công cụ thống kê của từ điển Oxford, một số từ xuất hiện không tới một lần trên mỗi một triệu từ trong tiếng Anh viết hiện đại, như chimerical (hư không), sequestration (sự cô lập), hyperthermia (tăng thân nhiệt),...
Việc ra bài đọc khó trong các tài liệu ôn tập không phải là hiếm gặp. Cô Trần Hoa, giáo viên tiếng Anh ở Hà Nội, thường chữa đề thi thử ở các tỉnh cho học sinh ôn luyện, không ít lần "nhăn nhó" vì thấy quá rắc rối.
"Quá nhiều từ cấp độ C1-C2, còn cấu trúc câu thì rườm rà không cần thiết. Học sinh có lẽ phải cần tới 60-70 phút mới làm kịp", cô nói.
Các giáo viên nhìn nhận lý do có thể vì đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 môn tiếng Anh từng gây sốc, cả nước chỉ có 141 em đạt điểm 10, trong hơn 350.000 thí sinh.
Trả lời VnExpress, ông Nguyễn Thế Hải, chuyên viên tiếng Anh của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa, ghi nhận các ý kiến về độ khó. Ông cho hay đề thi thử được chọn từ một bộ đề do các giáo viên cốt cán của tỉnh xây dựng, "bám rất sát cấu trúc của Bộ năm vừa rồi".
"Đề năm ngoái có dung lượng từ vựng lớn và khó. Nên đề thi thử được thiết kế để giúp các em có nhiều va chạm với độ khó của đề thi thật, từ đó điều chỉnh định hướng ôn tập", ông nói.
Do tiếng Anh là môn lựa chọn, theo ông Hải, những học sinh khá, giỏi mới đăng ký. Vì thế, đề thi của Bộ ra như vậy cũng đặt các em theo đúng năng lực, sở trường.
Ở Hà Nội, một số trường thuộc cụm 1 không đưa ra bình luận.
Trong nghiên cứu "Phân tích độ khó và yêu cầu từ vựng của đoạn văn đọc trong bài thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT tại Việt Nam", hồi đầu năm, TS Cao Thị Hồng Phương (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Thị Mỹ Hằng (Đại học Đà Nẵng), chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa của xu hướng tăng độ khó là kỳ thi tốt nghiệp gánh mục tiêu kép: vừa xét tốt nghiệp THPT, vừa dùng tuyển sinh đại học.
Do đó, nếu đề quá dễ thì không thể phân loại, nhưng nếu quá khó sẽ vượt năng lực trung bình của học sinh phổ thông, gây áp lực tâm lý cho các em.
Cô Hoa đánh giá hướng ra đề mới như hiện nay là tốt, yêu cầu học sinh thực sự hiểu, dịch và suy luận từ bài đọc thay vì dựa vào các mẹo ngữ pháp. Thứ cần điều chỉnh là nội dung của đề.
"Người ra đề cần đặt mình vào vị trí của thí sinh, tự phản biện để điều chỉnh câu hỏi", cô nói. Cô khuyên học sinh muốn bứt phá trong thời điểm nước rút chú trọng vào từ vựng và phần đọc hiểu.
Còn anh Tú tin bài thi thật sẽ không khó như bài thi thử của cụm trường THPT số 1 ở Hà Nội, hy vọng chuyên gia sẽ cân nhắc, đo lường chính xác hơn về độ tin cậy và tính hợp lệ của đề thi.
Với các đề lấy nguồn từ nghiên cứu khoa học, theo anh Tú nên cắt giảm lượng từ vựng chuyên ngành và dùng lối diễn đạt thông dụng. Bởi mục đích của chúng là phổ biến kiến thức, để người đọc có thể hiểu thay vì đánh đố họ.
Quỳnh cho hay yên tâm vì có chứng chỉ IELTS 7.5 để quy đổi điểm khi xét tuyển đại học, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điểm thi. Dũng thì chưa quyết sẽ dùng cách nào, song đang tập trung học từ vựng nhiều hơn để đạt điểm tốt nhất trong kỳ thi tốt nghiệp - diễn ra sau hơn 10 ngày nữa.
Dựa trên chỉ tiêu và số lượng nguyện vọng 1 của từng trường, phụ huynh, học sinh có thể điều chỉnh nguyện vọng lớp 10 từ nay đến 17h ngày 8/5.
Năm nay, TP HCM có hơn 169.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng gần 43.000 so với năm ngoái. Khoảng 70% trong số này có suất vào lớp 10 công lập.
Kỳ thi vào lớp 10 dự kiến vào ngày 1-2/6 với ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ (chủ yếu Tiếng Anh). Nhóm có nguyện vọng vào trường chuyên sẽ làm bài môn chuyên tương ứng. Riêng ở xã đảo Thạnh An, đặc khu Côn Đảo, các trường xét tuyển vào lớp 10 bằng học bạ.
Danh sách nằm trong kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội, công bố ngày 6/7. Theo đó, 20 trường từ mầm non đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên được chia theo cấp và mô hình 1, 2, 3, tương ứng với các mức độ: cơ bản, khởi động; nâng cao; mũi nhọn, dẫn dắt.
Việc thí điểm bắt đầu ngay từ năm học 2026-2027.
Mức độ 1 là các trường mới triển khai hoặc còn hạn chế về điều kiện đảm bảo. Yêu cầu ở mức độ này là tổ chức các hoạt động làm quen, giao tiếp, trải nghiệm bằng tiếng Anh; hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ này hàng ngày; từng bước dùng học liệu số và công nghệ trong giảng dạy.
Mức độ 2 dành cho trường đã có đủ điều kiện triển khai thường xuyên. Nhóm này mở rộng môi trường dùng tiếng Anh; tăng hoạt động trải nghiệm, giao lưu hoặc nội dung học bằng tiếng Anh...
Các trường có điều kiện thuận lợi cùng khả năng lan tỏa, hỗ trợ chuyên môn được xếp vào mô hình 3. Nhóm này có môi trường sử dụng tiếng Anh ở mức độ cao; tổ chức môn học, hoạt động bằng tiếng Anh; tăng hoạt động quốc tế; thực hiện vai trò hỗ trợ chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm cho trường khác.
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030, tất cả trường học xây dựng và duy trì mô trường học, giao tiếp và sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế; phấn đấu 90% trường đạt mức độ 1, 35% mức độ 1 và 10% mức độ 3.
Tới năm 2035, số trường đạt ba mức độ lần lượt là 100%, 50 và 20%.
Tổng kinh phí dự kiến cho hai giai đoạn từ nay tới năm 2035 khoảng 4.500 tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước, các chương trình, đề án liên quan, xã hội hóa.
Đề án "Đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045" của Chính phủ được công bố hồi tháng 10/2025.
Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến đến năm 2035, 100% học sinh, sinh viên được học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Theo Bộ, để Tiếng Anh được dùng rộng rãi ở tất cả 50.000 trường học với khoảng 30 triệu học sinh, sinh viên, cả nước cần thêm 12.000 giáo viên tiếng Anh ở cấp mầm non, 10.000 giáo viên tiểu học, đồng thời bồi dưỡng ít nhất 200.000 thầy cô có khả năng dạy bằng tiếng Anh vào năm 2030.