Từ đầu năm 2026 đến nay, “nậm thoong” xuất hiện ngày càng nhiều tại khu vực biên giới Lao Bảo. Đây không phải đồ uống công nghiệp mà được nấu thủ công từ lá cây có nguồn gốc từ Lào, có màu nâu nhạt, mùi thơm nhẹ, thường đựng trong chai nhựa lớn và bán với giá chỉ vài chục nghìn đồng.
Theo Công an xã Lao Bảo, thời gian gần đây, không ít thanh thiếu niên có xu hướng sử dụng loại nước này để tìm cảm giác “hưng phấn”. Tuy nhiên, việc lạm dụng có thể kéo theo nhiều hệ lụy như kích thích thần kinh, mất kiểm soát hành vi, thậm chí phát sinh các vi phạm pháp luật như gây rối trật tự, trộm cắp, đánh nhau.
Thượng tá Trần Hữu Sơn, Trưởng công an xã Lao Bảo, cho biết “nậm thoong” có thể khiến người dùng tỉnh táo, thức đêm nhưng tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tâm lý. Hiện cơ quan công an mới dừng ở mức cảnh báo, chưa có quy định cụ thể để xử phạt hành vi sử dụng loại nước này.
“Chúng tôi đã báo cáo tình hình này lên lãnh đạo Công an tỉnh, chính quyền địa phương… để cấp trên nắm bắt và có phương án chỉ đạo hướng xử lý”, thượng tá Sơn nhấn mạnh.
Đáng lo ngại, việc mua bán và sử dụng “nậm thoong” diễn ra nhỏ lẻ, kín đáo. Nguồn tin tại địa phương cho biết loại nước này được nấu với số lượng khá lớn (nấu trong các thùng phuy cả trăm lít) ở những khu vực vắng vẻ, sau đó giao tận nơi với giá khoảng 45.000 – 50.000 đồng/chai loại 1,5 lít.
Không chỉ dễ mua, “nậm thoong” còn nhanh chóng lan trong giới trẻ theo kiểu tụ tập uống chung. Tại các công viên, khu vui chơi, nhiều nhóm thanh thiếu niên cùng sử dụng loại nước này, để lại hàng loạt vỏ chai sau khi dùng. Giá rẻ và tâm lý tò mò khiến không ít học sinh THCS, THPT trở thành đối tượng dễ bị lôi kéo.
Tên gọi “nậm thoong” xuất phát từ tiếng Lào, “nậm” nghĩa là nước, “thoong” là cách gọi dân gian của cây kratom, cho thấy nguồn gốc xuyên biên giới của loại đồ uống này. Với đặc thù là địa bàn giáp Lào, có cửa khẩu quốc tế, Lao Bảo vốn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh trật tự, đặc biệt liên quan đến các chất có tác động thần kinh.
Trước thực trạng trên, Công an xã Lao Bảo đã có văn bản đề nghị các đơn vị, đoàn thể phối hợp vào cuộc. Trong đó, Mặt trận và các tổ chức tăng cường tuyên truyền, vận động người dân nâng cao nhận thức; gia đình quản lý, giáo dục con em không sử dụng đồ uống không rõ nguồn gốc. Đoàn thanh niên, nhà trường cũng được yêu cầu đẩy mạnh giáo dục, kịp thời phát hiện các trường hợp liên quan.
Lực lượng chức năng nhận định, việc chủ động nắm tình hình từ cơ sở, phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời là giải pháp quan trọng nhằm không để “nậm thoong” tiếp tục lan rộng, ảnh hưởng đến đời sống và an ninh trật tự khu vực biên giới.
Liên quan đến cây kratom, PGS-TS Nguyễn Thành Triết, Trưởng bộ môn Dược học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM, cho hay kratom (Mitragyna speciosa) là một loài cây nhiệt đới có nguồn gốc từ Đông Nam Á, được sử dụng lâu đời vì đặc tính kích thích và giảm đau của nó.
Những năm gần đây, kratom đã trở nên phổ biến ở phương Tây như một phương pháp điều trị thay thế cho chứng lo âu, đau đớn và cai nghiện opioid do các alkaloid có hoạt tính như mitragynine và 7-hydroxymitragynine, tác động lên các thụ thể opioid.
Do việc sử dụng ngày càng tăng, kết hợp với sự hiểu biết hạn chế về tác dụng dược lý, dữ liệu an toàn và nguy cơ quá liều của kratom cần phải được nghiên cứu thêm.
Theo PGS-TS Nguyễn Thành Triết, việc sử dụng kratom khác biệt rõ rệt giữa Đông Nam Á và phương Tây, không chỉ về bối cảnh văn hóa mà còn về cách thức điều chế dược liệu này và các tác dụng của nó.
Ở Đông Nam Á, kratom theo truyền thống được sử dụng bằng cách nhai lá tươi hoặc pha thành trà ngay sau khi thu hoạch, các phương pháp này giữ lại hàm lượng 7-hydroxymitragynine (một alkaloid hoạt tính mạnh kiểu opioid) thấp hơn. Việc sử dụng lâu đời này, đặc biệt là trong số những người lao động tìm kiếm tác dụng chống mệt mỏi và hiệu quả giảm đau, dẫn đến một số tác dụng phụ nghiêm trọng được ghi nhận.
Trái ngược với cách sử dụng truyền thống, các sản phẩm chứa kratom ở phương Tây thường được chiết xuất từ lá khô và đã qua chế biến, được bào chế thành dạng bột thuốc, viên nang hoặc cao chiết, có thể làm tăng hàm lượng các alkaloid có hoạt tính và dẫn đến việc tổng liều lượng cao hơn so với các chế phẩm truyền thống (dùng dạng thô), từ đó có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc.
Ông Triết cho rằng, việc tiếp tục các nghiên cứu khoa học và đưa ra các quy định có thông tin đầy đủ có thể bảo vệ sức khỏe cộng đồng với cách tiếp cận có chừng mực, dựa trên khoa học sẽ là điều cần thiết để định hình quy định về kratom và ứng dụng lâm sàng trong tương lai.
“Ở nước ta hiện vẫn chưa có quy định về việc quản lý sử dụng dược liệu kratom, vì vậy việc sử dụng dược liệu này phải được thực hiện một cách thận trọng, lưu ý về độ tuổi, liều lượng sử dụng và không dùng kèm theo các thuốc đặc trị khác cùng nhau. Khi cần sử dụng kratom trong điều trị cũng cần tham khảo và theo hướng dẫn của các chuyên gia”, PGS-TS Nguyễn Thành Triết nhấn mạnh.
Điều 42 Nghị định 90 năm 2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 15.5) có nhiều quy định cụ thể về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.
Theo đó, nếu vi phạm một trong các hành vi sau đây sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng:
Trong trường hợp người gửi tinh trùng, noãn, phôi (gọi chung là mẫu) hoặc người nhận mẫu hiến có nguyện vọng chuyển mẫu từ cơ sở đang lưu giữ đến cơ sở khác mà cơ sở đang lưu giữ mẫu không tư vấn cho người gửi/nhận mẫu hiến về quy định vận chuyển mẫu, những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình vận chuyển, hoặc không có ý kiến bằng văn bản về việc đồng ý chuyển mẫu.
Không cho chuyển tinh trùng, noãn, phôi đang lưu giữ sang cơ sở khác theo yêu cầu của người gửi, trừ trường hợp cơ sở tiếp nhận mẫu không đồng ý tiếp nhận mẫu.
Trường hợp cơ sở lưu giữ không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện việc lưu giữ mẫu và phải chuyển mẫu đến một cơ sở lưu giữ khác mà không thông báo đến người gửi/nhận mẫu hiến…
Cũng theo điều 42 Nghị định 90 năm 2026, đối với một trong các hành vi sau đây thì bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng:
Cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi không bảo đảm bảo mật thông tin của người hiến và người nhận.
Không thực hiện nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận trong việc hiến và nhận tinh trùng, phôi.
Lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi mà không ký hợp đồng với người gửi theo quy định của pháp luật về dân sự với cơ sở lưu giữ, trừ trường hợp tinh trùng, noãn, phôi được hiến.
Không thực hiện việc xác định người hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV.
Không mã hóa thông tin về việc hiến tinh trùng, noãn, phôi; lưu giữ và chia sẻ với cơ sở dữ liệu dùng chung về hỗ trợ sinh sản theo quy định của pháp luật.
Không hủy tinh trùng khi người gửi tinh trùng chết trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng tinh trùng của người chồng đã chết; hoặc trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến tinh trùng cho cơ sở lưu giữ.
Không hủy noãn khi người gửi noãn chết, trừ trường hợp trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến noãn cho cơ sở lưu giữ.
Không hủy phôi khi người chồng trong cặp vợ chồng gửi phôi chết, trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng phôi của hai vợ chồng; người vợ có văn bản hiến phôi cho cơ sở lưu giữ để nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một phụ nữ độc thân, hoặc một cặp vợ chồng khác.
Không hủy phôi đang lưu giữ khi cặp vợ chồng gửi phôi đã ly hôn, trừ trường hợp có văn bản đồng ý của cả hai vợ chồng về việc: đề nghị tiếp tục lưu giữ phôi và cam kết chi trả chi phí lưu giữ theo quy định của cơ sở; hoặc đề nghị hiến phôi để sử dụng vào nghiên cứu khoa học hoặc kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một cặp vợ chồng hoặc một phụ nữ độc thân khác.
Thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng không được chẩn đoán là vô sinh hoặc không có chỉ định về y tế.
Cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không mã hóa, hoặc không chia sẻ các thông tin về việc hiến tinh trùng, noãn, phôi và lưu giữ với cơ sở dữ liệu dùng chung về hỗ trợ sinh sản theo quy định sẽ bị xử phạt từ 10 - 20 triệu đồng.
Tại buổi làm việc với đoàn công tác Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội ngày 13-5, UBND tỉnh Gia Lai kiến nghị quan tâm đầu tư dự án xây dựng cảng cá thông minh kết hợp khu neo đậu tránh trú bão Tam Quan. Điểm đáng chú ý của dự án này là định hướng phát triển cảng cá Tam Quan thành trung tâm logistics thủy sản, gồm có trung tâm đấu giá cá ngừ đại dương.
Thông tin tại buổi làm việc với đoàn công tác Quốc hội, ông Nguyễn Tuấn Thanh - Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Gia Lai - cho hay tỉnh vừa phê duyệt đề án phát triển thủy sản bền vững giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050.
Theo đó, tỉnh chủ trương thực hiện di dời, sắp xếp tàu cá từ khu vực cảng cá Quy Nhơn và đầm Đề Gi về khu vực phía bắc tỉnh (phường Hoài Nhơn Bắc).
Đồng thời định hướng đầu tư xây dựng mở rộng cảng cá Tam Quan kết hợp cảng cá thông minh, gắn với khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng, trung tâm logistics thủy sản và trung tâm đấu giá cá ngừ đại dương.
Việc này nhằm đảm bảo ổn định hoạt động neo đậu, tránh trú bão cho tàu cá; tăng cường quản lý, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản và thực hiện hiệu quả công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Tỉnh kiến nghị Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường điều chỉnh, đưa ra khỏi quy hoạch 4 cảng cá Quy Nhơn, Đề Gi, Vĩnh Lợi và Tân Phụng.
Bổ sung quy hoạch mở rộng cảng cá Tam Quan với công suất thủy sản qua cảng từ 40.000 tấn/năm lên 130.000 tấn/năm; mở rộng quy mô khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Tam Quan từ 1.200 tàu lên 3.600 tàu.
Bên cạnh đó, Gia Lai kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng cảng cá thông minh kết hợp khu neo đậu tránh trú bão Tam Quan.
Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 3.300 tỉ đồng; trong đó đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 2.000 tỉ đồng, ngân sách địa phương bố trí 500 tỉ đồng và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác khoảng 800 tỉ đồng.
Theo đề án phát triển thủy sản bền vững của tỉnh Gia Lai, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nghiên cứu, tổ chức các chuyến học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản và EU để nhanh chóng triển khai dự án chợ đấu giá thủy sản điện tử (ưu tiên cá ngừ) tại cảng cá thông minh để minh bạch giá, chống ép giá, đồng thời chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, nâng cao giá trị thương mại.
Cụ thể, cơ quan chức năng sẽ tổ chức các đoàn công tác chuyên đề tham quan, học hỏi kinh nghiệm tại một số mô hình cảng cá thông minh tiên tiến như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Na Uy, đặc biệt là mô hình khu phân loại và sàn đấu giá cá ngừ, làm cơ sở lựa chọn giải pháp thiết kế, công nghệ và mô hình quản trị phù hợp với điều kiện thực tế của cảng cá Tam Quan.
Tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu phát triển cảng cá Tam Quan thành trung tâm logistics thủy sản. Phấn đấu đến năm 2030 hình thành cảng cá thông minh, bao gồm trung tâm đấu giá và phân loại cá ngừ làm khâu tiền đề để tiếp nhận, phân loại truy xuất nguồn gốc và đấu giá để cá ngừ đủ chuẩn đưa vào xuất khẩu.
Trung tâm đấu giá và phân loại cá ngừ sẽ giúp tăng tỉ lệ cá ngừ đạt tiêu chuẩn sashimi/fillet cho xuất khẩu; tạo thị trường tập trung, kết nối cung - cầu, nâng giá trị thương mại đối với cá ngừ.
Việc đầu tư dự án này sẽ hiện thực hóa quy hoạch là cảng cá ngừ chuyên dụng cấp vùng, tăng tỉ lệ cá ngừ đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đạt 30 - 35% vào năm 2030 và đạt 50 - 60% vào năm 2050.
Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định đối với dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 43 năm 2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VH-TT-DL. Dự thảo do Bộ VH-TT-DL chủ trì soạn thảo.
Cơ cấu tổ chức của Bộ VH-TT-DL hiện nay có 24 đơn vị, gồm 19 tổ chức hành chính và 5 đơn vị sự nghiệp công lập. Tại dự thảo, Bộ VH-TT-DL đề xuất giảm còn 22 đơn vị, gồm 18 tổ chức hành chính và 4 đơn vị nghiệp công lập.
Trong đó, giữ nguyên 6 đơn vị có chức năng tham mưu tổng hợp chung: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch, Tài chính; Vụ Pháp chế; Vụ KH-CN, Đào tạo và Môi trường; Văn phòng Bộ; Cục Hợp tác quốc tế.
Giữ nguyên 6 Cục có đối tượng quản lý chuyên ngành: Cục Di sản văn hóa; Cục Điện ảnh; Cục Nghệ thuật biểu diễn; Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; Cục Thể dục thể thao Việt Nam.
Giữ nguyên 4 đơn vị sự nghiệp công lập: Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa nghệ thuật; Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.
Cục Bản quyền tác giả được đề xuất đổi tên thành Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả; nhằm phù hợp với Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua, giao Bộ VH-TT-DL thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công nghiệp văn hóa.
Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam tổ chức lại thành Vụ Văn hóa dân tộc, không có tổ chức phòng bên trong.
Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin cơ sở sang Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện; đồng thời chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại sang Cục Báo chí.
Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện đổi tên thành Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở và Gia đình; chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thư viện sang Cục Xuất bản, In và Phát hành; đồng thời tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin cơ sở.
Cục Xuất bản, In và Phát hành đổi tên thành Cục Xuất bản và Thư viện; đồng thời tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thư viện.
Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình sang Cục Báo chí quản lý; đồng thời thành lập Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số trên cơ sở tổ chức lại bộ phận tham mưu quản lý nhà nước về thông tin điện tử của Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử và Trung tâm Chuyển đổi số VH-TT-DL.
Cục Báo chí tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại; về phát thanh, truyền hình.
Đối với tổ chức cấp phòng trong cơ quan hành chính thuộc bộ, Bộ VH-TT-DL đề xuất lược bỏ quy định Vụ Kế hoạch - Tài chính có 4 phòng, Vụ Tổ chức cán bộ có 4 phòng.
Lý do, thực hiện các chủ trương về sắp xếp đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và đầu mối bên trong cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL đã quyết định về việc giải thể các phòng chuyên môn, nghiệp vụ và sửa đổi quy định về cơ cấu tổ chức của hai cơ quan trên.
Và để không xảy ra khoảng trống pháp lý, đảm bảo thời gian để thực hiện các thủ tục sắp xếp, tổ chức lại (tài chính, tài sản, nhân sự, con dấu, tài khoản...), dự thảo quy định điều khoản chuyển tiếp theo hướng các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo các quy định hiện hành cho đến khi Bộ trưởng ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức mới.