Kết quả về công tác giám sát và phản biện được nêu bật trong dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031. Theo đó, MTTQ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội.
Công tác giám sát, phản biện xã hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và triển khai đồng bộ trong hệ thống MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội. Bám sát Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26.10.2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp đã chủ trì, hiệp thương với các tổ chức chính trị – xã hội ban hành kế hoạch giám sát, phản biện xã hội năm 2025 từ sớm, bảo đảm lựa chọn các nội dung, vấn đề giám sát thiết thực, được nhân dân quan tâm.
Trong đó một số tỉnh, thành phố đã tổ chức giám sát hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp sau sắp xếp, giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của chính quyền địa phương cấp xã.
Các tổ chức chính trị – xã hội chủ động, linh hoạt trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội, phát huy tính đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho thành viên, hội viên của tổ chức mình. Ở cấp Trung ương, trong giai đoạn 2024 – 2026, MTTQ Việt Nam chủ trì thực hiện 5 nội dung giám sát; các tổ chức chính trị – xã hội chủ trì thực hiện 12 nội dung giám sát; ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phối hợp với các cơ quan chức năng đã tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát.
Hoạt động phản biện xã hội được tăng cường, bám sát chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội; chương trình hoạt động của HĐND, UBND các cấp. Tập trung phản biện xã hội các dự án, dự thảo văn bản pháp luật, đề án, chính sách có phạm vi, nội dung điều chỉnh trực tiếp liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đoàn viên, hội viên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Ủy ban MTTQ Việt Nam cũng đã ban hành kế hoạch, tổ chức phản biện xã hội đối với 7 dự án luật.
Các địa phương đã tổ chức 1.362 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến góp ý vào các quyết sách của địa phương liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Ý kiến phản biện xã hội đa dạng, phong phú, sâu sắc, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao và được xác định là tài liệu bắt buộc trong các hồ sơ trình ban hành. MTTQ Việt Nam đã tham gia góp ý trên 3.240 đề án, 4.670 chương trình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội; nhiều ý kiến đã được tổng hợp, tiếp thu đưa vào báo cáo trình Quốc hội, HĐND các cấp.
Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã nêu cao tính chủ động trong công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; giáo dục liêm chính; tiếp nhận và xử lý các thông tin phản ánh, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực; phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết; theo dõi, giám sát quá trình giải quyết. Cùng đó là giám sát đảng viên, người đứng đầu, cán bộ dân cử, thực hiện trách nhiệm của đảng viên nơi cư trú được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và được triển khai thực hiện tại nhiều địa phương.
Công tác tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân được thực hiện thường xuyên, nền nếp, bảo đảm tính khách quan, kịp thời. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phối hợp với Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội ký ban hành Nghị quyết liên tịch quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Cạnh đó, MTTQ Việt Nam cũng duy trì hiệu quả việc phối hợp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri và tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, triển khai việc theo dõi, giám sát thực hiện chương trình hành động của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp.
Đáng chú ý, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, kịp thời hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã; chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Công tác tiếp dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện theo đúng quy định; tăng cường tiếp công dân trong các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp, đại hội đảng các cấp. Phối hợp xây dựng Nghị quyết số 99/2025/NQ/UBTVQH15 ngày 26.9.2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn hội thẩm.
Trong các mục tiêu cụ thể của nhiệm kỳ mới, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, chỉ rõ hằng năm Ủy ban MTTQ Việt Nam tổ chức đánh giá độc lập bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh, công bố kết quả an sinh cộng đồng, thực hiện “3 công khai – 3 giám sát”. Cùng đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh cần tổ chức ít nhất 5 chương trình, nội dung giám sát xã hội; phản biện xã hội ít nhất 5 dự thảo văn bản; với cấp xã con số này là 3.
Chương trình hành động MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031 cũng nhấn mạnh cần tập trung thực hiện chất lượng, hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26.10.2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội theo hướng chủ động ngay từ khâu xây dựng và triển khai chính sách, đảm bảo tính dân chủ, khách quan, mang tính xây dựng.
Ban hành và triển khai có hiệu quả đề án đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giai đoạn 2026 – 2031. Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp chủ trì hiệp thương, phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội lựa chọn các nội dung, chương trình giám sát và phản biện xã hội. Yêu cầu cần bám sát chủ trương, chính sách lớn, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, những vấn đề xã hội quan tâm, bức xúc, nhất là ở địa phương để xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát, phản biện xã hội nhiệm kỳ và hằng năm.
Cạnh đó, cần xác lập cơ chế theo dõi, đôn đốc đến cùng kết quả giải quyết các kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội. Nghiên cứu xây dựng cơ chế để khuyến khích, huy động có hiệu quả các chuyên gia, nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, người có kinh nghiệm thực tiễn, người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo và nhân dân tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận, xử lý kết quả giám sát, phản biện xã hội.
Để công tác giám sát không trở nên chung chung, dự thảo cũng chỉ rõ cần thực hiện kỷ cương, minh bạch trong quá trình thực thi, thi đua thiết thực, kiểm tra đến cùng việc thực hiện áp dụng công thức “3 dễ – 3 rõ – 3 đo”: dễ hiểu – dễ nhớ – dễ làm; rõ mục tiêu – rõ trách nhiệm – rõ thời hạn; đo đầu vào – đo đầu ra – đo tác động.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng – kỷ luật nghiêm minh; không bao biện làm thay, không né tránh va chạm, không chạy theo thành tích. Cán bộ Mặt trận và các đoàn thể phải là hạt nhân nòng cốt, giữ “3 gần”: gần dân – gần cơ sở – gần không gian số; “5 phải”: phải lắng nghe – phải đối thoại – phải làm mẫu – phải chịu trách nhiệm – phải báo cáo kết quả; “4 không”: không hình thức – không né tránh – không đùn đẩy – không làm sai chức năng.
Tại cuộc hội kiến, hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp và thực chất của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nhật; đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của hợp tác giữa Quốc hội hai nước, đồng thời nhất trí tăng cường hơn nữa tin cậy chính trị, thúc đẩy giao lưu, trao đổi đoàn cấp cao và giữa các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội hai nước, cũng như tăng cường hoạt động và hợp tác của nhóm nghị sĩ hữu nghị hai nước, nghị sĩ trẻ, nghị sĩ nữ.
Thủ tướng Takaichi đánh giá cao vai trò của Nhóm nghị sĩ hữu nghị hai nước, với việc Thủ tướng Lê Minh Hưng đã giữ vị trí Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị VN - Nhật Bản.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng thông báo việc Quốc hội VN khóa XVI sẽ sớm kiện toàn lại các Nhóm nghị sĩ hữu nghị VN với các nước, trong đó Nhóm nghị sĩ hữu nghị VN - Nhật Bản luôn giữ vai trò rất quan trọng.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh Quốc hội VN sẽ tiếp tục phát huy vai trò giám sát, thúc đẩy các cam kết, thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư; đánh giá cao nguồn đầu tư trực tiếp và ODA của Nhật Bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội của VN; khẳng định sẵn sàng tạo môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nhật Bản.
Thủ tướng Takaichi cũng khẳng định Nhật Bản mong muốn đồng hành cùng VN trong giai đoạn phát triển mới; tăng cường hợp tác và giao lưu qua kênh Đảng, Quốc hội; sẽ tiếp tục hỗ trợ và hợp tác với VN bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng; dành ưu tiên cao về hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao với VN thời gian tới như trí tuệ nhân tạo, chất bán dẫn, công nghệ vũ trụ.
Thủ tướng Takaichi cũng đề nghị Quốc hội VN hỗ trợ sớm thông qua Hiệp định hai Chính phủ về phát triển trường Đại học Việt Nhật và Hiệp định về tạo thuận lợi cho việc thực hiện các dự án viện trợ không hoàn lại giữa Chính phủ VN và Chính phủ Nhật Bản.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, Chủ tịch Quốc hội khẳng định Quốc hội VN mong muốn tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Quốc hội Nhật Bản tại các Diễn đàn nghị viện đa phương như Diễn đàn Nghị viện châu Á-Thái Bình Dương (APPF), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU)…
Chiều 18.6, Ban Nội chính Trung ương thông báo về kết quả phiên họp thứ 30 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo).
Báo cáo cho thấy, công tác rà soát, xử lý các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí và các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy tiếp tục được tập trung.
Từ đầu năm đến nay, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã rà soát, cập nhật thêm 1.501 công trình, dự án, nâng tổng số lên 4.492 dự án, công trình tồn đọng, kéo dài, có khó khăn, vướng mắc. Trong đó, đã hoàn thành xử lý 1.531 dự án.
Đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp, đến nay, qua rà soát đã xác định cả nước có 30.595 cơ sở dôi dư; trong đó, đã hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng 14.992 cơ sở.
Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 65 tổ chức đảng và 3.375 đảng viên; trong đó có 2 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi hơn 799 tỉ đồng và 31 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 356 tập thể và 1.192 cá nhân; chuyển 13 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định.
Các cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã khởi tố mới 1.985 vụ án/4.671 bị can, truy tố 1.886 vụ án/4.520 bị can, xét xử sơ thẩm 1.721 vụ án/4.415 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ…
Công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt kết quả tích cực. Trong giai đoạn truy tố, xét xử đã thu hồi hơn 1.300 tỉ đồng; trong giai đoạn thi hành án dân sự đã thu hồi trên 3.996 tỉ đồng, riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo là hơn 1.841 tỉ đồng.
Từ nay đến cuối năm, Ban Chỉ đạo yêu cầu tập trung chỉ đạo hoàn thành các nhiệm vụ theo chương trình công tác năm 2026 và các kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo.
Trong đó, tập trung sửa đổi luật Đất đai và xây dựng, ban hành nghị quyết đặc thù về xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Đảng ủy Chính phủ và các tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo quyết tâm trong năm 2026 hoàn thành xử lý dứt điểm các dự án, công trình tồn đọng, kéo dài, có khó khăn, vướng mắc và các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy.
Cùng đó là tập trung kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trong các lĩnh vực trọng yếu, then chốt của nền kinh tế.
Nhất là các vụ án, vụ việc liên quan đến dự án sân bay Long Thành, trụ sở Bộ Ngoại giao; lĩnh vực an toàn thực phẩm, môi trường, khoáng sản, năng lượng, đất đai, tài chính, ngân hàng và các lĩnh vực trọng yếu khác.
Đồng thời, đẩy mạnh phòng ngừa từ sớm, từ xa gắn với kiểm soát quyền lực ở cơ sở và giám sát bằng dữ liệu.
Tăng cường kiểm soát quyền lực, thường xuyên giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên ở cấp cơ sở; kịp thời thay thế, cho từ chức đối với cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Ngày 16.5, tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống (16.5.1906 - 16.5.2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhất.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại buổi lễ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đại học Quốc gia Hà Nội phải vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, trở thành trụ cột học thuật hàng đầu, trung tâm sáng tạo lớn, lực lượng tiên phong của giáo dục đại học Việt Nam; đồng thời là một gương mặt tiêu biểu, có uy tín của trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Đại học Quốc gia Hà Nội phải vươn lên thành một đại học tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Đồng ý với mục tiêu mà Đại học Quốc gia Hà Nội đặt ra đến năm 2030 nằm trong nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á và đến 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị một số ngành mũi nhọn sẽ đứng vào nhóm 100 toàn cầu.
Đại học Quốc gia Hà Nội cần có triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật khai phóng; khẩn trương hoàn thiện khu đô thị đại học Hòa Lạc theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, kết nối hữu cơ với khu công nghệ cao Hòa Lạc, hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước.
Có lộ trình cụ thể, phân giao mục tiêu, nhiệm vụ cho từng thành viên, từng đơn vị, nhóm nghiên cứu, định hướng quản lý theo kết quả; đầu tư cho Đại học Quốc gia Hà Nội để xây dựng hạ tầng khoa học hiện đại, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước, quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đại học Quốc gia Hà Nội phải là nơi dám đi trước, dám thử nghiệm và mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới.
Đại học Quốc gia Hà Nội phải đi tiên phong trong thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng; cần trở thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia để nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ nền tảng. Các chương trình hành động phải được triển khai quyết liệt, làm đến cùng, đo được kết quả, rõ được hiệu quả; đưa thành tựu đào tạo, nghiên cứu trực tiếp phục vụ đất nước, Hà Nội và các địa phương.
Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành trung tâm kết nối tri thức với phát triển, gắn chặt hơn nữa nhà trường với Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và xã hội.
Cần chủ động hình thành các chương trình nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo theo đặt hàng lớn của quốc gia; tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, thủ đô Hà Nội, các địa phương, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và mạng lưới chuyên gia quốc tế.
"Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành "túi khôn" để Nhà nước tìm đến khi cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược; là địa chỉ doanh nghiệp tìm đến để cùng phát triển công nghệ, nhân lực và mô hình kinh doanh mới; là nơi xã hội tìm thấy niềm tin vào sức mạnh của tri thức, khoa học và giáo dục Việt Nam", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn, Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của ngoại giao học thuật Việt Nam.
Mỗi cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội cần ý thức sâu sắc rằng mình đang góp phần đại diện cho trí tuệ, văn hóa và phẩm giá Việt Nam trong mọi hoạt động học thuật, đối ngoại và giao lưu quốc tế.
Đại học Quốc gia Hà Nội phải tổ chức thật tốt việc giáo dục chính trị - tư tưởng sâu rộng trong toàn thể cán bộ và sinh viên về truyền thống, về vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh của người trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất Bộ Chính trị, Chính phủ những cơ chế, chính sách phát triển đột phá cho Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng và giáo dục đại học Việt Nam nói chung.
Trong đó, đặc biệt chú trọng tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, quản trị, tài chính, nhân lực, tự chủ đại học, tự do học thuật, đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược; qua đó giúp Đại học Quốc gia Hà Nội phát triển xứng tầm, đồng thời tạo động lực đổi mới mạnh mẽ toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới.