Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài “Kho lạnh bảo vệ nông dân” (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch – khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu “chết” sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 – 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 – 4,1 tỉ USD mỗi năm – một khoản “thuế tàng hình” mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 – 15oC) cho trái cây tươi – vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu – gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt “được mùa rớt giá” lại có kêu gọi “giải cứu”. Nhưng “giải cứu” là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 – 7 ngày – đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là “lời nguyền vỉa hè”: nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng – điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 – 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng “kích” dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn – nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo – nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm – Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp – logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm “đất thương mại dịch vụ” với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 – 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp – ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người – lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 – 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 – 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Giá vàng miếng SJC phiên chiều 21/5 đang được niêm yết ở mức 159,4-162,4 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 1,1 triệu đồng mỗi chiều so với phiên sáng. Dù thế, so với phiên thấp điểm ngày 20/5, giá hồi phục 900.000 đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán neo ở mức cao, cùng với sự biến động lên xuống thất thường khiến rủi ro cho nhà đầu tư tăng cao.
Các chuyên gia, người trong cuộc tiếp tục kiến nghị nhà đầu tư nên xem vàng là tài sản tích lũy dài hạn, không phải đầu cơ lướt sóng.
Trên thế giới, giá vàng đang là 4.543 USD/ounce, tăng trở lại so với mức thấp nhất trong phiên đêm qua là 4.460 USD/ounce.
Sự phục hồi của giá vàng được thúc đẩy bởi thông tin các cuộc đàm phán ngoại giao giữa Mỹ và Iran đang bước vào giai đoạn cuối cùng, cùng với dấu hiệu hoạt động vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz dần được nối lại. Tổng thống Mỹ Donald Trump khẳng định đàm phán đang tiến triển và cảnh báo rằng nếu thất bại, xung đột quân sự mới có thể xảy ra.
Một số tàu chở dầu thô đã di chuyển qua eo biển, với tổng lượng khoảng 6 triệu thùng. Đây là lượng dầu xuất khẩu hàng ngày lớn nhất từ vùng Vịnh kể từ khi xung đột Mỹ - Iran bùng phát vào tháng 2.
Diễn biến này đưa giá dầu thô giảm gần 6%, xuống còn 98 USD/thùng, qua đó làm giảm lo ngại về lạm phát, hỗ trợ giá vàng hôm nay phục hồi.
Theo Kitco News, vàng chịu áp lực điều chỉnh mạnh khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cao, đồng USD mạnh lên và những lo ngại dai dẳng về lạm phát liên quan đến giá dầu lấn át nhu cầu trú ẩn an toàn xuất phát từ căng thẳng tại eo biển Hormuz.
Trong báo cáo mới đây, các chuyên gia phân tích của Goldman Sachs cho biết đã điều chỉnh mô hình dự báo nhu cầu vàng từ các ngân hàng trung ương nhằm phản ánh đầy đủ hơn những khoảng trống trong dữ liệu thương mại chính thức.
Hồi tháng 3, ngân hàng đầu tư này đã nâng ước tính mua vàng của các ngân hàng trung ương lên khoảng 50 tấn/tháng tính theo trung bình động 12 tháng, tăng mạnh so với mức 29 tấn theo phương pháp tính cũ.
Hiện Goldman Sachs dự báo các ngân hàng trung ương sẽ duy trì tốc độ mua khoảng 60 tấn vàng mỗi tháng xuyên suốt năm 2026, nhờ nhu cầu đa dạng hóa dự trữ tiếp tục gia tăng trong bối cảnh bất ổn địa chính trị kéo dài.
Ngân hàng này tái khẳng định mục tiêu giá vàng đạt 5.400 USD/ounce vào cuối năm 2026, song cũng cảnh báo kim loại quý vẫn có thể chịu áp lực ngắn hạn nếu nhà đầu tư buộc phải bán các tài sản có tính thanh khoản cao để bổ sung tiền mặt trong giai đoạn thị trường biến động mạnh.
Đồng USD giảm tiếp, rời đỉnh 6 tuần
Đồng USD giảm giá khỏi mức cao nhất trong 6 tuần vào ngày thứ Tư, khi kỳ vọng gia tăng rằng Mỹ đang tiến gần tới một thỏa thuận với Iran nhằm chấm dứt cuộc xung đột tại Trung Đông.
Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,22%, hiện ở mức 99,11.
Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với USD tăng 2 đồng, hiện ở mức 25.135 đồng.
Theo Nghị định 112 vừa được Chính phủ ban hành, Việt Nam lần đầu có khung pháp lý về trao đổi tín chỉ carbon với quốc tế. Cụ thể, các dự án ứng dụng công nghệ mới, chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam như điện gió ngoài khơi, công nghệ thu giữ carbon hay sản xuất hydrogen xanh có thể được bán tới 90% tín chỉ carbon tạo ra.
Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính.
Theo Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cơ chế này nhằm tạo sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ tiên tiến và vốn lớn. Việc cho phép chuyển giao phần lớn tín chỉ carbon giúp tăng khả năng thu hồi vốn, qua đó khuyến khích triển khai các dự án giảm phát thải quy mô lớn.
Với các hoạt động giảm phát thải đã triển khai phổ biến trong nước, tỷ lệ chuyển giao tối đa chỉ ở mức 50%, nhằm giữ lại nguồn tín chỉ cho mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chấp thuận việc chuyển giao các tín chỉ này. Toàn bộ giao dịch tín chỉ của doanh nghiệp sẽ được ghi nhận trên hệ thống đăng ký quốc gia để tránh trùng lặp kết giảm thải, bảo đảm minh bạch.
Cũng theo nghị định, 3 cơ chế trao đổi carbon được thiết lập dựa trên các quy định của Thỏa thuận khí hậu Paris về hợp tác, cơ chế thị trường tập trung và tiêu chuẩn carbon độc lập.
Ngoài ra, nghị định cũng cho phép các tổ chức trong nước mua và sử dụng tín chỉ carbon quốc tế để thực hiện các cam kết quốc tế, qua đó mở thêm kênh huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh.
Việt Nam đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào 2050. Trước đây, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã đặt nền móng cho thị trường carbon, song vẫn thiếu các quy định cụ thể cho hoạt động trao đổi quốc tế.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất điện gió ngoài khơi tới 2030 đạt khoảng 6.000 MW và tăng lên 17.000 MW vào 2035. Loại nguồn điện này có thể đạt công suất 113.000-139.000 MW đến 2050, đóng vai trò chủ chốt trong mục tiêu trung hòa carbon.
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư về vận tải hàng không. Tại dự thảo, Bộ vẫn giữ các hình thức bồi thường trong trường hợp hành khách bị chậm chuyến, huỷ chuyến như hiện hành gồm tiền mặt, chuyển khoản, vé miễn cước, chứng từ bồi hoàn để tiếp tục sử dụng dịch vụ của hãng bay...
Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo đề xuất bổ sung thêm các phương thức bồi thường mới như phiếu thanh toán (voucher) và điểm thưởng của hãng hàng không.
Về thời gian hoàn vé, dự thảo đưa ra các mốc khác nhau tùy hình thức thanh toán như hoàn bằng voucher trong 7 ngày, tiền mặt hoặc chuyển khoản trong 21 ngày, thẻ tín dụng trong 45 ngày và thông qua hệ thống đại lý trong vòng 60 ngày.
Đáng chú ý, mức bồi thường ứng trước đối với các chuyến bay bị chậm hoặc hủy cũng được đề xuất tăng thêm 25%.
Cụ thể, mức bồi thường cho mỗi hành khách đối với chuyến bay nội địa như sau:
Mức bồi thường cho mỗi hành khách đối với chuyến bay quốc tế như sau:
Bộ Xây dựng cho biết đề xuất tăng mức bồi thường được xây dựng dựa trên chỉ số lạm phát của đồng USD trong giai đoạn 2015-2025 ở mức 25%, theo dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ.
Ngoài ra, theo dự thảo Thông tư, thời hạn để các hãng hàng không thực hiện bồi thường cũng được đề xuất kéo dài lên 30 ngày làm việc kể từ thời điểm chuyến bay bị chậm hoặc hủy, thay vì 14 ngày như quy định hiện hành.
Thảo luận ở hội trường về dự án Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi chiều 12/11/2025, nhiều đại biểu Quốc hội đặt vấn đề về trách nhiệm của hãng hàng không với khách hàng khi chậm chuyến bay, hủy chuyến, từ chối vận chuyển và trách nhiệm bồi thường.
Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh khi đó cho biết lãnh đạo ngành hàng không và các hãng bay đều không muốn xảy ra việc chậm, hủy chuyến bay, nhưng luật phải cụ thể hóa để tới đây khi các sân bay có đầy đủ điều kiện, không còn xảy ra tình trạng này nữa.