Theo Hãng tin AFP ngày 21-4, cây cầu bắc qua sông Tumen – ranh giới tự nhiên giữa Nga và Triều Tiên – sẽ có khả năng phục vụ tối đa 300 phương tiện và khoảng 2.850 người mỗi ngày.
Bộ Ngoại giao Nga gọi đây là “một cột mốc thực sự” trong quan hệ song phương, với ý nghĩa vượt xa một công trình hạ tầng thông thường.
Động thái này phản ánh xu hướng xích lại gần nhau giữa hai quốc gia chịu nhiều sức ép từ các lệnh trừng phạt quốc tế. Những năm gần đây, Matxcơva và Bình Nhưỡng đã tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến quân sự và văn hóa.
Năm 2024, hai bên ký hiệp ước quốc phòng, trong đó cam kết hỗ trợ lẫn nhau nếu một bên bị tấn công.
Cùng năm, Triều Tiên được cho là đã cử hàng nghìn binh sĩ sang Nga, tham gia hỗ trợ lực lượng nước này tại khu vực Kursk nhằm đối phó với các đợt phản công kéo dài của Ukraine.
Song song đó, hoạt động ngoại giao giữa hai nước cũng diễn ra sôi động.
Nhiều quan chức cấp cao của Nga đã tới thăm Triều Tiên trong thời gian gần đây, trong đó có Bộ trưởng Nội vụ Vladimir Kolokoltsev, người đang có mặt tại Bình Nhưỡng.
Theo phía Nga, cây cầu mới sẽ góp phần thúc đẩy thương mại, hợp tác kinh tế và các hoạt động giao lưu nhân đạo giữa vùng Viễn Đông Nga và Triều Tiên. Trong bối cảnh Triều Tiên vẫn bị cô lập trên trường quốc tế, các tuyến kết nối như vậy được đánh giá mang ý nghĩa chiến lược.
Hàn Quốc từng cảnh báo sự hỗ trợ từ Nga và Trung Quốc đang góp phần giúp nền kinh tế Triều Tiên phục hồi sau nhiều năm chịu tác động từ các lệnh trừng phạt nghiêm ngặt, tình trạng cô lập và chi tiêu quân sự lớn.
Dù vậy, nền kinh tế Triều Tiên vẫn ở quy mô rất nhỏ. Theo ước tính của Seoul, GDP danh nghĩa của nước này vào năm 2024 chỉ khoảng 30 tỉ USD – chỉ bằng một phần rất nhỏ của nền kinh tế Hàn Quốc. Triều Tiên không công bố số liệu GDP chính thức của nước này.
Bình Nhưỡng từ lâu phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lương thực, từng trải qua nạn đói nghiêm trọng trong thập niên 1990 và tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Chúng ta đang trong trạng thái ngừng bắn và điều đó nghĩa là 'đồng hồ 60 ngày' sẽ tạm dừng hoặc chấm dứt hiệu lực", Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ngày 29/4 nói với nghị sĩ Tim Kaine trong phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện, đề cập đến chiến dịch tấn công Iran.
Ông Hegseth cũng nhắc đến Đạo luật Quyền lực Chiến tranh, được quốc hội Mỹ thông qua năm 1973, trong đó quy định Tổng thống có 60 ngày để chấm dứt chiến dịch nếu không được quốc hội phê duyệt. "Chiếc đồng hồ" pháp lý này bắt đầu chạy từ ngày 2/3, thời điểm Tổng thống Donald Trump thông báo cho quốc hội về chiến dịch ở Iran và thời hạn 60 ngày kết thúc hôm 1/5.
"Tôi không tin đạo luật ủng hộ cách hiểu đó", thượng nghị sĩ Kaine đáp lại, đồng thời cảnh báo chính quyền Tổng thống Trump đang đối mặt một vấn đề pháp lý nghiêm trọng.
Cuộc tranh luận này một lần nữa khiến sự chú ý trên chính trường Mỹ dồn vào Đạo luật Quyền lực Chiến tranh. Hơn nửa thế kỷ sau khi được thông qua, đây vẫn là công cụ pháp lý rõ ràng nhất mà quốc hội Mỹ sử dụng để kiềm chế quyền lực chiến tranh của tổng thống.
Hiến pháp Mỹ quy định quốc hội, thuộc nhánh lập pháp, nắm quyền tuyên chiến, cấp ngân sách và ban hành khung pháp lý cho việc sử dụng quân đội, trong khi tổng thống, người đứng đầu nhánh hành pháp, là tổng tư lệnh, trực tiếp chỉ huy quân đội và chịu trách nhiệm ứng phó nhanh với các tình huống khẩn cấp liên quan an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân quyền này còn tồn tại "vùng xám" mà nhiều đời tổng thống Mỹ đã tận dụng để phát động chiến dịch mà không cần xin quốc hội phê chuẩn. Để duy trì vai trò của nhánh lập pháp, quốc hội Mỹ năm 1973 đã thông qua Đạo luật Quyền lực Chiến tranh, nhằm giới hạn quyền hạn của tổng thống trong các cuộc chiến ở nước ngoài.
Theo đạo luật, tổng thống có thể kích hoạt quân đội Mỹ trong những tình huống nhất định, bao gồm "tình trạng khẩn cấp quốc gia do một cuộc tấn công nhằm vào Mỹ gây ra". Đạo luật nhấn mạnh tổng thống phải báo cáo quốc hội trong vòng 48 giờ "từ khi quân đội Mỹ tham gia các hoạt động chống lại lực lượng thù địch".
Sau đó là thời hạn 60 ngày để quốc hội xem xét và phê chuẩn chiến dịch. Nếu quốc hội không phê chuẩn, tổng thống phải chấm dứt chiến dịch đó. Luật cho phép tổng thống có thêm tối đa 30 ngày, nhưng chỉ nhằm phục vụ việc rút quân an toàn, không phải để tiếp tục mở rộng chiến dịch.
Trên lý thuyết, đây là giới hạn đáng kể với quyền lực hành pháp, bởi đạo luật thiết lập một "đồng hồ pháp lý" để buộc Nhà Trắng phải tìm kiếm sự hậu thuẫn từ quốc hội nếu muốn kéo dài xung đột. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều thập niên qua cho thấy đạo luật khó trở thành "hàng rào cứng" đối với tổng thống Mỹ.
Tổng thống Bill Clinton ngày 26/3/1999 gửi thư đến quốc hội thông báo về quyết định ông đưa ra hai ngày trước đó, đưa Mỹ tham gia chiến dịch của NATO nhằm vào Nam Tư. Ông lưu ý rất khó dự đoán chiến dịch sẽ kéo dài trong bao lâu.
Lưỡng viện Mỹ sau đó nhiều lần bỏ phiếu về các nghị quyết chấp thuận hoặc bác bỏ quyết định của ông Clinton trong tháng 3-4/1999, nhưng không thể thông qua được biện pháp nào. NATO kết thúc chiến dịch sau 78 ngày, đồng nghĩa ông Clinton đã vượt quá thời hạn quy định.
Hạ nghị sĩ Cộng hòa Tom Campbell đã đệ đơn kiện ông Clinton vi phạm Đạo luật Quyền lực Chiến tranh. Một tòa án liên bang bác bỏ vụ kiện, cho rằng các nghị sĩ không có đủ tư cách pháp lý để tòa thụ lý, do đó không ra phán quyết về việc ông Clinton có phạm luật hay không.
Tháng 3/2011, tổng thống Barack Obama triển khai quân đội Mỹ tham gia chiến dịch của NATO nhằm vào chính quyền Libya dưới thời ông Muammar Gaddafi. Ông cũng không được quốc hội chấp thuận trước cho quyết định này.
Tổng thống Obama sau đó vẫn tiếp tục các hoạt động quân sự của Mỹ tại Libya khi đã vượt quá mốc 60 ngày. Chính quyền của ông lập luận rằng chiến dịch không cấu thành "hoạt động thù địch" theo nghĩa mà đạo luật đề cập, bởi không có giao tranh kéo dài và Mỹ không triển khai lực lượng trên bộ.
Mỹ ngày 28/2 phối hợp cùng Israel tấn công hàng loạt mục tiêu ở Iran, khi chưa có sự chấp thuận từ quốc hội. Tổng thống Trump thông báo cho quốc hội ngày 2/3 rằng ông phát động chiến dịch theo thẩm quyền hiến định nhằm bảo vệ người dân, lợi ích quốc gia và thúc đẩy các mục tiêu an ninh, đối ngoại của Mỹ. Đây cũng là cách diễn đạt từng được ông Clinton và ông Obama sử dụng.
"Tôi trân trọng sự ủng hộ từ quốc hội với động thái này", ông Trump viết.
Mỹ và Iran đạt lệnh ngừng bắn từ ngày 7/4, theo giờ Washington, và đã gia hạn để đàm phán. Đây chính là cơ sở để chính quyền Tổng thống Trump đưa ra cách diễn giải khác với "đồng hồ 60 ngày", theo lý thuyết sẽ kết thúc vào ngày 1/5.
Bruce Fein, chuyên gia luật quốc tế và hiến pháp Mỹ, nói với Al Jazeera rằng Đạo luật Quyền lực Chiến tranh "không đề cập ở bất kỳ đâu rằng đồng hồ 60 ngày sẽ dừng nếu có lệnh ngừng bắn". Ông Fein lưu ý nếu chấp nhận lập luận đó, đạo luật sẽ trở thành "hổ giấy".
"Tôi không chắc sẽ có bao nhiêu người chấp nhận lập luận đó", Scott Lucas, giáo sư về chính trường Mỹ và quốc tế tại Viện Clinton, Đại học UCD, Ireland, bình luận với Washington Post. "Vấn đề có thể trở nên phức tạp nếu Mỹ nối lại các cuộc không kích hoặc triển khai bộ binh trên thực địa".
Quốc hội Mỹ đến nay chưa ra nghị quyết nào về việc chấp thuận cuộc chiến với Iran và cũng chưa thông báo kế hoạch hành động khi hạn chót trôi qua. Tạp chí Time đưa tin phe Dân chủ đang xem xét các phương án kiện ông Trump nếu Tổng thống tiếp tục cuộc chiến.
Các nghị sĩ Dân chủ đã nhiều lần đề xuất dự thảo nghị quyết giới hạn quyền lực chiến tranh của ông Trump để chấm dứt chiến sự, nhưng đều bất thành vì đảng Cộng hòa đang kiểm soát lưỡng viện. Lãnh đạo Cộng hòa tại Thượng viện John Thune nói ông sẽ xem xét kỹ lưỡng lợi ích của đảng này trước khi hành động.
Một quyết định ủng hộ xung đột có thể khiến cử tri Mỹ rời xa đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11. Kết quả thăm dò do Reuters/Ipsos công bố tuần này cho thấy chỉ 34% cử tri Mỹ ủng hộ cuộc chiến với Iran. Mô hình dự báo của nền tảng phân tích bầu cử Silver Bulletin cho thấy tỷ lệ ủng hộ - phản đối cuộc chiến là 38,4% và 54,8%.
Trong khi đó, Nhà Trắng cho biết chính quyền ông Trump đang "trao đổi tích cực với quốc hội" về vấn đề, đồng thời cảnh báo các nhà lập pháp không nên "ghi điểm chính trị bằng cách tiếm quyền của Tổng tư lệnh".
Tin Gốc: Vnexpress

Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 19/5 tới Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm hai ngày đến Trung Quốc với tiêu điểm là cuộc hội đàm với Chủ tịch Tập Cận Bình. Đây là lần thứ hai ông Putin gặp ông Tập trong vòng một năm, sau chuyến công du 4 ngày của lãnh đạo Nga cuối tháng 8/2025.
Cuộc gặp diễn ra khi chiến sự Nga - Ukraine vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc và xung đột Iran đã làm rung chuyển thị trường năng lượng toàn cầu. Các vấn đề này được cho là đang thúc đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn để tìm kiếm lợi ích chung.
"Quan hệ giữa Trung Quốc và Nga phản ánh lựa chọn của hai quốc gia độc lập trong việc thúc đẩy phát triển, bảo đảm an ninh và mở rộng hợp tác cùng có lợi, dựa trên lợi ích của mỗi nước cũng như mục tiêu duy trì ổn định khu vực và toàn cầu", tờ China Daily của Trung Quốc viết trong bài xã luận đăng ngày 19/5.
Chuyến thăm lần này của Tổng thống Putin trùng dịp kỷ niệm 30 năm Nga - Trung thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược và 25 năm Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Nga - Trung, văn kiện đặt nền móng cho quan hệ song phương sau nhiều thập kỷ nghi kỵ.
Sau nhiều năm chịu sức ép từ phương Tây, Moskva ngày càng thúc đẩy quan hệ với Bắc Kinh về thương mại, công nghệ và năng lượng. Trong khi đó, Trung Quốc coi Nga là đối tác chiến lược quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và gia tăng ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Nhu cầu về công nghệ và 'lối thoát kinh tế' của Nga
Trong video đăng trước thềm chuyến thăm, Tổng thống Putin cho biết quan hệ Nga - Trung đã đạt "mức độ chưa từng thấy về hiểu biết và tin cậy lẫn nhau".
Sau khi chiến sự Ukraine bùng phát cuối tháng 2/2022, Mỹ và nhiều nước châu Âu đã áp hàng loạt lệnh trừng phạt Nga để trả đũa. Khi hầu hết doanh nghiệp phương Tây rời đi, nhiều tuyến thương mại bị gián đoạn, Trung Quốc đã trở thành "phao cứu sinh" giúp Nga duy trì hoạt động kinh tế và thích nghi với môi trường bị cô lập hơn trước. Kim ngạch thương mại hai chiều Nga - Trung đạt 237 tỷ USD vào năm 2024, gấp đôi so với năm 2020.
"Với Nga, chuyến thăm của ông Putin rất quan trọng", Sergei Guriev, hiệu trưởng Trường Kinh doanh London, Anh, nói với CNBC. "Nga còn phụ thuộc vào Trung Quốc về công nghệ, hàng tiêu dùng và hàng hóa sản xuất".
Một báo cáo gần đây của Bloomberg cho thấy Nga nhập từ Trung Quốc hơn 90% mặt hàng công nghệ bị phương Tây siết kiểm soát, trong đó có nhiều linh kiện quan trọng phục vụ sản xuất máy bay không người lái (UAV) và công nghiệp quốc phòng.
Trung Quốc là một trong những khách hàng lớn nhập khẩu dầu thô, khí đốt và nhiều nguyên liệu khác từ Nga, thay thế phần nào vai trò của thị trường châu Âu trước đây. Nhiều công ty Trung Quốc đã nhanh chóng lấp khoảng trống do doanh nghiệp phương Tây để lại trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử và viễn thông ở Nga.
Tuy nhiên, cán cân thương mại có điểm bất đối xứng. Trong khi Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Nga, Moskva lại chỉ chiếm khoảng 4% tổng kim ngạch thương mại của Bắc Kinh.
Trung Quốc cần an ninh năng lượng và vai trò địa chính trị
Ở chiều ngược lại, quan hệ với Nga cũng mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và địa chính trị.
Trong bối cảnh bất ổn tại Trung Đông và nguy cơ gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz, Bắc Kinh ngày càng chú trọng đến các nguồn cung năng lượng ổn định qua đường bộ. Nga, với trữ lượng dầu khí khổng lồ và đường biên giới dài hơn 4.300 km với Trung Quốc, trở thành đối tác phù hợp.
Yury Ushakov, trợ lý chính sách đối ngoại của Tổng thống Putin, cho biết xuất khẩu dầu thô từ Nga sang Trung Quốc tăng 35% trong quý I. "Trong cuộc khủng hoảng Trung Đông, Nga vẫn là một nhà cung ứng năng lượng đáng tin cậy và Trung Quốc là bên tiêu thụ có trách nhiệm", ông Ushakov nói.
Một trong những dự án được chú ý là đường ống khí đốt "Power of Siberia 2", dự kiến vận chuyển khoảng 50 tỷ m3 khí đốt Nga sang Trung Quốc mỗi năm. Dự án đã được thảo luận nhiều năm nhưng đang nhận được sự quan tâm lớn hơn trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động.
Quan hệ với Nga còn mang ý nghĩa chiến lược với Trung Quốc, bởi Moskva là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn và có vai trò quan trọng trong nhiều vấn đề quốc tế. Hai nước thường phối hợp lập trường trong các vấn đề đối ngoại và cùng phản đối điều họ gọi là trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt.
Theo giới quan sát, chiến sự Ukraine cũng giúp Trung Quốc có thêm cơ hội đánh giá thực tế chiến tranh hiện đại, từ hiệu quả của UAV cho tới khả năng chống chịu trước các lệnh trừng phạt quy mô lớn.
Nhà phân tích Bobo Lo, cựu phó đại sứ Australia tại Moskva, nhận định Nga - Trung "không phải đồng minh, mà là quan hệ đối tác chiến lược linh hoạt".
Theo ông, chính sự linh hoạt này giúp quan hệ giữa hai nước bền vững hơn so với mô hình liên minh quân sự truyền thống, bởi cả Moskva và Bắc Kinh đều không bị ràng buộc phải bảo vệ bên kia trong mọi tình huống.
Giới hạn của mối quan hệ
Trên thực tế, quan hệ Nga - Trung vẫn tồn tại khác biệt đáng kể. Nền kinh tế Trung Quốc có quy mô lớn hơn, được đánh giá là có lợi thế hơn trong đàm phán song phương. Bắc Kinh cũng tránh gây áp lực quá mức với Moskva, nhằm không tạo cảm giác Nga bị lép vế hoàn toàn.
Các nhà phân tích cho rằng Nga nhận thức rõ rủi ro của sự phụ thuộc ngày càng lớn vào Trung Quốc. Trong một bài bình luận gần đây, Dmitry Trenin, Chủ tịch Hội đồng Các vấn đề Quốc tế Nga, nhấn mạnh Moskva không muốn trở thành "đối tác cấp dưới" của Bắc Kinh.
"Điều quan trọng là duy trì vị thế bình đẳng trong quan hệ với Trung Quốc và ghi nhớ rằng Nga là một cường quốc", ông Trenin viết.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Moskva và Bắc Kinh đều có ít lựa chọn khác đủ để thay thế vai trò của nhau. Nga cần thị trường, công nghệ và đối tác chiến lược để giảm tác động từ sức ép phương Tây. Trung Quốc cần nguồn năng lượng ổn định và một đối tác có khả năng hỗ trợ quá trình cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ.
"Quan hệ đối tác Trung - Nga vẫn bền vững. Cả hai đều hiểu rằng mối quan hệ này quan trọng đến mức không thể làm tổn hại", Bobo Lo nhận định với BBC.
Tin Gốc: Vnexpress

Video được chuyên trang quân sự Topwar công bố ngày 12/7 cho thấy nội dung huấn luyện đối phó máy bay không người lái (UAV) tự sát dành cho các khẩu đội phòng không di động. Một quân nhân Nga điều khiển bệ súng máy 4 nòng xoay YakB-12.7 đặt trên xe tải, phía sau là huấn luyện viên làm nhiệm vụ giám sát.
Khi xạ thủ siết cò, khẩu súng lập tức mất kiểm soát, xoay tròn và hất văng người này xuống đất. Huấn luyện viên cũng lập tức cúi rạp người và tránh được loạt đạn 12,7 mm bắn ngang đầu, trong lúc khẩu YakB-12.7 tiếp tục khai hỏa đến khi hết đạn.
Huấn luyện viên đứng dậy quan sát rồi nhanh chóng ngồi xuống nhằm đề phòng nguy cơ súng còn đạn. Người này dùng tay chặn bệ súng, sau đó vô tình chạm tay vào phần nòng súng còn nóng và dường như đã bị bỏng.
Truyền thông Nga cho biết không có ai bị thương vong trong sự việc, chưa rõ loạt đạn lạc có gây thiệt hại vật chất hay không.
Súng máy hạng nặng YakB-12.7 sử dụng đạn cỡ 12,7x108 mm, được trang bị cho trực thăng vũ trang Mi-24. Thiết kế 4 nòng xoay cho phép nó đạt tốc độ bắn 4.000-5.000 phát mỗi phút. YakB-12.7 thường được lắp trực tiếp vào bệ VSPU-24 dưới mũi trực thăng với cơ số đạn 1.470 viên hoặc gắn vào cụm súng máy GUV-8700 với 750 viên đạn.
Một số phi công Liên Xô tham chiến tại Afghanistan cho biết loạt đạn từ YakB-12.7 có thể bắn thủng công sự bằng đất dày nửa mét từ khoảng cách một km. YakB-12.7 sau đó được thay bằng pháo GSh-30K hoặc GSh-23L với sức công phá lớn hơn để tấn công mục tiêu kiên cố hoặc thiết giáp.
Các kỹ sư Nga gần đây gắn súng máy YakB-12.7 lên nhiều phương tiện mặt đất, trong đó có xe tải và thiết giáp đa dụng MT-LB, nhằm đối phó UAV Ukraine. Súng được đặt trên giá đỡ với thanh tì vào vai xạ thủ để giảm giật, một số bệ lắp kính ngắm ảnh nhiệt và màn hình trước mặt xạ thủ.
"Nhược điểm của YakB-12.7 là súng quá mạnh. Sử dụng chúng đòi hỏi quân nhân phải được huấn luyện bài bản", biên tập viên Vladimir Lytkin của Topwar nhận xét.
Tin Gốc: Vnexpress

