Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho biết tại diễn đàn khơi thông dòng vốn, chiều 20/5.
Theo ông Lân, việc điều hành phải đặt trong mục tiêu ổn định vĩ mô, nên “không thể ưu tiên một lĩnh vực nào”.
Theo Ngân hàng Nhà nước, năm 2025 tín dụng toàn nền kinh tế tăng trên 19%, trong khi huy động vốn chỉ khoảng 14%. Tính đến giữa tháng 5, dư nợ tín dụng đạt khoảng 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ, còn huy động vốn là 18 triệu tỷ đồng, tăng gần 14,9%.
“Khoảng cách giữa tăng trưởng huy động và tín dụng đang khá lớn. Nếu huy động tăng chậm hơn cho vay, ngân hàng sẽ chịu áp lực thanh khoản, ảnh hưởng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế”, ông Lân cho biết.
Vì vậy, việc định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm nay nhằm bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và ổn định tài chính. Tuy nhiên, đây không phải mức “cứng”, có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế.
Tại hội thảo, ý kiến từ Hiệp hội bất động sản TP HCM và cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cần nới room tín dụng, phân loại phân khúc nhà ở và ưu tiên vốn cho nhà ở phục vụ nhu cầu thực.
Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TP HCM (HoREA), sau giai đoạn khó khăn về pháp lý, thách thức lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là tiếp cận vốn.
Ông nhận định dòng vốn ngân hàng vẫn là “bà đỡ” quan trọng, doanh nghiệp sẽ gặp khó khi bị tín dụng bị siết, ảnh hưởng nguồn cung ra thị trường.
Cùng quan điểm, ông Trần Văn Hiếu, Tổng giám đốc OBC Holding, nói ngân hàng cần phân loại bất động sản theo từng phân khúc, thay vì quản lý chung. Theo đó, nhà ở phục vụ nhu cầu thực, đặc biệt phân khúc vừa túi tiền, không nên chịu cùng mặt bằng tín dụng với bất động sản cao cấp và nghỉ dưỡng.
“Điều này làm gia tăng chi phí vốn và tạo áp lực lên giá nhà. Vì vậy, cần có cơ chế tín dụng phù hợp hơn cho phân khúc nhà ở phục vụ nhu cầu ở thực”, ông Hiếu nói.
Phản hồi các ý kiến này, ông Nguyễn Phi Lân cho hay dòng vốn vào bất động sản vẫn tăng cao hơn mức bình quân của nền kinh tế. Điều này cho thấy hệ thống ngân hàng đang dành nguồn lực đáng kể cho thị trường.
Đại diện cơ quan điều hành cũng nhấn mạnh việc phân bổ tín dụng phải đặt trong tổng thể nền kinh tế, tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực, gây khó khăn tiếp cận vốn cho các ngành khác, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Không thể chỉ nhìn ở góc độ doanh nghiệp bất động sản mà phải cân bằng giữa các ngành nghề”, ông Lân nói, thêm rằng cơ quan quản lý đang rà soát đề xuất phân loại từng phân khúc bất động sản để có chính sách tín dụng phù hợp.
Ở góc độ tài chính, ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối Đầu tư và Chiến lược Tập đoàn HASCO Holdings, cho rằng về lâu dài thị trường bất động sản cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Các doanh nghiệp địa ốc nên phát triển đồng thời 4 trụ cột vốn gồm tín dụng, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và vốn quốc tế.
Theo ông Thuận, tín dụng ngân hàng nên gắn với chất lượng pháp lý dự án và dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Cùng với đó, cơ quan quản lý cần thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư để mở rộng vốn dài hạn, tăng thu hút vốn ngoại thông qua minh bạch hóa và mua bán sáp nhập (M&A).
Báo cáo tài chính quý 1-2026 vừa công bố của Tập đoàn Bảo Việt (BVH) cho thấy danh mục đầu tư tài chính của doanh nghiệp đạt 283.242 tỉ đồng, tăng gần 6% so với đầu năm.
Trong đó danh mục đầu tư vào cổ phiếu niêm yết chiếm 3.846 tỉ đồng, tăng 9%. Mức tăng chủ yếu do BVH bỏ ra gần 320 tỉ đồng "gom" thêm cổ phiếu FPT trong quý 1.
Cũng trong quý này, cổ phiếu FPT ghi nhận mức giảm tới 25%, khiến nhiều cổ đông "đau tim".
Như vậy khi tính gộp lại, tại thời điểm cuối tháng 3-2026, BVH ghi nhận đang đầu tư vào FPT 442 tỉ đồng. Khoản đầu tư này được ghi nhận tạm lỗ gần 5 tỉ đồng sau khi trích lập dự phòng.
Ngược lại, BVH thoái bớt vốn khỏi cổ phiếu VNM của Vinamilk, đưa giá trị đầu tư mã này từ 419 tỉ đồng về 351 tỉ đồng.
Trong khi các khoản đầu tư vào ACB, CTG được tập đoàn giữ nguyên so với cuối năm ngoái.
Với đặc thù doanh nghiệp bảo hiểm, sở hữu lượng tiền mặt dồi dào, BVH chỉ rót một phần vào đầu tư chứng khoán, còn lại chủ yếu đem gửi ngân hàng và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ.
Nhờ vậy khoản doanh thu tài chính của BVH trong 3 tháng đầu năm nay đạt 3.990 tỉ đồng, tăng gần 26% so với cùng kỳ.
Trong đó lãi từ tiền gửi tăng mạnh lên 2.290 tỉ đồng trong bối cảnh lãi suất tăng cao hơn. Tiếp đến lãi đầu tư trái phiếu đạt 1.401 tỉ đồng. Còn lãi đầu tư, kinh doanh chứng khoán mang về cho BVH hơn 41 tỉ đồng.
Mục tiêu trên được ông Đỗ Quang Vinh, Chủ tịch Chứng khoán SHS, nêu tại phiên họp thường niên diễn ra ngày 17/4. Đây được cho là kế hoạch tham vọng khi SHS vẫn nằm ngoài nhóm 10 công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất, tính đến cuối quý I năm nay, theo số liệu từ Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE).
Theo ông Đỗ Quang Vinh, doanh nghiệp này có lợi thế hút thêm khách hàng lớn do đang "sống" trong một hệ sinh thái tài chính khép kín, trong đó có ngân hàng SHB, công ty quản lý quỹ hay tập đoàn T&T. Chủ tịch này nhấn mạnh mục tiêu SHS muốn tham gia các thương vụ phát hành lớn, đồng thời kết nối với các nhà đầu tư quốc tế.
Chia sẻ sâu hơn về mục tiêu này, Tổng giám đốc Nguyễn Duy Linh cho biết công ty hiện nắm khoảng 1,65% thị phần môi giới trên HoSE. "Nếu muốn vào nhóm 10 công ty hàng đầu, thị phần của chúng tôi cần nâng lên khoảng 3%", ông Linh nói.
CEO này đánh giá kế hoạch của công ty có cơ sở khi số lượng nhà đầu tư chứng khoán hiện chỉ chiếm khoảng 11% dân số. Vì vậy, ông cho rằng dư địa để hút thêm khách vẫn còn nhiều khi lượng nhà giao dịch đi lên. Ngoài ra, Chính phủ cũng muốn thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán như một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế.
Để gia tăng thị phần môi giới, Tổng giám đốc SHS chia sẻ công ty đặt trọng tâm tăng trưởng cả quy mô lẫn tài sản của khách hàng. Doanh nghiệp này dự kiến chia phân hạng khách hàng chi tiết để thiết kế sản phẩm phù hợp, đồng thời thời đầu tư vào cả công nghệ lẫn nâng cao trình độ đội ngũ tư vấn. "Những sản phẩm mang tính chất chung chung sẽ không thu hút được nhà đầu tư", ông Linh nói.
Ngoài ra, công ty cũng sẽ đa dạng hóa phương thức thanh toán cho các khách hàng. Ông Duy Linh cũng khẳng định không theo đuổi cuộc đua miễn phí giao dịch (zero fee) trên diện rộng. Thay vào đó, mức phí và lãi suất cho vay sẽ được đưa ra theo từng phân khúc khách hàng, đi kèm với giá trị gia tăng về sản phẩm và dịch vụ.
Năm 2026, SHS được cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh với tổng doanh thu dự kiến 3.739 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 1.718 tỷ đồng, tăng lần lượt 2% và 4% so với năm trước. Tuy nhiên, đà tăng trưởng của năm nay dự kiến sẽ thấp hơn mức 33% của năm ngoái.
Ông Đỗ Quang Vinh đánh giá kế hoạch kinh doanh năm nay thận trọng nhưng phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chủ tịch này cho biết bối cảnh quốc tế với các nhiều cuộc căng thẳng địa chính trị diễn ra vẫn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô xuyên suốt năm 2026.
Ngoài ra, Hội đồng quản trị công ty còn muốn đặt mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng ở các mảng kinh doanh khác. Theo đó, SHS sẽ thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng bền vững, bằng cách hạ tỷ trọng hoạt động tự doanh và đẩy mạnh vào các nguồn thu khác."Nếu năm 2025, mảng đầu tư chiếm hơn một nửa lợi nhuận thì năm 2026 tỷ trọng này giảm còn khoảng 35%", ông Duy Linh nói.
Ngược lại, các nguồn thu cốt lõi như cho vay, môi giới, ngân hàng đầu tư và sản phẩm tài chính sẽ tăng tỷ trọng đóng góp. Trong đó, hoạt động cho vay dự kiến chiếm khoảng 46%, các mảng khác khoảng 10-15%.
Sáng 13-5, tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance tổ chức tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68”.
Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách.
Cụ thể, hàng loạt nghị quyết, văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thực thi, xử lý vướng mắc pháp lý và điều chỉnh quy định theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.
Ông đánh giá trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi rất lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp kỳ vọng và chờ đợi vào bước đột phá chính sách xuất hiện và tâm lý này vẫn còn hiện hữu.
“Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn vào thực tế, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn”, ông Bình nhận định.
Ông lấy ví dụ hàng loạt dự án quy mô hàng trăm nghìn tỉ đồng của các tập đoàn Vingroup hay Sungroup liên tiếp được khởi công, cho thấy tác động tích cực của chính sách với khu vực doanh nghiệp lớn.
Ở chiều ngược lại, khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức không khí tích cực ban đầu dần thay thế bởi tâm lý lo âu. Điều này xuất phát từ những lo ngại liên quan đến thuế, kiểm tra hàng giả, hàng nhái hay hoạt động thanh tra, kiểm tra.
TS Lê Duy Bình cho biết do hạn chế về thể chế, quy định pháp luật, quá trình triển khai Nghị quyết 68 xuất hiện những phản ứng ngược ngoài mong muốn.
Ông lấy ví dụ chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn nặng tư duy coi các chủ thể này là “đối tượng quản lý”, thay vì xem họ là đối tác hay khách hàng trong quá trình quản trị quốc gia.
TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cũng đánh giá hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng, nhưng theo thời gian tâm lý tích cực đã giảm dần. Khảo sát của Ban IV cho thấy khoảng 7/10 doanh nghiệp được hỏi vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
“Doanh nghiệp lớn vui hơn doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vui hơn hộ kinh doanh. Chúng ta cần lan tỏa niềm vui đến toàn bộ nếu không sẽ tạo ra sự méo mó”, ông chia sẻ.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động được tới lớp doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
Ông Bùi Thanh Minh cũng lưu ý dư luận đang đặt quá nhiều kỳ vọng vào riêng Nghị quyết 68, trong khi cải cách thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi là quá trình dài hạn, không thể giải quyết chỉ trong vài tháng.
Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi nằm ở tư duy thiết kế cải cách. Nếu chỉ nhìn từng vấn đề riêng lẻ mà thiếu góc nhìn tổng thể thì càng cải cách càng không tạo được tác động thực chất, thậm chí còn khiến doanh nghiệp khó khăn hơn.
“Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”, ông nói.
Ông cho biết sau khi nghị quyết được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách. Tuy nhiên nhiều chính sách quan trọng vẫn triển khai chậm. Trong khi áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt yêu cầu chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững, đang tạo sức ép rất lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
TS Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng niềm tin của doanh nghiệp đang bị xói mòn không hẳn do khó khăn thị trường, mà từ các biện pháp can thiệp hành chính và thay đổi chính sách điều hành.
Thực tế, doanh nghiệp và người dân có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Điều này không đơn thuần là hành vi đầu tư, mà phản ánh tâm lý muốn giữ tài sản trong bối cảnh niềm tin đối với môi trường kinh doanh suy giảm.
Vị chuyên gia cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều cần thiết không phải là ban hành thêm thật nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo ra môi trường ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.