Hitachi hôm 21/4 thông báo bán lại mảng kinh doanh thiết bị gia dụng, vận hành bởi công ty con Hitachi Global Life Solutions (Hitachi GLS) cho nhà bán lẻ Nhật Bản Nojima, với giá hơn 100 tỷ yen (630,32 triệu USD).
Hai bên sẽ cùng lập công ty mới do Nojima nắm 80,1% cổ phần và Hitachi GLS giữ 19,9% còn lại. Nojima nắm quyền sản xuất đến hậu mãi cho loạt thiết bị gia dụng như tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi và thiết bị nhà bếp thương hiệu Hitachi.
Hitachi đánh giá nhu cầu khách hàng điện tử gia dụng ngày càng đa dạng và thay đổi với tốc độ nhanh chưa từng có. Vì vậy, Nojima – với lợi thế bán lẻ – sẽ nắm bắt “tiếng nói khách hàng”, trong khi hãng tận dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, độ tin cậy cao để đưa sản phẩm ra thị trường nhanh hơn.
Chủ tịch kiêm Giám đốc Hitachi GLS Hideki Osumi cho biết công ty mới phát triển sản phẩm dựa trên nhu cầu thực tế mà Nojima xác định qua tương tác hàng ngày với người tiêu dùng. “Công ty sẽ tạo ra vòng tuần hoàn tích cực, với phản hồi của khách hàng và dịch vụ hậu mãi được phản ánh vào giai đoạn phát triển sản phẩm tiếp theo”, ông mô tả.
Theo Phó chủ tịch cấp cao kiêm CEO Hitachi Noriharu Amiya, thương vụ là cách hiểu nhanh hơn xu hướng thị trường, đảm bảo tăng trưởng bền vững cho mảng thiết bị gia dụng. “Chúng tôi tin rằng thế mạnh của hai công ty sẽ hội tụ để tiếp tục nâng cao giá trị của các sản phẩm thiết bị gia dụng thương hiệu Hitachi”, ông nói.
Hitachi được thành lập năm 1910 bởi kỹ sư điện Namihei Odaira ở Ibaraki, Nhật Bản. Tập đoàn trăm tuổi này hoạt động đa ngành, kinh doanh nhiều sản phẩm từ đồ điện gia dụng đến lò phản ứng hạt nhân, phát triển đường sắt, lưới điện.
Nhưng sau cú suýt phá sản năm 2009, với khoản lỗ ròng 8 tỷ USD, Hitachi quyết định tái cấu trúc, tập trung kinh doanh B2B, tức phục vụ doanh nghiệp trong các mảng công nghệ thông tin, năng lượng, đường sắt để tìm kiếm lợi nhuận ổn định.
Do đó, họ bắt đầu thoái vốn khỏi những mảng được cho là không thể tạo ra lợi nhuận ổn định, gồm các cả công ty Hitachi Metals, Hitachi Cable và Hitachi Chemical hay ngành hàng điện tử tiêu dùng. Năm 2015, công ty nhượng lại cổ phần trong liên doanh điều hòa không khí gia dụng cho Bosch (Đức). Đến 2021, họ bán mảng kinh doanh thiết bị gia dụng quốc tế cho Arcelik (Thổ Nhĩ Kỳ).
Theo Nikkei, một số người tại Hitachi vốn không muốn từ bỏ mảng thiết bị gia dụng, vì cho rằng nó giúp công ty duy trì nhận diện thương hiệu, thu hút nhân tài. Nhưng mảng này dựa trên doanh thu bán hàng một lần, chứ không phải định kỳ và đối mặt cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ Trung Quốc.
Bản thân Hitachi GLS cũng đang gặp khó khăn về tăng trưởng. Doanh thu công ty trong chín tháng kết thúc vào tháng 12/2025 giảm 3% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 263,4 tỷ yen (1,65 tỷ USD). Nikkei đánh giá quyết định bán Hitachi GLS “đánh dấu đỉnh điểm của nỗ lực chuyển đổi” trong suốt 15 năm qua. “Với Hitachi, mảng kinh doanh thiết bị gia dụng là mục tiêu cuối cùng được bán trong quá trình tái cấu trúc”, tờ báo nêu.
Thực tế, mảng này không còn đáng kể trong cơ cấu doanh thu của tập đoàn. Năm tài chính kết thúc vào tháng 3/2025, doanh thu Hitachi GLS đạt 367,6 tỷ yen, chiếm chưa đầy 4% trong tổng doanh thu 9.783,3 tỷ yen. Tập đoàn cũng khẳng định tác động của việc chuyển nhượng cổ phần đến báo cáo tài chính hợp nhất là “không đáng kể”. Thương vụ dự kiến hoàn tất trong năm tài chính kết thúc ngày 31/3/2027, sau khi nhận được các chấp thuận của cơ quan quản lý, căn cứ theo luật cạnh tranh và các quy định liên quan khác.
Với việc hoàn tất cuộc từ giã mảng thiết bị gia dụng, Hitachi tập trung cao độ cho cuộc tái tổ chức thành một “công ty lấy kỹ thuật số làm trung tâm” theo kế hoạch có tên “Inspire 2027”. Theo hãng công nghệ Nhật Bản, định hướng này phù hợp với các điều kiện kinh tế vĩ mô toàn cầu đang thay đổi. Đồng thời, tăng cường cam kết đầu tư cho Lumada 3.0 – phiên bản mới nhất của nền tảng giải pháp số mà họ chọn giữ lại làm mũi nhọn phát triển sau lần suýt phá sản.
Lumada là bộ phận cung cấp dịch vụ khoa học dữ liệu cho các đơn vị vận hành hạ tầng, thành lập từ năm 2016. Thập niên qua, khi bán dần các mảng thiết bị tiêu dùng, Hitachi lại nỗ lực thâu tóm nhiều công ty trong ngành để củng cố sức mạnh cho Lumada. Đơn cử, năm 2021, họ mua lại nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật số GlobalLogic (Mỹ) để bổ sung khoảng 30.000 kỹ sư vào năng lực xây dựng các hệ thống quan trọng cho Lumada.
Lumada đang ở phiên bản 3.0, định hướng tập trung vào “trí tuệ nhân tạo vật lý” (physical AI). Về cơ bản, physical AI là khả năng “chạm vào thế giới thật” của AI, tức không chỉ phân tích, xử lý dữ liệu trên máy tính mà từ đó ra quyết định điều khiển máy móc, thiết bị, hạ tầng.
Theo CEO Hitachi Toshiaki Tokunaga, “physical AI” là giai đoạn tiếp theo trong quá trình tiến hóa của AI – từ trí tuệ nhân tạo tạo sinh đến trí tuệ nhân tạo tác nhân và giờ là trí tuệ nhân tạo vật lý. Diễn biến này kết hợp với các chính sách toàn cầu đang thay đổi định hình nên bối cảnh kinh doanh mới cho công ty.
Vì vậy, họ đặt mục tiêu trở thành “đơn vị thực hành physical AI hàng đầu thế giới” bằng cách kết hợp công nghệ thông tin (IT), công nghệ vận hành (OT), sản phẩm và hệ sinh thái thử nghiệm giải pháp mới ngay trong chính các đơn vị kinh doanh của tập đoàn. “Phát triển chiến lược này nhằm củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững và thúc đẩy hoạt động kinh doanh Lumada”, ông Toshiaki Tokunaga, nói.
Từ đầu năm đến kết phiên giao dịch ngày 23/4, cổ phiếu Hitachi tăng 2,66%, vốn hóa công ty khoảng 23.600 tỷ yen, xấp xỉ 148 tỷ USD.
Nhu cầu sử dụng các loại hương liệu, phụ gia thực phẩm ngày càng tăng trong khi hầu hết doanh nghiệp trong nước chưa làm chủ được công nghệ sản xuất, phải nhập khẩu hầu như hoàn toàn.
Việc sử dụng phụ gia thực phẩm được xác định là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới. Tuy vậy, việc quản lý sử dụng phụ gia như thế nào để đảm bảo an toàn sức khỏe hiện nay vẫn còn nhiều lỗ hổng.
Doanh nghiệp Việt vẫn lệ thuộc hàng ngoại
Tại Triển lãm quốc tế chuyên ngành Nguyên liệu, Hương liệu, Phụ gia chế biến thực phẩm & Đồ uống Việt Nam (Fi Vietnam 2026) đang diễn ra tại TPHCM, nhiều doanh nghiệp cho biết nhu cầu sử dụng hương liệu, phụ gia thực phẩm trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt trong ngành chế biến thực phẩm công nghiệp.
Ông Nguyễn Xuân Minh - đại diện Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Spice - cho biết doanh nghiệp mỗi tháng nhập khẩu và phân phối lượng lớn sản phẩm bột trứng phục vụ thị trường trong nước. Các dòng sản phẩm gồm bột nguyên trứng, bột lòng đỏ và bột lòng trắng có ưu thế vượt trội so với trứng tươi về khả năng bảo quản và tính tiện dụng trong sản xuất công nghiệp - chỉ cần tránh ánh nắng mặt trời, không đòi hỏi kiểm soát nhiệt độ nghiêm ngặt.
"Khi đưa vào sản xuất các sản phẩm như giò, chả…, bột trứng còn giúp sản phẩm dai, giòn hơn, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam", ông Minh cho hay.
Dù Việt Nam có nguồn nguyên liệu trứng dồi dào và chi phí thấp, sản xuất trong nước vẫn rất hạn chế do rào cản công nghệ. "Cùng là bột trứng nhưng công nghệ sản xuất của Ý, Ấn Độ hay Trung Quốc sẽ cho ra chất lượng sản phẩm khác nhau. Đây là lĩnh vực còn khá mới với doanh nghiệp Việt", ông Minh chia sẻ.
Không riêng bột trứng, phần lớn hương liệu và phụ gia thực phẩm hiện đều phải nhập khẩu. Đại diện Công ty Cổ phần Nguyên liệu thực phẩm và dược phẩm MQ - WIN Flavor nhận định thị trường F&B Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mới, khi người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sản phẩm tốt cho sức khỏe, ít đường, có nguồn gốc tự nhiên.
Trong bối cảnh đó, hương liệu và nguyên liệu thực phẩm trở thành yếu tố chiến lược giúp doanh nghiệp tạo bản sắc sản phẩm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng "xanh", bền vững.
Một số doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất từ nguyên liệu nông sản nội địa, song con đường này không hề dễ đi. MQ - WIN Flavor hiện đang phát triển khoảng 20 mã hương liệu, phụ gia thực phẩm, đồng thời cử nhân sự ra nước ngoài học tập quy trình từ các công ty đi trước - bước đi được xem là tiền đề để điều chỉnh công thức phù hợp hơn với khẩu vị người tiêu dùng trong nước.
Cơ hội nâng chuẩn và lỗ hổng cần bịt kín
Bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TPHCM (FFA) - nhận định trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế sản lượng hay giá thành.
"Đầu tư vào chất lượng nguyên liệu, nghiên cứu công thức sản phẩm, phát triển phụ gia và ứng dụng công nghệ chế biến hiện đại sẽ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới", bà Chi nhấn mạnh. Đây cũng là lý do các triển lãm chuyên ngành như Fi Việt Nam được đánh giá cao trong việc tạo cầu nối để doanh nghiệp nội địa tiếp cận công nghệ và xu hướng quốc tế.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Phạm Khánh Phong Lan - Giám đốc Sở An toàn Thực phẩm TPHCM - khẳng định việc sử dụng phụ gia, hương liệu là điều không xa lạ, song bắt buộc phải tuân thủ hàm lượng cho phép. Bà Lan ghi nhận ngành phụ gia thực phẩm thế giới đã tiến rất xa với nhiều công nghệ tiên tiến - là hình mẫu để doanh nghiệp trong nước học hỏi.
"Các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng sẽ sử dụng những sản phẩm an toàn, tinh khiết, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng thay vì những phụ gia công nghiệp lẫn tạp chất, giá rẻ. Nhất là không có doanh nghiệp đàng hoàng nào sử dụng phụ gia để biến thịt heo thành thịt bò!", bà Lan thẳng thắn nhận định.
Tuy nhiên, người đứng đầu Sở An toàn Thực phẩm TPHCM cũng thừa nhận những lỗ hổng đang tồn tại: các doanh nghiệp sử dụng phụ gia không đảm bảo thường hoạt động chui, không xin phép. Quy trình tự công bố sản phẩm hiện nay cũng bộc lộ nhiều bất cập khi doanh nghiệp tự lấy mẫu, tự gửi kiểm nghiệm.
"Có những doanh nghiệp làm kiểm nghiệm rất nhiều lần, làm cho đến khi nào có được giấy chứng nhận đạt yêu cầu hoặc sử dụng một sản phẩm thay thế để kiểm nghiệm, nhằm mục đích đảm bảo có kết quả phù hợp. Nhưng trên thực tế, sản phẩm không đạt tiêu chuẩn", bà Lan cho biết.
Trước thực trạng đó, bà Lan cho rằng cần sớm cải tổ toàn diện cách thức lấy mẫu kiểm nghiệm và quy trình công bố vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm ngăn chặn các sản phẩm kém chất lượng trôi nổi trên thị trường. An toàn thực phẩm, theo bà, không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là nền tảng xây dựng niềm tin và giá trị bền vững cho doanh nghiệp.
Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK SBA) vừa thông báo kế hoạch thu giữ một nhóm quyền tài sản có liên quan đến khoản vay của Công ty cổ phần Hàng không Tre Việt (Bamboo Airways).
Theo thông báo, Sacombank SBA đã yêu cầu Bamboo Airways và bên bảo đảm tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm cùng hồ sơ pháp lý để xử lý nợ trước ngày 9/6. Tuy nhiên, các bên không thực hiện theo yêu cầu.
Trên cơ sở đó, Sacombank SBA đã ban hành quyết định thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị định 304/2025 của Chính phủ về điều kiện thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.
Tài sản bảo đảm bị thu giữ là quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán công trình xây dựng hình thành trong tương lai số 01/2017/HĐMB/PST-SSI, được ký ngày 22/12/2017 giữa Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Bất động sản Dấu Ấn Sài Gòn và Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Phú Sơn Thuận.
Sacombank SBA cho biết sẽ tiến hành thu giữ tài sản trong thời gian từ ngày 10/7 đến ngày 10/8 tại nơi có tài sản bảo đảm. Ngân hàng yêu cầu bên bảo đảm hoặc người đang quản lý tài sản phối hợp bàn giao tài sản trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo. Đồng thời, các bên phải chủ động di dời toàn bộ tài sản không thuộc phạm vi tài sản bảo đảm trước thời điểm thu giữ.
Nếu bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản không tự di chuyển tài sản hoặc có hành vi chống đối, cản trở việc thu giữ, đơn vị sẽ đề nghị chính quyền địa phương và lực lượng công an hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình thực hiện. Mọi chi phí phát sinh liên quan đến việc di chuyển, lưu giữ tài sản sẽ do bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản chịu trách nhiệm thanh toán.
Đầu tháng 4, Phòng xử lý nợ - Khối quản trị rủi ro của Sacombank cũng thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản gồm quyền sử dụng đất hơn 86.300m2 thuộc Khu phức hợp Đăk Đoa, xã Tân Bình, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai (nay là xã Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai). Chủ sở hữu của bất động sản này là Tập đoàn FLC.
Danh sách công khai của cơ quan thuế Thanh Hóa mới đây cho thấy Công ty TNHH FLC Samson Golf & Resort - công ty con do FLC sở hữu 100% - đang nợ hơn 34 tỷ đồng tiền thuế. Danh sách nợ thuế tại Thanh Hóa có 166 cái tên, với tổng số nợ 471 tỷ đồng.
Một ngân hàng khác là MSB cũng đã thông báo thu giữ hàng loạt tài sản đảm bảo liên quan đến Bamboo Airways để xử lý nợ. Danh mục bao gồm hơn 200 bất động sản tại Gia Lai và nhiều tài sản khác tại Thanh Hóa đứng tên Tập đoàn FLC, cho thấy áp lực tài chính không nhỏ trong hệ sinh thái này.
Trong khuôn khổ Diễn đàn Tài chính 2026 “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức vào chiều 20/5, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM (HDBank), đã chỉ ra nguyên nhân khiến nhiều công ty khó tiếp cận vốn ngân hàng.
Một năm ngân hàng gặp doanh nghiệp chỉ 4 lần, do đó quyết định cho vay luôn rủi ro
Theo ông, nhiều doanh nghiệp hiện vẫn cho rằng chỉ cần có báo cáo tài chính kiểm toán cũng như tài sản đảm bảo là đủ để tiếp cận vốn. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của ngân hàng, điều quan trọng hơn là chất lượng và độ trung thực của các báo cáo đó, cũng như cấu trúc tài chính của doanh nghiệp có đủ an toàn để ngân hàng chấp nhận rủi ro hay không.
Ông dẫn lại lời từ một ngân hàng nước ngoài từng nói: “Nếu anh cần vay 1 triệu USD thì hãy tự có 500.000 USD trước, chúng tôi sẽ cho anh vay 500.000 USD còn lại. Ngày nay nghe có vẻ quá thận trọng vì ở Việt Nam hiện nay nhiều khoản vay có thể lên tới 70-75% nhu cầu vốn nhưng họ có cơ sở rất rõ ràng. Họ nói một năm tôi giỏi lắm chỉ gặp anh được 4 lần, tức là 4 quý. Còn lại hơn 360 ngày tôi không ở cạnh doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định cho vay luôn là quyết định rủi ro”.
Do đó, trong nhiều trường hợp, tài sản bảo đảm chỉ là yếu tố thứ cấp bởi nếu thị trường biến động, ngân hàng cũng chưa chắc thu hồi được đầy đủ giá trị tài sản khi xử lý nợ. Điều cốt lõi vẫn nằm ở sức khỏe tài chính, dòng tiền và khả năng vận hành của doanh nghiệp.
Từ góc nhìn rộng hơn, ông Phương cho rằng Việt Nam cần cải thiện mạnh xếp hạng tín nhiệm quốc gia để nâng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp hơn. Hiện, mức xếp hạng tín nhiệm hiện nay của Việt Nam vẫn dưới ngưỡng đầu tư an toàn, trong khi nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan đã đạt ngưỡng này từ nhiều năm trước. Nếu Việt Nam cải thiện được xếp hạng tín nhiệm, chúng ta sẽ vay được với lãi suất thấp hơn và kỳ hạn dài hơn.
Hiện nay, bối cảnh vĩ mô toàn cầu đang có biến động phức tạp: xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đặt ra những thách thức cấp bách. Trong nước, dù quy mô tín dụng mở rộng, nhưng việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều rào cản với chi phí vốn có xu hướng tăng cao.
Trong khi thị trường chứng khoán và kênh trái phiếu doanh nghiệp cần thêm thời gian để có thanh khoản, thì bước chuyển quan trọng cho thị trường vốn tập trung vào Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam. Đây được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn mới mà còn là hạ tầng tài chính trọng yếu, kết nối doanh nghiệp trong nước với các định chế tài chính toàn cầu.
TPHCM sắp có sàn giao dịch tài chính hàng hải trong Trung tâm tài chính quốc tế, dự thu hút 300 tỷ USD giao dịch mỗi năm
Chia sẻ tại sự kiện, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế TPHCM (VIFC-HCMC), cho biết quy chế hoạt động của trung tâm hiện vẫn đang chờ Hội đồng điều hành thông qua trước khi chính thức vận hành. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị cho giai đoạn triển khai thực tế đã được xúc tiến mạnh trong thời gian qua, từ xây dựng hạ tầng, hoàn thiện chiến lược phát triển đến các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
Về định hướng phát triển, VIFC-HCMC xác định 4 trụ cột chính, trong đó tài chính hàng hải được xem là một trong những mũi nhọn chiến lược. Vị này tiết lộ Hệ sinh thái Trung tâm tài chính hàng hải quốc tế (IMFC) sẽ được ra mắt chính thức vào ngày mai 21/5.
Trung tâm tài chính hàng hải được định vị là nơi cung cấp các dịch vụ như cho thuê tài chính, thanh toán xuất nhập khẩu xuyên biên giới, bảo hiểm hàng hải - hàng không và tái bảo hiểm. Ước tính tổng giá trị giao dịch liên quan đến các cụm cảng lớn như Cái Mép - Thị Vải, Tân Cảng hay cảng Cần Giờ trong tương lai có thể vượt 1.000 tỷ USD. Tuy nhiên, khoảng 80-90% giao dịch tài chính liên quan hiện vẫn được thực hiện ở nước ngoài, chủ yếu tại Singapore và Hong Kong.
Một trong những nguyên nhân lớn là vấn đề pháp lý. Các giao dịch tài chính hàng hải thường có tần suất tranh chấp cao, trong khi cơ chế xử lý tại Việt Nam chưa đáp ứng được chuẩn mực quốc tế.
Vì vậy, IMFC đang hướng tới việc xây dựng cơ chế trọng tài và tòa án quốc tế riêng, áp dụng thông luật Anh nhằm tăng khả năng thu hút giao dịch toàn cầu. Song song đó là cơ chế dòng vốn linh hoạt hơn so với khuôn khổ hiện hành trong nước.
“Nếu tháo gỡ được hai nút thắt này, chúng tôi kỳ vọng có thể kéo khoảng 30% giao dịch tài chính hàng hải của Việt Nam về thực hiện tại IFC, tương đương khoảng 300 tỷ USD mỗi năm”, ông Huân nói.