Nghề kho rim loại cá bống cát danh tiếng ở hồ Lắk (xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk) lặng lẽ tồn tại qua năm tháng, gắn với nhịp sống của dân chài và sự bền bỉ của những người phụ nữ quyết giữ nghề. Để có một hũ cá bống kho rim vàng ruộm, giòn rụm, không chỉ cần nguyên liệu là loài cá bống cát đặc sản từ lòng hồ mà còn là những đêm thức trắng, những buổi chợ sớm lạnh sương và đôi tay tài hoa của người chế biến.
Theo chân vợ chồng anh Trần Đoàn (nguyên cán bộ Đài truyền hình Đắk Lắk) xuống bến cá từ lúc tinh mơ, tôi mới hiểu vì sao món ăn này lại trở thành đặc sản hiếm có và đáng quý đến vậy.
Chưa đến 3 giờ sáng, tiếng gọi khẽ của anh Trần Đoàn kéo tôi ra khỏi giấc ngủ. Không khí cao nguyên về đêm se lạnh, màn đêm vẫn đặc quánh. “Đi giờ này mới thấy hết chuyện làm được một hũ cá bống cát kho rim nó phải bắt đầu từ lúc nào”, anh Đoàn nói. Con đường dẫn xuống bến cá hồ Lắk chỉ le lói ánh đèn xe máy. Khi chúng tôi đến nơi, mặt hồ vẫn còn chìm trong bóng tối, chỉ thấp thoáng ánh đèn pin từ những chiếc thuyền nhỏ đang lần lượt cập bến. Những người đàn ông và phụ nữ lặng lẽ trút từng rổ cá lên bờ.
Tiếng nước vỗ nhẹ, và cả những câu chào hỏi ngắn ngủi tạo nên một thứ âm thanh rất riêng của bến cá. Không có cảnh ồn ào trả giá như ở chợ lớn, mọi giao dịch diễn ra nhanh gọn, dứt khoát. “Đêm ni được có hơn 2 ký cá bống thôi”, một người đàn ông vừa nhấc rổ cá vừa nói, giọng có phần tiếc nuối. Đã hơn 20 năm người đàn ông này gắn với hồ Lắk để làm nghề đánh bắt cá bống cát. Anh kể, cách đây chục năm, mỗi chuyến đi có thể thu về vài chục ký cá bống cát. “Giờ thì hiếm lắm. Được vài ký là vui rồi. Có hôm đi cả đêm mà chưa được nổi 1 ký”, anh lắc đầu.
Trong ánh đèn pin, những con cá bống cát nhỏ, thân ánh bạc, vẫn còn nhảy lách tách, nhiều con bụng căng trứng. Chị Huỳnh Thị Thu Hồng (vợ anh Trần Đoàn, làm nghề rim cá bống) nhanh tay lựa từng mẻ cá. Chị không mua ồ ạt mà cúi xuống nhặt từng con, quan sát kỹ độ tươi, độ chắc. “Cá bống phải rất tươi, nhiều con còn sống, thân cứng, không bị trầy xước thì rim mới ngon”, chị Hồng vừa lựa cá vừa giải thích. Tôi hỏi sao không lấy luôn cả mớ cá cho nhanh, chị cười: “Làm món này mà ẩu là mất uy tín liền. Khách ăn quen rồi, chỉ cần dùng cá không tươi là họ biết ngay”.
Những rổ cá bống nhỏ bé, tưởng chừng bình thường nhưng lại là “vàng” của cả hồ Lắk lúc này. Người bán hiểu giá trị, người mua cũng hiểu. Không có mặc cả nhiều, bởi ai cũng biết cá ngày càng hiếm. Một cụ bà bán cá đứng cạnh góp chuyện: “Hồi trước bắt cá bống rất dễ, giờ cá ít lắm chú ơi. Thôi thì kiếm được đồng nào hay đồng nớ”.
Khi mặt trời còn chưa ló dạng, chị Hồng đã gom được vài ký cá có thể chế biến món cá bống rim giòn ngon nhất. “Thành quả của bả là cả những đêm thức khuya, dậy sớm như ri. Và chừng ấy cá sẽ trở thành những hũ đặc sản mà nhiều người chờ đợi”, anh Đoàn chỉ vào rổ cá vợ vừa mua, cho biết.
Rời bến cá khi trời vừa hửng sáng, chúng tôi trở về nhà chị Hồng. Công đoạn tiếp theo bắt đầu ngay lập tức. Những con cá bống được đổ ra chậu, rửa sạch nhiều lần để loại bỏ hết bùn cát. Công việc tưởng đơn giản nhưng đòi hỏi sự kiên nhẫn. “Cá nhỏ, làm không kỹ là còn mùi tanh ngay”, chị Hồng nói.
Sau khi rửa sạch, cá được để ráo rồi bắt đầu ướp gia vị. Không có công thức nào được viết ra giấy. Mọi thứ nằm trong kinh nghiệm của người làm nghề. “Muối, đường, nước mắm, ớt, tiêu… phải cân bằng. Nhiều hay ít một chút là vị khác liền”, chị Hồng chia sẻ.
Cá được ướp vài giờ cho thấm. Trong lúc chờ đợi, chị tranh thủ dọn dẹp, chuẩn bị bếp. Đến khi mọi thứ sẵn sàng, chảo cá được đặt lên bếp. Lửa rim cá không được lớn. Chị Hồng chỉnh bếp nhỏ, giữ lửa liu riu. Từng phút trôi qua, mùi thơm của gia vị quyện với cá lan tỏa khắp gian bếp. Chị Hồng không rời chảo, tay cầm đũa đảo đều, mắt quan sát màu sắc từng mẻ cá. “Từ lúc này phải đứng canh liên tục. Lơ là chút là cháy hoặc không giòn đúng chuẩn”, chị nói.
Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn một tiếng trôi qua. Chảo cá dần chuyển sang màu vàng ươm. Âm thanh xèo xèo nhỏ dần, thay vào đó là mùi thơm đậm đà, hấp dẫn đến khó tả. “Cá bống kho rim ngon là phải giòn, nhưng không quá khô. Gia vị phải thấm tận bên trong”, chị Hồng giải thích. Công đoạn kho rim kéo dài một khoảng thời gian nữa. Đến khi cá đạt độ giòn mong muốn, chị mới tắt bếp. Nhưng vẫn chưa xong. Chị Hồng còn cẩn thận sàng lọc những con cá bị gãy và gia vị bị lắng lại dưới đáy chảo để mẻ cá đều, sạch sẽ tinh tươm mới cho vào hũ. “Như vậy nhìn hũ cá mới hấp dẫn được”, chị Hồng nói.
Tôi nếm thử vài con cá, lớp ngoài giòn rụm, bên trong vẫn giữ được vị ngọt béo tự nhiên. Không khó hiểu khi món ăn này khiến nhiều người “ăn là ghiền”. Nhưng phía sau hương vị ấy là cả một hành trình vất vả. “Đêm nào cũng vậy, phải dậy từ trước 3 giờ sáng. Có hôm cá ít, làm không đủ bán. Khách đặt mà không có cũng buồn”, chị Hồng kể.
Không chỉ khách trong nước, nhiều kiều bào xa quê cũng đặt mua. Có người chờ cả tháng mới có hàng. “Mình làm không nhiều được vì cá hiếm, nhưng vẫn cố giữ nghề, để ai thích thì còn có mà ăn”, chị Hồng nói, ánh mắt thoáng chút trăn trở.
Rời nhà chị Hồng khi nắng đã lên cao, tôi vẫn còn vương vấn mùi thơm của cá bống rim trứ danh hồ Lắk. Một món ăn giản dị nhưng chứa đựng cả câu chuyện về con người, về thiên nhiên và về sự bền bỉ. Ở hồ Lắk, cá bống không còn nhiều như trước. Nghề rim cá cũng chỉ còn vài người theo đuổi. Nhưng chính sự hiếm hoi ấy lại làm nên giá trị đặc biệt.
Những đêm thức trắng của dân chài, những buổi chợ sớm lạnh sương, những giờ đứng bên bếp lửa… tất cả kết tinh trong từng hũ cá nhỏ. Có thể một ngày nào đó cá bống hồ Lắk sẽ còn hiếm hơn nữa. Nhưng chừng nào vẫn còn những người như chị Hồng, hương vị ấy vẫn còn được gìn giữ. Không chỉ là một món ăn, cá bống kho rim hồ Lắk là ký ức, là tình đất, tình người, thứ khiến ai đã trải qua đều khó lòng quên được.
Giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận kinh tế xã hội chiều 20.4, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc phát triển đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông, là nền tảng quan trọng để thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới.
Theo ông, trong lĩnh vực đường bộ, quy hoạch đến năm 2050 cả nước có 43 tuyến cao tốc với tổng chiều dài khoảng 8.993 km; trong đó, 6.539 km được đầu tư trước năm 2030; số còn lại được đầu tư giai đoạn 2030 - 2050.
Tính đến nay, cả nước đã khai thác và thông xe kỹ thuật khoảng 3.345 km, 458 km nút giao. Về quy mô đầu tư, có 548 km cao tốc 2 làn xe (chiếm 16%); 1.559 km cao tốc 4 làn xe hạn chế (chiếm 47%) và 1/238 km cao tốc 4 - 6 làn xe hoàn chỉnh (chiếm 3,7%).
Hiện đang triển khai chuyển tiếp 1.252 km, dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Tính đến hết năm 2025, mật độ cao tốc trên cả nước đạt khoảng 2,23 km/100 km². Tuy nhiên, còn chênh lệch lớn giữa các vùng, trong khi đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,43 km/100 km², thì 14 tỉnh cũ biên giới phía bắc chỉ đạt 0,58 km/100 km².
Giai đoạn 2026 - 2030, dự kiến sẽ tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cấp khoảng 1.721 km cao tốc, trong đó có nâng cấp cao tốc 2 làn xe, 4 làn xe hạn chế lên 6 làn xe theo đúng quy hoạch, với nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỉ đồng.
Đối với hệ thống quốc lộ, Bộ trưởng cho biết, hiện cả nước có 24.376 km. Thực hiện chủ trương phân cấp, từ 1.7.2025, Bộ Xây dựng đã chuyển giao phân cấp 17.520 km cho địa phương quản lý. Bộ hiện còn quản lý 4.875 km, chủ yếu là các tuyến BOT và một số dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Trong lĩnh vực đường sắt, theo quy hoạch, mạng lưới gồm 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658 km; trong đó 7 tuyến hiện hữu dài 2.510 km và 18 tuyến xây dựng mới với chiều dài 4.148 km.
Theo Bộ trưởng, hệ thống đường sắt quốc gia hiện nay chủ yếu khổ 1.000 mm, được xây dựng từ lâu; riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn sử dụng khổ tiêu chuẩn 1.435 mm. Thời gian tới, sẽ tập trung phát triển các tuyến đường sắt quốc gia như: Hà Nội - TP.HCM; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Lạng Sơn; Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; TP.HCM - Cần Thơ - Cà Mau...
Đối với đường sắt đô thị, đến nay cả nước đã hoàn thành 3 tuyến với tổng chiều dài khoảng 41 km (trong đó Hà Nội có 2 tuyến, TP.HCM có 1 tuyến). Giai đoạn tới, Hà Nội dự kiến phát triển 18 tuyến với 1.052 km, TP.HCM đầu tư xây dựng 12 tuyến với hơn 1.700 km. Tổng chiều dài khoảng 2.224 km/30 tuyến, nhu cầu vốn cần khoảng 743.907 tỉ đồng.
Đối với lĩnh vực hàng không, Bộ trưởng Xây dựng cho biết, theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước có 31 cảng hàng không (gồm 15 cảng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm; định hướng đến năm 2050 có 34 cảng, công suất khai thác 533 triệu hành khách/năm.
Đến nay, cả nước có 22 cảng hàng không với tổng công suất khoảng 155 triệu hành khách/năm, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước. Về định hướng phát triển, trong số 31 cảng hàng không theo quy hoạch sẽ có 6 cảng cấp 4F, 1 cảng cấp 4C, các cảng còn lại cấp 4E.
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online tại hiện trường, dấu vết chiếc xe tải để lại trên đường hướng từ núi Tà Zôn xuống là cây cối ngã đổ, đất đá bong tróc thành vệt dài khoảng 300m.
Đây là tuyến đường nhựa rộng khoảng 4m, nối từ đường tỉnh 715 lên trên đỉnh núi Tà Zôn, xã Hàm Đức cũ, nay là xã Hàm Thuận.
Đường có nhiều khúc cong cua nhưng dấu vết của chiếc xe tải là lao theo hướng thẳng, tông gãy cây cối trước khi lọt xuống vực. Xe lao xuống vực sâu, tông vào một văn phòng công ty khoáng sản dưới cùng.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, vụ tai nạn trên xảy ra lúc 8h40 ngày 8-4 tại khu vực triền núi Tà Zôn thuộc thôn 2, xã Hàm Thuận.
Xe tải do tài xế Nguyễn Tấn Trường (27 tuổi, trú Anh Sơn, Nghệ An) điều khiển di chuyển trên triền núi để vận chuyển vật tư thi công công trình thì bất ngờ lao xuống vực.
Hậu quả vụ tai nạn làm 3 người chết, gồm: Nguyễn Kim Trung Thịnh (37 tuổi), Lê Văn Mười (49 tuổi, cùng trú xã Hàm Thuận) và Nguyễn Thanh Nhã (25 tuổi, trú tại Trần Đề, Cần Thơ).
Người bị thương là anh Nguyễn Tấn Trường (27 tuổi, trú Anh Sơn, Nghệ An) đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã phong tỏa hiện trường bên trong công ty khoáng sản, phục vụ điều tra vụ tai nạn.
Theo ông Huỳnh Ngọc Thạch - Bí thư Đảng ủy xã Hàm Thuận, chiếc xe tải trên phục vụ cho công trình của một đơn vị viễn thông, không liên quan đến công ty khoáng sản đang khai thác dưới núi. Trong lúc chiếc xe xuống núi thì gặp nạn, tông vào văn phòng công ty khoáng sản.
Ông Thạch cho biết thêm, địa phương đã cử cán bộ đến hiện trường phối hợp làm rõ và hỗ trợ gia đình 2 nạn nhân chết tại địa phương là 5 triệu đồng/trường hợp.
Ông Nguyễn Hồng Lai, Bí thư Đảng ủy xã Trà Tân, cho biết sau khi triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Ban Thường vụ Đảng ủy xã đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức vận hành bộ máy chính quyền bảo đảm ổn định, thông suốt.
Giai đoạn 2026-2031, xã quyết tâm chuyển 20 - 30% diện tích nông nghiệp sang mô hình giá trị cao, mỗi năm phát triển 1 - 2 sản phẩm OCOP, giải ngân 100% vốn đầu tư công.
Cụ thể chuyển đổi từ 20 - 30% đất nông nghiệp sang mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao như rau sạch, thủy sản, phát triển cây dược liệu hoặc nông nghiệp công nghệ cao.
Xã đề nghị Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất chủ trương đưa đề án bảo tồn, phát huy giá trị Khu di tích cách mạng Trung Trung Bộ - Nước Oa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn xã Trà Tân vào danh mục đề án năm 2026.
Bố trí kinh phí từ nguồn kinh phí thành phố và chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035.
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố nghiên cứu, đề xuất quy hoạch, mở bến thủy nội địa tại khu vực bờ đập thủy điện Sông Tranh 2 thuộc xã Trà Tân để đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển nguyên vật liệu của dân.
Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã, cho hay ở địa phương tiềm năng nông nghiệp rất lớn, hiện nay xã đang xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP, nhất là cây quế là cây bản địa chủ lực. Xã cũng có sự chuyển đổi, định hướng xây dựng những mô hình cây trồng khác thay thế cây keo.
Theo ông, cây keo trồng 3 - 4 năm là khai thác, vì vậy thời gian tạo điều kiện cho đất phục hồi lại rất ít. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sạt lở đất đó là việc trồng keo rất nhiều, nhất là dọc các tuyến đường giao thông.
Phó bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì mời các viện để nghiên cứu toàn bộ thổ nhưỡng vùng đất Quảng Nam (cũ), trồng cây gì phù hợp. Trên cơ sở làm đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phải làm từ thành phố xuống, các xã đề xuất, đồng thuận.
"Chúng tôi cùng lãnh đạo thành phố sẽ bàn việc chuyển đổi cây trồng từ cây keo sang các cây trồng khác", ông Hùng cho hay.
Đối với đề xuất mở bến thủy nội địa ở khu vực hồ Sông Tranh 2, ông Hùng giao Sở Xây dựng phối hợp với các sở, địa phương mở bến thủy nội địa vừa khai thác du lịch, giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu kêu gọi doanh nghiệp đầu tư.