Chiều 28.5, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức hội nghị công bố và trao quyết định về công tác tổ chức, cán bộ tại Ban Quản lý dự án đầu tư tây Quảng Ngãi.
Tại hội nghị, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã công bố Quyết định 1439 về việc bổ nhiệm ông Võ Đại Tân giữ chức Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư tây Quảng Ngãi, kể từ ngày 1.5.2026 đến ngày 2.7.2029.
UBND tỉnh Quảng Ngãi bổ nhiệm các ông: Lê Hoàng Vũ, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Đình Chương giữ chức Phó giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư tây Quảng Ngãi, kể từ ngày 1.5.2026.
Trao quyết định và tặng hoa chúc mừng, ông Nguyễn Hoàng Giang, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu lãnh đạo Ban quản lý dự án Đầu tư tây Quảng Ngãi khẩn trương bám sát chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao; tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc ở các dự án, góp phần đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn.
Đơn vị cần nghiên cứu giải pháp tối ưu trong công tác quản trị, điều hành để nâng cao hiệu quả công việc; phát huy vai trò của cấp ủy, xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ, tạo điều kiện để viên chức, người lao động phát huy tối đa năng lực, sở trường công tác.
Phát biểu nhận nhiệm vụ, ông Võ Đại Tân cảm ơn lãnh đạo tỉnh đã tin tưởng giao phó trọng trách mới; cam kết sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, giữ gìn đoàn kết nội bộ, phấn đấu cùng tập thể lãnh đạo Ban quản lý và toàn thể viên chức, người lao động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Chuyên gia: 'Luật đô thị đặc biệt cần cho TP HCM nhưng quan trọng là cách làm'

"Ngay cả khi được trao quyền rộng, thành phố vẫn khó tạo bứt phá nếu không khơi lại tinh thần dám nghĩ, dám làm", TS Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, nói tại hội thảo tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM do UBND TP HCM phối hợp với Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 4/4.
Theo ông Du, khoảng một thập niên qua TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù, song các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò, đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Dẫn số liệu, ông cho biết năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM (gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương cũ) đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, nay còn khoảng một phần ba.
Diễn biến này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai, tỷ trọng giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
Liên hệ giai đoạn đầu Đổi mới, TS Huỳnh Thế Du cho rằng TP HCM từng tăng trưởng mạnh nhờ cách làm linh hoạt, "phá rào" trước những ràng buộc chưa phù hợp. "Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần, vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy", ông nói.
Theo chuyên gia này, điểm mấu chốt nằm ở "thể chế phi chính thức" - cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan, xử lý công việc đến tinh thần dám làm và mức độ linh hoạt trong thực thi - có thể chiếm tới 80% động lực đổi mới.
TS Du lưu ý nếu chỉ hoàn thiện quy định trên giấy mà không thay đổi cách vận hành, hiệu quả sẽ hạn chế. Vì vậy, cùng với xây dựng luật, TP HCM cần khơi lại tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ thực thi.
"Giả định TP HCM có quyền như Singapore, tôi vẫn lo ngại nếu cách làm không thay đổi", ông nói, dẫn lại việc thành phố đã trải qua nhiều cơ chế như Nghị quyết 54, 98 nhưng chưa tạo được bứt phá rõ rệt.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để luật phát huy hiệu quả cần hướng tới mục tiêu: thành phố phải "được làm, làm được và dám làm", đồng thời triển khai nhanh, sáng tạo và hiệu quả.
Theo ông, dự thảo luật cần thiết kế cơ chế để TP HCM chủ động triển khai các nhiệm vụ cụ thể, kể cả ban hành quy định với những nội dung pháp luật hiện hành chưa đề cập. Tuy nhiên, quyền hạn phải đi kèm năng lực thực thi và trách nhiệm, do đó cần cơ chế bảo vệ cán bộ, nhất là người trực tiếp ra quyết định.
TS Điền nhấn mạnh điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, khi chủ trương, định hướng cơ bản đã rõ. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung các công cụ hỗ trợ như quy hoạch, kiến tạo không gian phát triển, liên kết vùng, đồng thời cho phép thành phố chủ động với các lĩnh vực mới.
Về tài chính, ông đề xuất tăng quyền tự chủ tài khóa, cho phép TP HCM chủ động thu - chi, áp dụng một số khoản thu đặc thù và sử dụng các công cụ huy động vốn như trái phiếu, quỹ hạ tầng.
Ngoài ra, cần đột phá trong hợp tác công tư, mở rộng sang hạ tầng số, không gian ngầm và các lĩnh vực mới, cùng cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng cần chủ động hơn về tổ chức bộ máy, chính sách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đã đồng ý cho TP HCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. Thành phố dự kiến hoàn tất dự thảo trong tháng 4, sau đó tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến từ tháng 5 đến tháng 6 trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét vào cuối năm 2026.
Theo Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Mạnh Cường, thành phố không chỉ dừng ở bổ sung cơ chế đặc thù mà hướng tới luật hóa các chính sách ở mức cao nhất, đủ sức giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
TP HCM xác định ba nguyên tắc khi xây dựng luật. Thứ nhất, trao quyền tự chủ toàn diện theo phương châm "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Thứ hai, luật hóa các vấn đề thực tiễn chưa có hành lang pháp lý như quản lý không gian ngầm, tài sản công, đường sắt đô thị, phát triển trung tâm tài chính, thu hút nhân tài. Thứ ba, thể chế hóa các cơ chế đặc thù, biến lợi thế riêng của thành phố thành quy định pháp luật để phát huy hiệu quả.
Lê Tuyết

Theo Thông tư 08/2026/TT-BKHCN ban hành ngày 31.3 của Bộ KH-CN, việc xác thực thông tin thuê bao di động là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm dữ liệu người dùng chính xác, đồng thời góp phần ngăn chặn SIM rác và các hành vi lừa đảo công nghệ cao.
Từ ngày 15.4, toàn bộ người dùng di động sẽ nhận được thông báo trên ứng dụng VNeID về danh sách các số điện thoại đang đăng ký theo thông tin cá nhân. Người dùng cần truy cập ứng dụng để kiểm tra và xác nhận các số mình đang sử dụng hoặc không còn sử dụng, qua đó hoàn tất quá trình xác thực theo quy định mới.
Thực tế, không phải tất cả thuê bao đều phải xác thực lại. Những người đã có tài khoản VNeID mức 2, với thông tin thuê bao trùng khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hoặc các thuê bao đã đăng ký bằng căn cước công dân gắn chip và không thay đổi thông tin hay thiết bị sử dụng, sẽ không cần thực hiện lại thủ tục này.
Tuy nhiên, nhiều nhóm người dùng vẫn phải thực hiện xác thực, đó là các thuê bao có thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa trùng khớp với dữ liệu dân cư; người dùng đăng ký bằng CMND 9 số phải cập nhật sang căn cước công dân gắn chip sau khi xác nhận.
Cạnh đó là các trường hợp đăng ký SIM mới bắt buộc xác thực ngay từ đầu; hoặc những người thay đổi thông tin cá nhân, đổi thiết bị sử dụng SIM cũng cần thực hiện lại quy trình.
Theo lộ trình, nếu không hoàn tất xác thực hoặc không xác nhận thuê bao trên VNeID, người dùng sẽ bị xử lý từ tạm dừng dịch vụ một chiều, hai chiều và có thể bị thu hồi số nếu không bổ sung thông tin theo quy định. Điều này đồng nghĩa nguy cơ gián đoạn liên lạc hoặc mất số điện thoại là hoàn toàn có thể xảy ra.
Các nhà mạng như VinaPhone, MobiFone đã chuẩn bị nhiều kênh hỗ trợ, từ ứng dụng trực tuyến như MyVNPT, My MobiFone đến hệ thống cửa hàng trên toàn quốc. Người dùng cũng có thể thực hiện xác thực trực tiếp trên ứng dụng VNeID.
Với các trường hợp đặc thù, người dùng ở nước ngoài có thể xác thực từ xa thông qua ứng dụng kết hợp căn cước công dân gắn chip. Người cao tuổi, người không sử dụng điện thoại thông minh hoặc ở vùng sâu, vùng xa sẽ được hỗ trợ trực tiếp tại nơi cư trú.
Riêng thuê bao là người nước ngoài sử dụng hộ chiếu hiện chưa thể xác thực qua VNeID do chưa có dữ liệu đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trong bối cảnh các hình thức lừa đảo công nghệ cao ngày càng gia tăng, việc xác thực thuê bao không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là cách để người dùng chủ động bảo vệ thông tin cá nhân. Người dùng được khuyến nghị kiểm tra VNeID và hoàn tất xác thực sớm để bảo đảm liên lạc thông suốt, an toàn.
Đại diện các nhà mạng cũng cho biết đã chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, tăng cường nhân sự tại điểm giao dịch, tổng đài và các kênh trực tuyến để hỗ trợ khách hàng trong suốt quá trình triển khai. Người dùng có thể liên hệ tổng đài 18001090 (MobiFone), 18001091 (VNPT) hoặc truy cập website, ứng dụng chính thức của nhà mạng để được hướng dẫn chi tiết.
Theo khuyến cáo, người dùng nên chủ động rà soát toàn bộ các số thuê bao đứng tên mình trên VNeID, kịp thời phát hiện các số không còn sử dụng hoặc không thuộc quyền quản lý để tránh rủi ro phát sinh. Việc hoàn tất xác thực sớm không chỉ giúp duy trì dịch vụ liên tục mà còn góp phần làm sạch dữ liệu thuê bao, hạn chế SIM rác và nâng cao an toàn trên môi trường số.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Người trẻ nói 'phải lo được cho con mới dám sinh'

Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) - chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc "CK Nguyen" đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 - 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 - 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 - 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu - 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 - 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc "Minh Nguyen" chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc "Hung Cuong" nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
"Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập", chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau...
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 - 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu - tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.

