Khoa công tác xã hội – nhân học – xã hội học (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) phối hợp tổ chức với Dự án Vượt Sóng (thuộc Nhà văn hóa Thanh niên.
PGS.TS Lê Minh Công (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM) nói người khuyết tật có tỉ lệ trầm cảm, lo âu cao gấp 2-3 lần, do tác động của nghèo đói, thất nghiệp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ.
Người khuyết tật chịu gánh nặng về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ và căng thẳng. Tuy nhiên chỉ 27,8% được sàng lọc, tầm soát có hệ thống. Ngoài ra thiếu nhân sự tâm lý và công tác xã hội, hạn chế ngân sách và kỳ thị.
Ông Công đề xuất mô hình can thiệp theo hướng phân tầng. Tầng 1 tập trung vào phòng ngừa và sàng lọc sớm tại cộng đồng, thông qua trạm y tế, Đoàn Thanh niên… kết hợp truyền thông để giảm kỳ thị.
Tầng 2-3 triển khai các can thiệp tâm lý – xã hội tại phòng chức năng, phòng khám và cơ sở tâm lý thông qua tư vấn cá nhân và can thiệp gia đình. Tầng 4 là điều trị chuyên khoa tại bệnh viện tâm thần như chẩn đoán, điều trị bằng thuốc và các liệu pháp tâm lý chuyên sâu.
ThS Lê Thị Hương Giang (Đại học RMIT) đề xuất xây dựng dịch vụ hỗ trợ tiếp cận giáo dục đại học cho sinh viên khuyết tật, điển hình tại Đại học RMIT được hỗ trợ của Phòng Thúc đẩy bình đẳng và Tiếp cận giáo dục.
Năm 2025, có 286 sinh viên khuyết tật được hỗ trợ, tăng 25%. Nhóm cao nhất là vấn đề sức khỏe tinh thần và đa dạng thần kinh (56,3%) trải đều các chương trình và khoa/ngành học, từ đó nhu cầu hỗ trợ học tập đa dạng, cơ hội thực tập và việc làm.
Đại học RMIT hỗ trợ sinh viên thông qua các biện pháp cá nhân hóa, cụ thể là bản kế hoạch học tập cá nhân cho sinh viên khuyết tật. Bản này sẽ mô tả tình trạng sức khỏe và mức độ ảnh hưởng đến việc học tập, từ đó đưa ra các điều chỉnh phù hợp trong dạy và học. Kế hoạch được cập nhật mỗi học kỳ và chia sẻ đến các giảng viên phụ trách giảng dạy sinh viên đó.
Ngoài ra trong suốt quá trình học, sinh viên còn được hỗ trợ bởi các chuyên viên như tư vấn cho giảng viên về cách áp dụng kế hoạch học tập, cung cấp tài liệu cần thiết, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong lớp học, thực hành, thi cử và các hoạt động thực địa thông qua Student Aid Program.
Trường cũng thúc đẩy hợp tác liên đơn vị, như giới thiệu và chuyển gửi sinh viên giữa các bộ phận tham vấn tâm lý, tuyển sinh, học bổng… Đồng thời tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức như workshop, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm.
Giáo dục người khuyết tật dù khó khăn cũng phải tiên tiến, có chuẩn riêng và tích hợp công nghệ
Cô Nguyễn Thị Thân, Hiệu trưởng Trường khiếm thính Hy vọng Bình Thạnh, nói học sinh khiếm thính cần được hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hình ảnh trực quan và thiết bị trợ thính trong lớp học, thay vì chỉ tập trung vào phát triển ngôn ngữ nói.
Cô Thân nói thêm việc giảng dạy cần cá nhân hóa, với giáo trình được điều chỉnh phù hợp với khả năng nhận thức và ngôn ngữ của từng em. Lớp học hòa nhập cần có sĩ số hợp lý, đủ ánh sáng để đọc hình miệng, đồng thời các thiết bị công nghệ hỗ trợ.
Đối với giáo viên dạy học sinh hòa nhập, yêu cầu đặt ra là phải có kiến thức về giáo dục đặc biệt, có giáo viên trợ giảng, đồng thời cần sự kiên nhẫn, thấu cảm trong quá trình giảng dạy. Những học sinh còn khả năng nghe thông qua thiết bị trợ thính có thể phát triển ngôn ngữ tốt hơn nếu được hỗ trợ phù hợp.
Ngoài ra các em cần được rèn luyện sự tự tin trong giao tiếp và nhận được sự đồng hành từ gia đình, tài liệu học tập cũng cần được điều chỉnh theo năng lực của từng học sinh.
Ông Cao Tiền Vị – người sáng lập ASIF Foundation – nói dù đã có luật, việc triển khai và hướng dẫn thực hiện còn nhiều bất cập, cần tiếp tục hoàn thiện. Ví dụ việc cấp thẻ chứng nhận khuyết tật còn phức tạp, cần ứng dụng công nghệ để đơn giản hóa thủ tục.
Đồng thời các quy định về công trình công cộng, y tế, vệ sinh… cần được thiết kế phù hợp. Một ưu tiên cấp bách khác là đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật.
Phó chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em TP.HCM Nguyễn Văn Tính nói cần thay đổi nhận thức và cách tiếp cận, chuyển từ cách nhìn mang tính từ thiện, thương hại sang tiếp cận dựa trên quyền con người. Hỗ trợ người khuyết tật không chỉ dừng ở lòng tốt cá nhân, mà phải đảm bảo họ có đủ các quyền và chính sách đáng được hưởng.
Bên cạnh đó, cách hiểu về các mức độ khuyết tật (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng) còn chưa thống nhất. Nhiều nơi vẫn cho rằng “đặc biệt nặng” là phải liệt hoàn toàn, trong khi pháp luật đã quy định rõ, gây ảnh hưởng quyền lợi và chế độ của người khuyết tật.
Hiện nay, giáo dục chuyên biệt chủ yếu chỉ dừng ở cấp tiểu học, nên khi lên THCS, học sinh buộc phải chuyển sang môi trường hòa nhập. Tuy nhiên nhiều em chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, tâm lý và định hướng, dẫn đến khó khăn trong học tập, hòa nhập và gây lúng túng cho cả giáo viên lẫn học sinh.
Sự kiện này thúc đẩy năng lực phát triển các dòng sản phẩm nhà ở vừa túi tiền, khẳng định cam kết của Nam Long đối với an sinh xã hội, đồng thời mang lại sự bảo chứng về chuẩn mực quốc tế trong chất lượng và quản trị dự án.
Theo biên bản ký kết, sau khi hoàn tất giao dịch, Nam Long sẽ sở hữu 51% cổ phần và Nishi-Nippon Railroad sở hữu 49% cổ phần của công ty liên doanh. Nishi-Nippon Railroad với vai trò cổ đông chiến lược sẽ tích cực tham gia vào công tác quản trị và điều hành, tận dụng thế mạnh trong thiết kế, vận hành và kỹ thuật nhằm tối ưu hóa hiệu quả dự án và giá trị dài hạn.
Sau khi chính thức hợp tác, Nam Long ADC đặt mục tiêu tăng trưởng dự kiến 80% vào năm 2030 và bàn giao hơn 22.000 căn hộ vào năm 2035. Lộ trình này nhằm góp phần giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở vừa túi tiền ở Việt Nam, khi nhu cầu hiện tại lên đến 100.000 căn/năm nhưng nguồn cung thực tế còn ở mức thấp. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, trong quý I/2026, có 4 dự án được hoàn thành với quy mô chưa đến 580 căn.
Nishi-Nippon Railroad đã có hơn 10 năm hợp tác với Tập đoàn Nam Long ở cấp độ dự án. Nishi-Nippon Railroad là một trong những tập đoàn đa ngành có lịch sử lâu đời tại Nhật, với hơn 100 năm hoạt động trong lĩnh vực giao thông, logistics, bất động sản và khách sạn, hướng đến mục tiêu kiến tạo môi trường sống có giá trị cho cộng đồng, đặc biệt là đối với người mua nhà lần đầu hay các gia đình trẻ. Trên nền tảng đó, sự hợp tác của Nishi-Nippon Railroad lần này ở cấp độ Doanh nghiệp khẳng định niềm tin và mục tiêu đồng hành dài hạn của đối tác Nhật Bản cùng tập đoàn Nam Long, đồng thời giúp Nam Long ADC củng cố năng lực toàn diện:
- Tăng cường nguồn vốn và quản lý tài chính: Nishi-Nippon Railroad cung cấp nguồn vốn tài trợ không kèm điều kiện. Nguồn vốn mới sẽ được ưu tiên sử dụng để tiếp cận và phát triển quỹ đất trong thời gian tới.
- Nâng cao chuẩn mực chất lượng: Nishi-Nippon Railroad chuyển giao các phương pháp xây dựng tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng Nhật Bản vào các sản phẩm sắp tới. Nishi-Nippon Railroad cũng sẽ cung cấp đội ngũ chuyên gia hỗ trợ Nam Long ADC trong việc tối ưu hóa thiết kế, lựa chọn vật liệu và thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng chuyên nghiệp.
- Cam kết an sinh xã hội: Hợp tác được xây dựng trên triết lý chung về phát triển bền vững và kiến tạo môi trường sống có giá trị. Nam Long ADC và Nishi-Nippon Railroad cùng hướng đến mục tiêu giúp đại đa số người Việt, đặc biệt là người mua nhà lần đầu và các gia đình trẻ tiếp cận nhà ở chất lượng.
Ông Chu Chee Kwang, Giám đốc cấp cao, Quản lý vận hành Công ty liên doanh, Đối tác & Liên minh Tập đoàn; Chủ tịch Nam Long ADC, cho biết: "Hợp tác chiến lược này là cột mốc quan trọng, tái khẳng định cam kết của Tập đoàn Nam Long trong việc phát triển bền vững dòng sản phẩm nhà ở vừa túi tiền thông qua Nam Long ADC. Việc Nishi-Nippon Railroad tham gia với vai trò cổ đông chiến lược không chỉ bổ sung nguồn vốn mà quan trọng hơn là chuyển giao các chuẩn mực quản trị, công nghệ xây dựng tiên tiến của Nhật Bản, giúp Nam Long ADC gia tăng chất lượng và hiệu quả sản phẩm EHome/EHomeS, góp phần giải quyết nhu cầu an sinh xã hội lớn tại Việt Nam".
Chiều 15/6, lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng xác nhận, sau nhiều ngày điều trị tại bệnh viện, anh Y.D. (SN 1992, trú xã D'Ran) đã tử vong do ngộ độc nấm rừng.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 5 ngày trước, gia đình anh D. hái nấm mọc tự nhiên trong rừng mang về chế biến làm thực phẩm. Sau bữa ăn, anh D. và vợ là chị H. (SN 1995) cùng 2 người con sinh năm 2012 và 2018 đồng loạt xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như đau bụng dữ dội, nôn ói, tiêu chảy, đau đầu và cơ thể suy kiệt.
Sau đó, các nạn nhân được đưa đến Trung tâm Y tế khu vực Đơn Dương cấp cứu rồi chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng do tình trạng diễn biến nặng.
Trong số các bệnh nhân, anh D. bị ngộ độc nghiêm trọng nhất. Bệnh nhân rơi vào hôn mê sâu, phải lọc máu và điều trị tích cực. Tuy nhiên, do độc tố đã gây tổn thương nặng các cơ quan nội tạng, anh D. tử vong vào sáng 15/6.
Hiện sức khỏe của chị H. vẫn còn yếu, đang được theo dõi, điều trị. Hai người con đã ổn định và qua cơn nguy hiểm.
Theo ngành y tế, nhiều loại nấm độc trong tự nhiên có hình dáng rất giống các loại nấm ăn thông thường, khiến người dân dễ nhầm lẫn khi thu hái. Chỉ cần sử dụng một lượng nhỏ nấm độc cũng có thể gây tổn thương gan, thận cấp tính, có thể dẫn đến tử vong.
Điều đáng nói từ đầu mùa mưa đến nay, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã ghi nhận hàng chục trường hợp ngộ độc thực phẩm liên quan đến việc sử dụng nấm tự hái trong rừng.
Theo ngành y tế, thời điểm này độ ẩm cao, nhiều loại nấm mọc tự nhiên phát triển mạnh. Việc người dân và du khách tự thu hái nấm rừng để sử dụng tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc, thậm chí tử vong.
Ngành y tế khuyến cáo người dân không thu hái, chế biến hoặc sử dụng các loại nấm hoang dại, nấm lạ, nấm không rõ nguồn gốc.
Khi xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt sau khi ăn nấm cần nhanh chóng đến cơ sở y tế để được cấp cứu, điều trị kịp thời.
Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, Trung Quốc là công trình tiêu biểu nhất của kiến trúc cung đình Trung Quốc và cũng là một trong những cung điện cổ bằng gỗ được bảo tồn tốt nhất trên thế giới cho tới ngày nay.
Nơi đây với tổng diện tích 720.000m2, là khu phức hợp cung điện rộng lớn nhất thế giới. Nơi đây vừa là nhà của các hoàng đế cùng gia đình, vừa là trung tâm nghi lễ, chính trị của Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ.
Tại Tử Cấm Thành, không khó để tìm thấy kiến trúc vườn thượng uyển với hệ thực vật phong phú, các khu đền, nơi nghỉ chân, vãn cảnh đầy thơ mộng. Nơi đây cũng có rất nhiều giếng nước, nằm trong hệ thống cung cấp nước dày đặc và rất phức tạp dưới lòng đất.
Tuy nhiên, có một chi tiết kỳ lạ khiến những người ưa khám phá lịch sử đều cảm thấy khó hiểu, đó là không ai dám uống nước từ những giếng này. Năm xưa người ta đào những giếng này với mục đích chủ yếu là để ngừa hoả hoạn xảy ra, còn nước dùng trong cung đa phần được vận chuyển từ trên núi Ngọc Tuyền xuống bằng sức người.
Không chỉ vậy người ta kể lại rằng Hoàng đế Càn Long còn so sánh hẳn chất lượng và mùi vị nước của các địa phương, cuối cùng kết luận nước trên núi Ngọc Tuyền ngọt nhất, vả lại pha trà ngon nhất, về sau vẫn luôn đem nước suối trên núi Ngọc Tuyền về dùng.
Trong cung có nhiều giếng là vậy nhưng có người thắc mắc, tại sao người trong hoàng cung xưa phải bỏ gần tìm xa, không dùng nước giếng có sẵn ngay trong cung?
Nhìn từ góc độ tự nhiên, ban đầu giếng vẫn chứa nước ngầm trong suốt sạch sẽ, nhưng trải qua mấy trăm năm sau, chất lượng nước có lẽ sẽ bị ô nhiễm. Hơn nữa chất lượng nước ngầm ở Bắc Kinh thiên về cứng, khi ấy cũng không có những thiết bị lọc nước, không hợp uống trong thời gian dài.
Xét theo nhân tố con người, có một thái giám già từng nói không ai muốn uống, cũng không ai dám uống nước giếng trong cung.
Theo trang Sohu nước từ những giếng này chỉ được dùng để tưới cây, lau chùi, và dập lửa nếu xảy ra hỏa hoạn.
Điều thú vị qua các bộ phim cổ trang của Trung Quốc, chúng ta biết được rằng Tử Cấm Thành vốn dĩ là chốn thâm cung bí sử, với nhiều câu chuyện ly kỳ đầy âm mưu hiểm độc. Chuyện các phi tần, thái giám, người hầu... đôi khi biến mất không quá hiếm gặp, và nhiều người cho rằng có đến 80% trong số đó bị thủ tiêu ở giếng nước.
Chưa hết, các giếng chứa nước trong Tử Cấm Thành còn thường xuyên bị kẻ xấu thả chất độc, nhằm âm mưu hãm hại lẫn nhau.
Trải qua nhiều năm, độc tố trong giếng có thể vẫn còn, kết hợp hệ thống kênh ngầm phức tạp, khiến người vô tình uống phải nước dù ở bất kỳ đâu, vẫn có nguy cơ nhiễm độc.
Ngoài ra có tài liệu lại cho rằng, người ta không uống nước từ các giếng trong cung vì chất lượng nước ở Bắc Kinh bị cho là không tốt.
Đáng chú ý tác giả Tử Kha, trong cuốn "Tuyển tập truyện nhỏ thời nhà Thanh" có viết rằng: "Người trong Kinh thành muốn uống nước thì chỉ dùng nước ở núi Ngọc Tuyền"..
Theo đó, Hoàng đế Càn Long đã tiến hành kiểm tra so sánh nhiều nguồn nước và kết luận rằng nước suối ở núi Ngọc Tuyền là thích hợp nhất để sử dụng trong cung đình, còn nước giếng là nước cứng (loại nước chứa hàm lượng khoáng chất cao, chủ yếu là Canxi và Magie) nên uống sẽ không tốt cho sức khỏe.
Ngoài ra, nước giếng cũng không được sử dụng vì lý do an toàn tính mạng. Nếu ai đó đầu độc một giếng, hàng chục giếng khác trong Tử Cấm Thành cũng sẽ bị nhiễm độc vì chúng thông nhau. Các giếng này cũng thông với sông Ngự bên ngoài kinh thành.
Theo ghi chép, vào thời nhà Minh, Vạn Quý phi - sủng phi của Minh Hiển Tông đã hạ độc xuống giếng để ổn định địa vị của mình trong cung.