Khi nhiệt độ vượt 35 độ C, thực phẩm rất dễ trở thành môi trường cho vi khuẩn phát triển nhanh. Vì vậy, chú ý an toàn ăn uống và phòng ngộ độc thực phẩm là điều không thể xem nhẹ trong mùa nóng.
Theo thạc sĩ – bác sĩ Bùi Thị Duyên, phụ trách khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện Quân y 175, việc để thức ăn chín ở nhiệt độ phòng nhiều giờ là nguy cơ ngộ độc thực phẩm phổ biến. Nhiều nơi chế biến thực phẩm sẵn nhưng không bảo quản đúng cách, khiến vi khuẩn phát triển nhanh. Bên cạnh đó, nhiễm khuẩn chéo do dùng chung dao, thớt cho đồ sống – chín, hoặc để lẫn thực phẩm sống với đồ ăn liền trong tủ lạnh cũng làm tăng rủi ro mất an toàn thực phẩm.
“Nếu khâu kiểm soát nguyên liệu đầu vào không chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng thực phẩm đã ôi thiu, biến chất vì mục tiêu lợi nhuận hoặc chủ quan cũng sẽ vô tình tạo ra các ‘ổ’ vi khuẩn phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn gây ngộ độc”, bác sĩ Duyên cảnh báo.
Thạc sĩ – bác sĩ Võ Thị Tố Hi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Gia An 115, cho biết khoảng nhiệt độ 30 – 40°C thường được gọi là “vùng nguy hiểm” trong an toàn thực phẩm. Nhiều loại vi khuẩn có thể nhân đôi chỉ sau 20 – 30 phút, tức chỉ sau vài giờ, số lượng vi khuẩn có thể tăng lên hàng trăm đến hàng nghìn lần.
Do đó, mọi người cần lưu ý một nguyên tắc quan trọng: Thực phẩm chín không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ; nếu nhiệt độ môi trường trên 32 – 35°C, thời gian này nên rút ngắn còn khoảng 1 giờ. Sau mốc này, nguy cơ vi khuẩn phát triển và sinh độc tố tăng lên rõ rệt. Đáng lưu ý, một số độc tố vi khuẩn không bị phá hủy hoàn toàn khi hâm nóng lại, nên việc “nấu lại cho kỹ” không đồng nghĩa với an toàn.
Các thực phẩm như hải sản, món nhiều nước, sữa hoặc thức ăn chế biến sẵn là nhóm dễ hư hỏng nhanh nhất trong thời tiết nắng nóng. Từ đó, bác sĩ Tố Hi lưu ý khi thực phẩm có dấu hiệu mùi lạ, nhớt, đổi màu hoặc vị bất thường, người dân không nên cố sử dụng lại.
Để chủ động phòng tránh ngộ độc thực phẩm trong mùa nắng nóng, bác sĩ Duyên khuyên người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm sau:
Thực hiện “ăn chín, uống sôi”: Tuyệt đối không sử dụng thức ăn ôi thiu, hỏng mốc hoặc quá hạn sử dụng. Hạn chế tối đa các món gỏi sống, đồ tái trong mùa hè. Thực phẩm thừa cần được đun lại ở nhiệt độ trên 70 độ C trước khi ăn.
Vệ sinh tay: Rửa tay bằng xà phòng ít nhất 20 giây trước và sau khi chế biến thực phẩm, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Giữ khu vực chế biến và vật dụng nấu nướng luôn sạch sẽ, khô ráo.
Bảo quản thực phẩm đúng cách: Thức ăn chín cần được đậy kín để tránh bụi và côn trùng. Nếu dùng tủ lạnh, phải sắp xếp ngăn nắp, tránh việc tích trữ quá tải dung tích tủ. Nhiệt độ ngăn mát nên giữ ở mức 5 độ C hoặc thấp hơn.
Lựa chọn thực phẩm an toàn: Ưu tiên thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng, không có mùi lạ hay màu sắc bất thường.
Bù nước và điện giải đúng cách: Uống đủ 1,5 – 2,5 lít nước/ngày tùy độ tuổi và mức độ hoạt động. Nên uống chậm, chia thành nhiều lần ngay cả khi không khát. Có thể dùng nước lọc, nước khoáng, nước dừa hoặc Oresol để bổ sung khoáng chất bị thất thoát qua mồ hôi.
Cô T.T.H (67 tuổi, ở TP.HCM) cho biết, từ khi bị tăng huyết áp, cô và một số thành viên trong gia đình không dám ăn mỡ vì nghe nói sẽ làm “mỡ trong máu, tăng cholesterol”, không tốt cho người có tuổi. Khi nấu ăn, cô H. cũng thường dùng dầu ăn thực vật và dùng lượng rất ít.
Mặt khác, chị N.T.T (48 tuổi, ở Đồng Tháp) cho biết chị và gia đình không quá quan tâm tới mỡ máu, cũng không có triệu chứng bệnh gì cần kiêng béo nên không hề “né” mỡ và các món có chất béo. Trong bữa ăn thường ngày của gia đình chị T., nguồn chất béo chủ yếu đến từ thịt, cá và các món chiên rán.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Nguyễn Thùy An, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, người sau 45 tuổi nếu kiêng chất béo quá mức, cơ thể có thể bị ảnh hưởng về nhiều mặt như giảm hấp thu các vitamin tan trong dầu như A, D, E, K; ảnh hưởng sức khỏe tim mạch, não bộ, làn da, nội tiết và quá trình điều hòa phản ứng viêm. Đặc biệt, vitamin D và các axit béo thiết yếu lại có vai trò quan trọng với sức khỏe cơ, xương và miễn dịch.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chất béo vẫn là một thành phần cần thiết trong khẩu phần. WHO khuyến cáo nên ưu tiên chất béo không bão hòa, chiếm dưới 10% tổng năng lượng hằng ngày. Loại chất béo này có nhiều trong cá, quả bơ, các loại hạt và các loại dầu thực vật như dầu hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt cải, dầu ô liu.
Ngược lại, cần hạn chế chất béo bão hòa có trong thịt mỡ, bơ, dầu cọ, dầu dừa, kem, phô mai và mỡ lợn; đồng thời giảm chất béo chuyển hóa xuống dưới 1% tổng năng lượng khẩu phần.
Theo bác sĩ Thùy An, không nhất thiết phải ăn cá hồi mới có omega-3. Nhiều loại cá quen thuộc ở chợ Việt như cá trích, cá nục, cá mòi, cá cơm, cá thu là nguồn đạm tốt, đồng thời cung cấp omega-3, vitamin B12, selen và canxi nếu ăn được cả xương nhỏ.
Các loại cá như cá trích, cá thu, cá mòi, cá cơm đều được xếp vào nhóm giàu omega-3. Riêng với cá nục, các nghiên cứu trên nhóm cá nục tròn ghi nhận đây là nguồn lipid biển có tỷ lệ EPA và DHA đáng kể (2 dạng omega-3 chuỗi dài có giá trị sinh học cao).
Ngoài ra, với người lớn tuổi, nên ưu tiên các cách chế biến như hấp, nấu canh, kho nhạt, om lửa nhỏ hoặc nướng/om trong giấy bạc. Một nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp nấu đối với EPA và DHA cho thấy hấp giúp giữ các axit béo omega-3 tốt hơn so với nướng trong giấy bạc ở nhiệt độ cao.
Ngược lại, nên hạn chế chiên ngập dầu, chiên đi chiên lại, cá khô hoặc kho quá mặn vì có thể làm tăng năng lượng khẩu phần, tăng lượng muối, không có lợi cho người vốn có bệnh nền về huyết áp, tim mạch hoặc bệnh thận.
Ngày 2/4, các bác sĩ Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, cho biết cặp song sinh hồi phục thần kỳ, ngày xuất viện mỗi bé nặng 3 kg, sức khỏe ổn định.
Sản phụ nhập viện ở tuần thai 27 trong tình trạng cổ tử cung tụt, hở hình chữ Y, dấu hiệu đe dọa sinh non cực độ. Sau 13 ngày giữ thai, sản phụ chuyển dạ. Bé gái 950g và bé trai 900g, sức khỏe yếu, da mỏng như giấy và các cơ quan nội tạng đều chưa hoàn thiện.
Hai bé được chuyển thẳng lên Khoa Sơ sinh. Theo bác sĩ, phổi của hai bé chưa đủ trưởng thành để tự lấy oxy từ khí trời, phải bơm thuốc hỗ trợ nở phổi và thở máy liên tục. Bé gái mắc bệnh màng trong độ IV (mức độ nặng nhất) kèm rối loạn đông máu nặng phải truyền huyết tương tươi kèm thiếu máu và nhiễm trùng sơ sinh. Bé trai bị bệnh màng trong độ III và nhiễm trùng sớm. Cả hai không nuôi ăn bằng đường miệng mà phải duy trì sự sống qua từng giọt dịch truyền tĩnh mạch.
Sau hai tháng, hai bé tiến triển tích cực, được ghép mẹ. Bé gái nặng 1,8 kg; bé trai là 1,75 kg. Hiện, cả hai bé đều đã đạt mốc 3kg, hồng hào và khỏe mạnh.
Sinh non là trẻ chào đời trước 37 tuần. Khi trẻ sinh ra từ 28 đến trước 32 tuần được tính là mốc sinh rất non với nhiều nguy cơ về sức khỏe như hạ thân nhiệt, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng sơ sinh, vàng da, thiếu máu, xuất huyết não, viêm ruột hoại tử, vấn đề về thính giác và thị giác...
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính trên toàn cầu có khoảng 15 triệu trẻ sinh non ra đời, tỷ lệ 1/10 trẻ sơ sinh. Đây được xem là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi. Khoảng một triệu trẻ sinh non tử vong do các biến chứng. Nhiều trẻ sống sót nhưng phải đối mặt với tình trạng khuyết tật suốt đời, bao gồm khuyết tật thần kinh, tim mạch, thị giác, thính giác.
Tại Việt Nam, các tài liệu báo cáo chung cho thấy tình trạng sinh non ngày càng tăng. Trung bình cả nước, tỷ lệ sinh non khoảng 7% ca sinh, mỗi năm khoảng 100.000-110.000 trẻ sinh non ra đời.
Trường hợp sinh non kèm nhiều bệnh lý, tai biến, càng đe dọa sức khỏe của hai mẹ con. Bác sĩ khuyến cáo thai phụ xuất hiện các dấu hiệu bất thường, nhất là trong ba tháng cuối thai kỳ, cần được theo dõi sát tại cơ sở y tế.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.