Theo tờ The Chosun Daily ngày 2/4, sự việc diễn ra vào hôm 24/3. Khi đó, chuyến bay chở 7-8 bác sĩ thuộc Hiệp hội Y học Gia đình Hàn Quốc, bao gồm giáo sư Kim Jeong-hwan (Trung tâm Y tế Gangnam Eulji) và Giám đốc Hiệp hội Kim Cheol-min, đang trên đường đến Philippines dự hội nghị khoa học. Ngay sau khi cất cánh, phi hành đoàn phát loa tìm kiếm nhân viên y tế hỗ trợ một hành khách đổ bệnh nặng.
Tiếp cận hiện trường, GS Kim Jeong-hwan phát hiện một phụ nữ ngoại quốc trung niên ngã gục trước cửa nhà vệ sinh với gương mặt tái nhợt. Nhịp thở của hành khách này yếu dần, huyết áp tụt xuống dưới 80 mmHg, đe dọa ngưng tim. Dù nghi ngờ người phụ nữ đột quỵ, nhóm bác sĩ không thể chẩn đoán chính xác do thiếu thiết bị chuyên dụng, đồng thời đối mặt với áp lực phải quyết định việc máy bay hạ cánh khẩn cấp hay không.
GS Kim Cheol-min lập tức tiến hành đặt ống nội khí quản để khai thông đường thở. Người bệnh có thể hình to lớn và tụt lưỡi, gây khó khăn cho việc thao tác bằng đèn soi thanh quản nhựa. Ông nhanh trí chuyển sang đặt mặt nạ thanh quản (LMA) có sẵn trên khoang, trong khi GS Kim Jeong-hwan dùng ống nghe theo dõi sát sao tiếng thở. Ngay sau đó, họ phối hợp hỗ trợ hô hấp liên tục cho người bệnh bằng bóng bóp (Ambu).
Nhờ cấp cứu kịp thời, sắc mặt người phụ nữ dần cải thiện. Ít phút sau, hành khách này tự thở trở lại, ổn định huyết áp, phục hồi ý thức và phản hồi bằng cách cử động đầu, chớp mắt. Nhóm chuyên gia luân phiên theo dõi sát sao người bệnh suốt 3 giờ 30 phút tiếp theo. Ngay khi máy bay đáp xuống Manila, họ bàn giao nữ hành khách cho đội ngũ y tế địa phương.
Chia sẻ trên trang cá nhân, GS Kim Jeong-hwan đánh giá đây là tình huống cấp cứu nguy kịch hiếm gặp và việc có nhiều chuyên gia cùng lĩnh vực trên chuyến bay phối hợp ứng cứu kịp thời là một sự may mắn vô cùng hy hữu.
Bình Minh (Theo The Chosun Daily, Maeil Business)
Nguồn: https://vnexpress.net/nhom-bac-si-han-quoc-cuu-song-hanh-khach-nguy-kich-tren-may-bay-5058100.html

Cách uống cà phê đưa vi nhựa vào người
Theo China Times, TS.BS Zhang Jiaming, Trưởng khoa Di truyền, Bệnh viện Đa khoa Cựu chiến binh Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc), uống cà phê hoặc các loại đồ uống nóng bằng cốc giấy có lớp phủ nhựa bên trong có thể làm tăng nguy cơ cơ thể tiếp xúc với hạt vi nhựa.
Cốc giấy không hoàn toàn chỉ làm từ giấy. Để giữ chất lỏng, mặt trong của nhiều loại cốc thường được phủ một lớp vật liệu chống thấm, phổ biến là polyethylene. Lớp phủ này giúp cốc không bị mềm, rò rỉ khi chứa nước, cà phê hoặc trà nóng.
Tuy nhiên, theo chuyên gia này, khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, lớp vật liệu bên trong có thể bị ảnh hưởng. Một số nghiên cứu cho thấy nước nóng có thể làm lớp phủ nhựa trong cốc dùng một lần giải phóng các hạt nhựa rất nhỏ và một số chất khác vào đồ uống.
Điều này đồng nghĩa người dùng không chỉ uống cà phê. Nếu thường xuyên dùng cốc giấy hoặc vật dụng nhựa với đồ nóng, họ có thể vô tình đưa thêm các hạt vi nhựa vào cơ thể.
Vi nhựa là các mảnh nhựa có kích thước rất nhỏ, thường được tạo ra từ sự phân rã của sản phẩm nhựa lớn hơn hoặc phát sinh trong quá trình sử dụng vật liệu nhựa. Chúng có thể xuất hiện trong nước uống, thực phẩm, bụi không khí, mỹ phẩm, đồ dùng sinh hoạt và bao bì thực phẩm.
Theo TS Zhang, hạt vi nhựa có kích thước nhỏ, có thể đi qua một số hàng rào bảo vệ của cơ thể và xâm nhập vào tuần hoàn máu. Khi vào cơ thể, chúng có thể mang theo chất hóa dẻo hoặc hấp phụ thêm các chất ô nhiễm khác từ môi trường.
Cơ thể có xu hướng nhận diện các hạt lạ này như vật chất bất thường. Từ đó, hệ miễn dịch có thể kích hoạt phản ứng phòng vệ. Nếu sự tiếp xúc diễn ra thường xuyên và kéo dài, một số chuyên gia lo ngại tình trạng viêm âm ỉ có thể hình thành.
Đáng chú ý, một nghiên cứu công bố trên Nature Medicine năm 2025 ghi nhận vi nhựa trong mô não người sau tử vong. Trong nghiên cứu này, các mẫu não của người mắc sa sút trí tuệ có lượng vi nhựa cao hơn so với một số nhóm khác.
Dù vậy, các nhà khoa học cũng thận trọng nhấn mạnh phát hiện này chưa đủ để kết luận vi nhựa trực tiếp gây mất trí nhớ hay sa sút trí tuệ. Đây là mối liên quan đáng quan tâm, cần tiếp tục được nghiên cứu để làm rõ cơ chế và mức độ ảnh hưởng.
Với tim mạch, một nghiên cứu đăng trên New England Journal of Medicine năm 2024 phát hiện vi nhựa và nhựa nano trong mảng xơ vữa động mạch cảnh của một số bệnh nhân.
Những người có hạt nhựa trong mảng xơ vữa được ghi nhận có nguy cơ gặp biến cố như nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong cao hơn trong thời gian theo dõi.
Không chỉ cốc cà phê mang đi
Theo TS Zhang, cốc giấy đựng cà phê nóng chỉ là một ví dụ. Trong sinh hoạt hằng ngày, nhiều người còn có thói quen đựng canh nóng, cháo nóng, thức ăn nhiều dầu mỡ trong hộp nhựa dùng một lần. Một số người hâm nóng thức ăn trực tiếp trong hộp nhựa không rõ chất lượng bằng lò vi sóng.
Đây là những thói quen nên được nhìn lại. Nhiệt độ cao, dầu mỡ và thời gian tiếp xúc có thể làm tăng nguy cơ thôi nhiễm một số chất từ vật liệu đựng thực phẩm, đặc biệt với sản phẩm kém chất lượng hoặc không được thiết kế để chịu nhiệt.
Với đồ uống nóng, chuyên gia khuyến nghị người dùng có thể mang theo cốc cá nhân bằng thủy tinh, inox hoặc vật liệu an toàn cho thực phẩm. Với thức ăn cần hâm nóng, nên chuyển sang hộp thủy tinh hoặc vật dụng có ghi rõ khả năng dùng trong lò vi sóng.
Tin Gốc: Dân Trí

"Người Việt không chỉ đang 'chưa giàu đã già' mà còn 'chưa già đã yếu'", thạc sĩ Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Nghiên cứu phát triển TP HCM, nói tại họp báo công bố dự án Vì một Việt Nam khỏe mạnh do Báo Tuổi trẻ phối hợp tổ chức, chiều 24/4.
Ở Việt Nam, già hóa dân số diễn ra nhanh với khoảng 16,1 triệu người cao tuổi vào năm 2025, chiếm 16% dân số, thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, đặt ra nghịch lý "chưa kịp giàu đã già". Tại TP HCM, dù bước vào già hóa muộn hơn cả nước khoảng 6 năm (từ 2017), thành phố được dự báo sẽ chạm ngưỡng "dân số già" vào năm 2038 và bước vào giai đoạn "siêu già" sau năm 2048.
Dù tuổi thọ trung bình tăng lên, nhưng mỗi người Việt có khoảng 10 năm cuối đời phải sống chung với ốm đau. TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó giám đốc Sở Y tế TP HCM, dẫn số liệu tầm soát miễn phí gần 500.000 người trên 60 tuổi trong hai năm qua cho thấy đa số mắc nhiều bệnh cùng lúc, trung bình trên hai bệnh mạn tính. Cụ thể, hơn 63% bị tăng huyết áp, hơn 26% nghi ngờ hoặc mắc đái tháo đường.
Đáng chú ý, 15% trường hợp tăng huyết áp chỉ được phát hiện khi tầm soát, đồng nghĩa nhiều người đang mang "sát thủ thầm lặng" mà không hay biết. Bệnh mạn tính không được phát hiện sớm khiến nhiều người sống lâu nhưng sức khỏe suy giảm, dễ tàn tật.
Tuổi thọ tăng nhưng áp lực tài chính lớn khi khoảng 70% người cao tuổi không có lương hưu. Trong khi đó, gia đình đô thị thay đổi, con cái đi làm cả ngày khiến việc chăm sóc hạn chế. Nhu cầu chăm sóc dài hạn tăng nhanh trong khi nguồn lực gia đình suy giảm, hệ thống dịch vụ và viện dưỡng lão còn thiếu.
Trước thực trạng này, các chuyên gia cho rằng cần sớm thay đổi cách tiếp cận trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Lãnh đạo Sở Y tế TP HCM đề xuất áp dụng mô hình chăm sóc sức khỏe 5 tầng theo chuẩn quốc tế, với trọng tâm là "già hóa tại chỗ", giúp người cao tuổi sống trong môi trường quen thuộc.
Theo đó, người cao tuổi được khuyến khích tự chăm sóc tại nhà và duy trì lối sống chủ động; khi cần có thể tham gia mô hình cộng đồng như "nhà già". Trường hợp nặng hơn sẽ có bác sĩ gia đình, điều dưỡng đến tận nhà; khi không còn khả năng tự chăm sóc sẽ chuyển đến cơ sở dưỡng lão và chỉ nhập viện tuyến cuối khi cần điều trị cấp tính. Sau ổn định, bệnh nhân được đưa về tuyến dưới để tiếp tục chăm sóc, giảm quá tải.
ThS Phạm Bình An cho rằng cần thay đổi cách nhìn, không coi người già là gánh nặng mà là trung tâm của "kinh tế bạc" - vừa tiêu dùng, vừa đóng góp kinh nghiệm cho xã hội. Để phát triển, cần xây dựng hệ sinh thái đồng bộ, mở rộng bảo hiểm chăm sóc dài hạn, thiết kế đô thị thân thiện với người cao tuổi và đẩy mạnh hợp tác công tư để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào viện dưỡng lão, công nghệ y tế.
PGS.TS.BS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Y tế dự phòng, nhấn mạnh vai trò của y tế cơ sở trong việc sàng lọc, phát hiện bệnh từ sớm, từ xa, trong bối cảnh các bệnh không lây nhiễm hiện chiếm đến 70% nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam. Một trạm y tế giỏi không phải là nơi chữa được bệnh khó, mà là nơi nắm rõ địa bàn có bao nhiêu người cao huyết áp, tiểu đường để quản lý sức khỏe liên tục.
Đồng quan điểm, PGS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ trung ương, khẳng định y tế dự phòng phải lấy người dân làm trung tâm, kéo dài xuyên suốt vòng đời từ khi là trẻ sơ sinh đến lúc cao tuổi, chứ không thể chờ đến khi mắc bệnh mới can thiệp. Hiệu quả lớn nhất không chỉ nằm ở chỗ xử lý tốt khi bệnh xảy ra, mà quan trọng hơn là loại bỏ, ngăn ngừa được nguy cơ trước khi bệnh xuất hiện.
Tin Gốc: Vnexpress

Những ngày gần đây, thông tin về một loại thuốc điều trị ung thư có tên amivantamab có thể khiến khối u "biến mất" chỉ sau vài tuần điều trị xuất hiện trên nhiều phương tiện truyền thông quốc tế, thu hút sự quan tâm của đông đảo bệnh nhân và người nhà.
Đằng sau những tiêu đề đầy hy vọng đó là một kết quả nghiên cứu đáng chú ý, nhưng cũng đi kèm không ít điều cần được hiểu đúng.
Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, BS Nguyễn Duy Anh - Chuyên gia Ung bướu cho biết kết quả thử nghiệm mới nhất thực sự là một tín hiệu tích cực trong lĩnh vực điều trị ung thư, đặc biệt với nhóm bệnh nhân đã thất bại với nhiều phương pháp điều trị trước đó.
Không phải "thuốc thần" chữa khỏi ung thư
Theo BS Nguyễn Duy Anh, nghiên cứu OrigAMI-4 được trình bày tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO) năm 2026 cho thấy amivantamab tạo ra đáp ứng khách quan ở khoảng 42-47% bệnh nhân ung thư đầu cổ tái phát hoặc di căn sau khi thất bại với hóa trị và miễn dịch trị liệu.
Đáng chú ý, có 15 bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn, tức là không còn phát hiện tổn thương trên các phương tiện đánh giá hiện có.
"Đây là kết quả rất đáng chú ý trong ung thư học. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận một cách thận trọng", BS Duy Anh nói.
Theo chuyên gia, nghiên cứu mới được thực hiện trên nhóm bệnh nhân tương đối nhỏ, khoảng hơn 100 trường hợp.
Trong lịch sử phát triển thuốc điều trị ung thư, đã có không ít liệu pháp cho kết quả rất ấn tượng ở các nghiên cứu ban đầu nhưng sau đó cần thêm các thử nghiệm pha III quy mô lớn để xác nhận hiệu quả thực sự đối với thời gian sống còn và chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Vì vậy, theo bác sĩ, công chúng nên đón nhận thông tin với tâm thế lạc quan nhưng không nên xem đây là "thuốc thần kỳ" có thể chữa khỏi mọi loại ung thư.
"Đây là một bước tiến quan trọng, nhưng vẫn chỉ là một mắt xích trong hành trình dài phát triển các liệu pháp điều trị chính xác", BS Duy Anh nhận định.
Điều gì khiến giới khoa học đặc biệt quan tâm?
Amivantamab thuộc nhóm kháng thể đơn dòng lưỡng đặc hiệu (bispecific antibody) - một trong những hướng phát triển được kỳ vọng nhất của y học hiện đại.
Theo BS Duy Anh, thuốc có khả năng đồng thời tác động lên hai mục tiêu sinh học quan trọng là EGFR và MET, vốn liên quan đến quá trình phát triển, xâm lấn và kháng điều trị của nhiều loại ung thư khác nhau.
Điểm đặc biệt của amivantamab là không chỉ ngăn chặn tín hiệu giúp tế bào ung thư phát triển mà còn huy động hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ác tính.
Nếu như hóa trị tác động lên các tế bào phân chia nhanh, bao gồm cả tế bào lành; xạ trị sử dụng tia bức xạ để phá hủy ADN khối u; còn miễn dịch trị liệu chủ yếu "gỡ phanh" cho hệ miễn dịch thông qua các điểm kiểm soát như PD-1 hoặc PD-L1, thì amivantamab kết hợp nhiều cơ chế chống ung thư trong cùng một phân tử thuốc.
Chính sự kết hợp đa cơ chế này khiến giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm tới loại thuốc trên.
Khối u biến mất chưa đồng nghĩa khỏi bệnh
Theo BS Nguyễn Duy Anh, một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là cho rằng việc khối u biến mất trên phim chụp đồng nghĩa bệnh nhân đã khỏi ung thư.
Trong thực hành ung thư học, hiện tượng này được gọi là đáp ứng hoàn toàn (Complete Response - CR). Điều đó có nghĩa bác sĩ không còn phát hiện tổn thương bằng các phương tiện chẩn đoán hiện có.
Tuy nhiên, đáp ứng hoàn toàn không đồng nghĩa tuyệt đối với khỏi bệnh.
"Vẫn có thể tồn tại các tế bào ung thư vi thể mà các phương tiện chẩn đoán hiện nay chưa phát hiện được. Chính những tế bào này có thể là nguồn gốc của tái phát sau nhiều tháng hoặc nhiều năm", BS Duy Anh giải thích.
Theo chuyên gia, để khẳng định một bệnh nhân thực sự khỏi bệnh, cần theo dõi lâu dài nhiều chỉ số như thời gian sống không bệnh, thời gian sống toàn bộ, tỷ lệ tái phát và chất lượng cuộc sống sau điều trị.
Do đó, kết quả đáp ứng hoàn toàn là tín hiệu rất tích cực, nhưng chưa phải là dấu chấm hết cho cuộc chiến chống ung thư.
Đã có mặt tại Việt Nam nhưng không phải ai cũng tiếp cận được
BS Duy Anh cho biết, amivantamab thực tế không phải là một loại thuốc hoàn toàn mới trên thế giới. Thuốc đã được phê duyệt tại nhiều quốc gia cho một số nhóm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ mang đột biến EGFR đặc hiệu.
Tại Việt Nam, thuốc cũng đã được triển khai tại một số cơ sở điều trị ung thư lớn, chủ yếu trong điều trị ung thư phổi theo đúng chỉ định được phê duyệt. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân tiếp cận được liệu pháp này hiện chưa nhiều.
Một trong những nguyên nhân lớn nhất là chi phí điều trị.
Chi phí điều trị bằng amivantamab có thể lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi tháng, thậm chí khoảng 1,4 tỷ đồng trong 3 tháng đầu điều trị tùy cân nặng, liều dùng, phác đồ và các chương trình hỗ trợ thuốc.
"Thuốc có 2 loại, liều dùng với bệnh nhân dưới 80kg sẽ tốn khoảng 400 triệu đồng cho lần truyền đầu, mỗi lần truyền sau có chi phí khoảng 200 triệu đồng. Mỗi 2 tuần sẽ truyền 1 lần. Với các bệnh nhân trên 80kg sẽ tốn nhiều hơn.
Với các thuốc sinh học thế hệ mới, thách thức không chỉ nằm ở hiệu quả điều trị mà còn ở khả năng tiếp cận. Chi phí là gánh nặng rất lớn với nhiều gia đình bệnh nhân ung thư", BS Duy Anh cho biết.
Chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng người bệnh không nên tự tìm mua hoặc đặt kỳ vọng quá lớn sau khi đọc các thông tin trên mạng xã hội. Việc sử dụng thuốc cần dựa trên chẩn đoán xác định, xét nghiệm đột biến gen và đánh giá kỹ lưỡng của bác sĩ chuyên khoa.
Tin Gốc: Dân Trí

