Tuy nhiên, trong một số tình huống, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý nghiêm trọng như đột quỵ, xuất huyết não, nhiễm trùng hệ thần kinh hoặc khối u não. Điều quan trọng là cần phân biệt giữa triệu chứng thông thường với dấu hiệu nguy hiểm, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Nhức đầu và chóng mặt thường được chia thành 2 nhóm chính gồm nguyên phát và thứ phát. Nhóm nguyên phát bao gồm nhức đầu do căng thẳng, đau nửa đầu hoặc chóng mặt do rối loạn tiền đình. Những trường hợp này không liên quan đến tổn thương cấu trúc trong não và hiếm khi nguy hiểm.
Ngược lại, nhóm thứ phát là khi triệu chứng xuất hiện do một bệnh lý tiềm ẩn như nhiễm trùng, chấn thương, vấn đề mạch máu hoặc khối u. Đây là nhóm cần đặc biệt chú ý vì có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nếu không được phát hiện sớm. Ví dụ, nhức đầu thứ phát có thể do xuất huyết não hoặc viêm màng não, trong khi chóng mặt có thể xuất phát từ tổn thương thần kinh trung ương.
Điểm khó là triệu chứng giữa 2 nhóm này đôi khi khá giống nhau. Vì vậy, y học thường dựa vào các dấu hiệu cảnh báo.
Với nhức đầu, một trong những dấu hiệu cảnh báo quan trọng nhất là cơn đau xuất hiện đột ngột, dữ dội, thường được mô tả là đau như búa bổ. Đây có thể là biểu hiện của xuất huyết não, cần cấp cứu ngay.
Ngoài ra, nếu nhức đầu đi kèm sốt và cứng cổ thì người mắc cũng cần cảnh giác với các bệnh nhiễm trùng như viêm màng não. Trường hợp xuất hiện thêm các triệu chứng thần kinh như yếu tay chân, nói khó hoặc nhìn mờ cũng là dấu hiệu nguy hiểm, có thể do đột quỵ hoặc tổn thương não.
Trong khi đó, chóng mặt thường bị xem nhẹ. Nhưng trong một số trường hợp, đây lại là dấu hiệu cảnh báo quan trọng. Nếu chóng mặt đi kèm yếu hoặc tê một bên cơ thể, nói khó, mất thăng bằng nghiêm trọng hoặc nhìn đôi, người bệnh cần đi khám ngay vì có thể liên quan đến đột quỵ hoặc tổn thương thần kinh trung ương.
Ngược lại, chóng mặt lành tính thường xuất hiện trong thời gian ngắn, liên quan đến thay đổi tư thế và không kèm triệu chứng thần kinh. Chẳng hạn, chóng mặt khi đứng lên đột ngột hoặc xoay đầu nhanh thường không nguy hiểm.
Trong sinh hoạt hằng ngày, người mắc có thể theo dõi các yếu tố như tần suất, mức độ đau và các triệu chứng đi kèm. Nếu cơn đau nhẹ, ổn định và quen thuộc thì có thể nghỉ ngơi, uống đủ nước và giảm căng thẳng để cải thiện. Tuy nhiên, nếu nhận thấy bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, đi khám sớm là lựa chọn an toàn hơn, Medical News Today.
Đáng lo hơn, việc chủ quan tự nặn hoặc xử trí sai cách có thể khiến mụn nhiễm trùng lan rộng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Theo bác sĩ chuyên khoa 1 Huỳnh Thị Mai Thi, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Da Liễu TP.HCM, mụn đầu đinh (hay mụn đinh râu) là tình trạng nhiễm trùng vùng nang lông, thường gây ra bởi tụ cầu Staphylococcus aureus.
Biểu hiện lâm sàng ban đầu là tình trạng sưng, đỏ, đau vùng nang lông, vị trí thường gặp là vùng đầu - mặt - cổ, đặc biệt là vùng quanh mũi - miệng. Sang thương tiến triển thành mụn mủ ở giữa giống đầu đinh, nên dân gian thường gọi là mụn đầu đinh. Bên cạnh đó, người bệnh có thể có các biểu hiện toàn thân như sốt, mệt mỏi, ăn uống kém.
“Tự ý nặn hay xử trí mụn đầu đinh không đúng cách sẽ làm tình trạng nhiễm trùng lan rộng ra vùng da xung quanh. Đặc biệt, vùng mặt là vùng liên quan đến nhiều hệ thống mạch máu - thần kinh, khi chăm sóc da không đúng, nhiễm trùng có thể lan rộng đến hệ thống tĩnh mạch vùng đầu - mặt gây viêm tĩnh mạch xoang hang, viêm não - màng não; hay nặng hơn là nhiễm trùng lan rộng toàn thân gây nhiễm trùng huyết, có nguy cơ đe dọa tính mạng của người bệnh”, bác sĩ Mai Thi lưu ý.
Trước quan niệm cho rằng mụn đầu đinh xuất hiện là dấu hiệu của “đường huyết cao”, “nóng gan” hoặc do ăn quá nhiều tinh bột, trái cây, bác sĩ Mai Thi cho biết đây không phải là nguyên nhân trực tiếp gây mụn.
Tuy nhiên, tình trạng đường huyết tăng cao và chế độ ăn mất cân đối có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch và khả năng lành thương, từ đó làm tăng nguy cơ nhiễm trùng da. Ở người mắc mụn đầu đinh, những yếu tố này cũng có thể khiến việc điều trị kéo dài hơn.
Từ đó, các nguy cơ thúc đẩy bệnh mụn đầu đinh được bác sĩ chỉ ra bao gồm:
Khi một bệnh nhân xuất hiện mụn đầu đinh, bác sĩ Mai Thi hướng dẫn cách xử lý trước khi đến khám tại bệnh viện cụ thể như sau:
Khi có tình trạng sưng, đỏ lan rộng hay có các triệu chứng toàn thân, người bệnh cần khám ngay tại chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.
Ngày 24/6, bác sĩ Mai Văn Lực, khoa Ngoại Tiết niệu và Nam học, Bệnh viện E, cho biết viên sỏi quá lớn, tương đương quả trứng ngỗng, nên các phương pháp nội soi tán sỏi thông thường không còn phù hợp. Êkíp buộc phải phẫu thuật mở để lấy khối sỏi ra ngoài. Thay vì đường mổ dọc như thông thường sẽ để lại sẹo lớn, các bác sĩ dùng đường rạch nhỏ theo nếp lằn da tự nhiên vùng hạ vị, giúp bệnh nhân giảm sang chấn và tăng tính thẩm mỹ.
Theo bác sĩ, sỏi bàng quang hình thành do tình trạng ứ đọng nước tiểu kéo dài, phổ biến ở người có thói quen nhịn tiểu hoặc uống quá ít nước. Một số yếu tố nguy cơ khác là phì đại tiền liệt tuyến, u xơ, nhiễm trùng vùng sinh dục tái phát, chế độ ăn uống chưa khoa học, từng trải qua phẫu thuật hoặc sử dụng một số loại thuốc có nguy cơ cao bị sỏi thận.
Triệu chứng thường gặp là đau lưng, đau vùng mạn sườn có thể lan ra phía bụng dưới, mạn sườn và bắp đùi. Người bệnh đau khi đi tiểu, tiểu ra máu, tiểu rắt, tiểu són; có cảm giác buồn nôn hoặc sốt và ớn lạnh.
Nhiều trường hợp diễn tiến âm thầm nên chỉ phát hiện khi sỏi đã lớn hoặc gây biến chứng. Không điều trị sớm, sỏi bàng quang có thể gây rối loạn tiểu tiện, bí tiểu, viêm bàng quang mạn tính, nhiễm trùng tiết niệu, suy giảm chức năng thận, thậm chí tăng nguy cơ ung thư bàng quang.
Để phòng bệnh, bác sĩ khuyến cáo uống 1,5-2 lít nước mỗi ngày, tránh nhịn tiểu làm ứ đọng nước tiểu lâu ngày. Vận động đều đặn như tập thể dục, đi bộ, bơi... Tránh ngồi hoặc nằm một chỗ thời gian kéo dài. Duy trì chế độ sinh hoạt phù hợp, tránh ăn thức ăn nhiều canxi, giảm sự tích tụ hình thành sỏi.
Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận khoảng 3 năm trước. Ngại đụng dao kéo và e dè chi phí điều trị, ông mua các sản phẩm được quảng cáo rầm rộ trên mạng với lời cam kết có thể làm tan sỏi chỉ trong một đến hai tháng. Sau thời gian sử dụng, bệnh không cải thiện mà nặng hơn.
Ngày 4/3, ThS.BS.CK1 Trần Quốc Phong, Trưởng Đơn vị Tiết niệu, Bệnh viện An Bình, cho biết bệnh nhân vào cấp cứu với viên sỏi thận kích thước khoảng 20 mm đang gây tắc nghẽn đường niệu. Đây là tình trạng nguy hiểm, có thể phá hủy chức năng thận nếu không xử lý kịp thời.
Các bác sĩ phẫu thuật lấy sỏi, giải quyết tình trạng bít tắc và bảo tồn chức năng thận cho người bệnh. Hiện, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định, bày tỏ ân hận vì đã tin vào các lời quảng cáo sai lệch và bỏ lỡ thời gian vàng để điều trị chính thống.
Theo bác sĩ Phong, hiện không có thuốc nào có thể làm tan hoàn toàn mọi loại sỏi thận. Một số thuốc chỉ hỗ trợ trong trường hợp nhất định, nhất là với sỏi nhỏ và có thành phần đặc hiệu. Phần lớn sỏi thận, điển hình là sỏi canxi, không thể tự tan bằng thuốc uống.
Các thuốc điều trị sỏi thận hiện nay chủ yếu giúp giảm đau, giãn cơ niệu quản để hỗ trợ sỏi nhỏ đào thải, đồng thời điều chỉnh môi trường nước tiểu nhằm hạn chế sỏi lớn thêm và giảm nguy cơ tái phát. Việc dùng "thuốc tan sỏi" trên mạng có thể làm chậm điều trị, khiến sỏi tiếp tục tăng kích thước, gây tắc nghẽn, nhiễm trùng và tổn thương thận.
Người dân cần đi khám sớm khi có dấu hiệu bất thường như đau hông lưng lan xuống bụng dưới hoặc bẹn, tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đục hoặc có máu; buồn nôn, nôn; đặc biệt sốt, ớn lạnh là dấu hiệu cần cấp cứu. Bác sĩ nhấn mạnh, điều quan trọng là xác định đúng loại sỏi, kích thước và mức độ ảnh hưởng để điều trị phù hợp, thay vì tin vào "thần dược" không rõ nguồn gốc.