Theo dữ liệu mới công bố từ Bộ Giáo dục Trung Quốc do Tân Hoa Xã dẫn lại, trong 5 năm từ 2021 – 2025, các trường nước này đã bãi bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 ngành học cử nhân, đồng thời mở mới 10.200 ngành – tương đương với việc điều chỉnh hơn 30% chương trình đào tạo trên cả nước. Những ngành bị cắt giảm tập trung phần lớn trong lĩnh vực ngoại ngữ, nghệ thuật, quản trị, khoa học xã hội và nhân văn.
Dựa trên dữ liệu công khai từ 134 trường ĐH Trung Quốc, tổ chức tư vấn giáo dục MyCOS tại nước này chỉ ra marketing là ngành bị đề xuất hủy bỏ nhiều nhất trong năm 2025, với 13 trường đề xuất. Xếp thứ 2 là quản trị công (12), thứ ba là quảng cáo và kỹ thuật dịch vụ ô tô (đều có 11 trường đề xuất hủy). Công tác xã hội và nghệ thuật truyền thông kỹ thuật số cũng là một số ngành học bị gọi tên.
Song song với hủy bỏ, các ĐH Trung Quốc còn dừng tuyển sinh nhiều ngành như quản trị nguồn nhân lực, quản trị du lịch, quản lý logistics, quản lý kinh tế quốc dân, quản lý đô thị, tiếng Nhật, tiếng Đức, giáo dục Hán ngữ quốc tế…, theo báo cáo công bố hồi tháng 5.
Tờ South China Morning Post phân tích những ngành nói trên ngày càng bị xem là lỗi thời hoặc dư thừa tại Trung Quốc, trong bối cảnh hơn 16% người trẻ thất nghiệp và thị trường lao động đổi thay nhanh chóng dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI). Vì thế, các ngành mở mới được xây dựng sát với mục tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc, nhất là khi nước này muốn trở thành quốc gia dẫn đầu toàn cầu về các công nghệ tiên tiến.
Có thể thấy, diễn biến tại Trung Quốc không mới, dù nguyên nhân có phần khác biệt so với các nước có chung xu hướng.
Ở Úc, số lượng ĐH “quay lưng” với nhóm ngành nghệ thuật, ngôn ngữ, nhân văn… ngày càng tăng với những tên tuổi nổi bật gồm ĐH Quốc gia Úc, ĐH Công nghệ Queensland, ĐH Wollongong, ĐH Macquarie. Kéo theo đó là xu hướng cắt giảm giảng viên, nhân viên và sáp nhập hoặc giải thể các đơn vị nghiên cứu, đào tạo trong vài năm trở lại đây. Vấn đề này xuất phát từ cả hai phía. Một mặt, số học sinh trong và ngoài nước chọn các ngành này có xu hướng giảm trong thời gian qua vì triển vọng việc làm không như mong đợi. Mặt khác, theo truyền thông Úc, một số chính sách liên quan đến tài trợ từ ngân sách chính phủ được cho là đã khiến học sinh phải đóng tiền cao hơn nếu học các ngành không được coi là ưu tiên quốc gia và các trường gặp khó khăn tài chính.
Xu hướng cắt giảm các ngành ngôn ngữ, khoa học xã hội và nhân văn cũng lan rộng trong hệ thống giáo dục ĐH Mỹ, ở hàng loạt trường công lập lẫn tư thục. Khó khăn tài chính và yếu tố chính trị là 2 nguyên nhân phổ biến được gọi tên đằng sau những quyết định nói trên. Điều này làm dấy lên nhiều tranh luận về “giá trị” của tấm bằng ĐH ở thời điểm hiện tại, khi các ngành học khối nghệ thuật, nhân văn… được cho là có ít cơ hội việc làm và tạo ra thu nhập thấp hơn.
Thực tế, theo báo cáo năm 2025 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong số những người trưởng thành có trình độ ĐH, nhóm từng học các ngành liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông đạt tỷ lệ việc làm trung bình cao nhất trong các quốc gia OECD, ở mức 90%. Tỷ lệ việc làm thấp nhất thuộc về nhóm được đào tạo ở các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn… với mức trung bình 84%.
Báo cáo cũng chỉ ra các ngành thuộc nhóm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) thường gắn với mức thu nhập cao nhất. Ở Mỹ, người có bằng ĐH ngành STEM có thể đạt thu nhập cao hơn trung bình tới 20%. Ngược lại, những người có bằng cấp trong lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn và giáo dục thường có mức thu nhập thấp nhất trong nhiều quốc gia được khảo sát. Tuy nhiên, OCED khuyến nghị các số liệu trên cần được diễn giải thận trọng, cần tính tới bối cảnh thực tế và đặc thù ngành học.
Có nhiều năm học tập, làm việc với các trường ĐH Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế Trường ĐH Lạc Hồng, Giám đốc Công ty TNHH Giáo dục quốc tế Lucky Star, thông tin: Riêng trong năm 2024, các ĐH trên toàn Trung Quốc đã mở mới 1.839 ngành, dừng tuyển sinh 2.220 ngành và xóa sổ 1.428 ngành. Các ngành mới chủ yếu liên quan tới AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ thông minh và năng lượng mới. Đây là các ngành gắn chặt với chiến lược phát triển KH-CN của quốc gia này, theo bà Oanh.
“Trung Quốc đã tái cơ cấu giáo dục ĐH theo nhu cầu phát triển kinh tế và thị trường lao động. Thực tế, yếu tố việc làm đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi điều chỉnh ngành. Không ít nơi áp dụng cơ chế cảnh báo với các ngành có tỷ lệ việc làm thấp trong nhiều năm liền. Những ngành bị cảnh báo có thể giảm chỉ tiêu hoặc tạm dừng tuyển sinh, thậm chí tiến tới đóng ngành”, bà Oanh nói.
Song, điều này không đồng nghĩa Trung Quốc bỏ rơi các ngành như ngoại ngữ. Thay vào đó, các trường chuyển dịch từ đào tạo ngoại ngữ đơn thuần sang ngoại ngữ kèm chuyên môn như tiếng Anh kết hợp logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới… “Điều doanh nghiệp cần không chỉ là người biết ngoại ngữ, mà là nhân sự dùng được ngoại ngữ để giải quyết công việc thực tế”, tiến sĩ Oanh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, tiến sĩ Trần Thị Cẩm Tú, Viện trưởng Viện Đào tạo và hợp tác quốc tế kiêm Giám đốc chương trình ngôn ngữ Trung Quốc, Trường ĐH Hoa Sen, cho rằng các ĐH Trung Quốc không “bỏ” ngành ngoại ngữ, nghệ thuật, nhân văn hay quản trị, mà buộc các ngành này phải tái định vị trong bối cảnh mới theo hướng tích hợp công nghệ, tăng cường kiến thức thực tiễn và gắn với nghề cụ thể.
“Học ngoại ngữ ngày nay phải có yếu tố liên ngành, kết hợp năng lực liên văn hóa. Các ngành khoa học nhân văn cũng không thể chỉ dừng ở tri thức hàn lâm mà phải có năng lực phân tích xã hội, chính sách, thiết kế trải nghiệm con người trong kỷ nguyên AI”, bà Tú nhận định. Chuyên gia này cho biết thêm một nguyên do khác khiến nhóm ngành ngoại ngữ tại Trung Quốc ít được quan tâm hơn trước là nước này đang muốn tăng cường lan tỏa văn hóa, ngôn ngữ Trung ra thế giới.
Đó là nguyên nhân bà cho rằng tại VN cần xem xét thận trọng cả ưu tiên phát triển của quốc gia lẫn nhu cầu của thị trường lao động, thay vì học hỏi rập khuôn các mô hình ở nước ngoài. Thực tế, VN và các quốc gia không chỉ khác nhau về vị trí địa lý mà còn về giai đoạn phát triển. Chưa kể, VN đang mở rộng quan hệ đối tác với các quốc gia và cán cân kinh tế đang dịch chuyển sang khối dịch vụ, sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là tiền đề dẫn tới sự phát triển “nóng” của một số ngành tại VN như quản trị, truyền thông, marketing, nghệ thuật ứng dụng, ngoại ngữ – đặc biệt là tiếng Trung khi dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore… đang đổ về.
“Rồi sẽ tới giai đoạn các ngành học phát triển đủ mạnh, đủ đa dạng cũng như đáp ứng đủ nhu cầu thị trường. Lúc này, chúng ta phải xem xét lại danh mục đào tạo hiện hành để chuyển đổi theo hướng bền vững hơn”, bà Tú lưu ý.
Tiến sĩ Tú nói thêm riêng việc đào tạo ngoại ngữ ở VN cũng đang có chuyển dịch đáng kể. Chẳng hạn, nếu muốn theo đuổi định hướng sư phạm, sinh viên được đào tạo thêm kỹ năng ứng dụng AI và công nghệ số trong dạy học. Còn nếu theo hướng ứng dụng, việc đào tạo gắn chặt với AI và kỹ năng ngành nghề nhất định, trải rộng nhiều lĩnh vực để sinh viên sau khi ra trường có thể làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hóa. “Đã không còn cảnh chỉ học thuần túy ngôn ngữ để thi lấy chứng chỉ như xưa”, bà Tú chia sẻ.
Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định phê duyệt Đề án phát triển một số cơ sở giáo dục ĐH lớn ở vùng Đông Nam bộ theo hướng đạt trình độ tiên tiến của nhóm các cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu trong khu vực châu Á.
Đề án được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục ĐH, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời phát huy vai trò của giáo dục ĐH trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển đất nước.
Mục tiêu chung của đề án là phát triển 3 cơ sở đào tạo ĐH công lập (ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Y dược TP.HCM, Trường ĐH Việt Đức), cùng với ĐH Quốc gia TP.HCM thành những trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ hàng đầu khu vực châu Á. Các cơ sở đào tạo ĐH này là động lực phát triển giáo dục ĐH và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của TP.HCM và vùng Đông Nam bộ.
Đề án xác định, đến năm 2030, ĐH Kinh tế TP.HCM duy trì vị trí trong nhóm 150 cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu châu Á về kinh doanh và quản lý theo các bảng xếp hạng ĐH quốc tế uy tín.
Trường ĐH Y dược TP.HCM đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn của nhóm 150 cơ sở giáo dục ĐH uy tín hàng đầu châu Á trong lĩnh vực khoa học sức khỏe.
Trường ĐH Việt Đức phát triển theo mô hình ĐH nghiên cứu, có chất lượng đào tạo và nghiên cứu xuất sắc, hệ thống quản trị hiện đại theo mô hình ĐH nghiên cứu hàng đầu của CHLB Đức.
Đề án đồng thời đặt ra các mục tiêu cụ thể về quy mô đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học; nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế. Song song đó là phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, thu hút sinh viên quốc tế, mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao tỷ lệ chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định khu vực và quốc tế.
Đến năm 2035, 3 cơ sở giáo dục ĐH trong đề án trở thành những cơ sở giáo dục ĐH công lập trọng điểm của vùng Đông Nam bộ và cả nước, có hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực, duy trì vị thế thuộc nhóm trường hàng đầu châu Á trong những ngành, lĩnh vực thế mạnh.
Định hướng đến năm 2050, các cơ sở giáo dục ĐH này, cùng với ĐH Quốc gia TP.HCM, duy trì chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị thuộc nhóm 100 cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu châu Á, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ ở những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực.
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề án tập trung triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, ưu tiên hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất; mở rộng không gian phát triển của các cơ sở giáo dục ĐH; đầu tư các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm chuyên sâu và hạ tầng số phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Đề án cũng chú trọng xây dựng đội ngũ quản lý, giảng viên và nhà khoa học có năng lực hội nhập quốc tế; thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ và các nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực trọng điểm.
Cùng với đó là đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; đẩy mạnh quốc tế hóa giáo dục đại học; phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo tài năng; tăng cường liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật với các cơ sở giáo dục ĐH uy tín trên thế giới.
Đề án cũng nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; tăng cường hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm gắn đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thị trường lao động.
Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án là bước đi quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục ĐH Việt Nam theo hướng chất lượng cao, hội nhập quốc tế và gắn kết chặt chẽ với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Ba hôm nay, kể từ khi nhận được thông báo của trường về việc phải thi đánh giá chuẩn đầu ra Ngoại ngữ và Tin học để xét tốt nghiệp, Thanh Mai thấy ấm ức.
Nữ sinh năm cuối cho biết suốt 4 năm học chưa từng biết đến yêu cầu này. Các năm trước, sinh viên chỉ cần học đủ 4 học phần tiếng Anh và một học phần Tin học ở trường, hoặc có chứng chỉ ngoại ngữ như TOEIC để quy đổi.
Thế nhưng, hôm 19/5, Mai nhận được thông báo bắt buộc phải thi, trừ khi đã có chứng chỉ còn thời hạn. Tìm lại các văn bản của trường, Mai có thấy quyết định năm 2024 về việc tổ chức kỳ thi đánh giá chuẩn đầu ra này nhưng "áp dụng cho các khóa tuyển sinh từ năm 2024 trở về sau". Trong khi, khóa của Mai vào trường năm 2022.
Điều khiến nữ sinh bức xúc là từ lúc thông báo tới lúc thi chỉ khoảng một tuần. Trường chưa chốt lịch cụ thể, chỉ ghi từ ngày 25 đến 31/5 với môn tiếng Anh, còn Tin học trong khoảng 22-31/5.
"Thông báo quá gấp", Mai nói. "Mình lo tốt nghiệp muộn, dù đã nộp khóa luận".
Linh có chứng chỉ TOEIC cũng bức xúc vì chứng chỉ vừa hết hạn đầu tháng 5. Trước đó, Linh thi để được miễn các học phần tiếng Anh, không nghĩ còn cần làm minh chứng miễn thi chuẩn đầu ra.
"Dù tự tin vượt qua nhưng nếu biết trước, mình đã căn thời gian thi phù hợp để không phải thi thêm gì trong giai đoạn sắp tốt nghiệp này", Linh nói.
Sáng nay, trên một số diễn đàn, nhiều sinh viên trường Đại học Công đoàn phản ứng về cách làm gấp gáp của trường, khẳng định chưa nghe về kỳ thi trước đó.
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngoài hoàn thành chương trình đào tạo theo ngành học, sinh viên phải đạt chuẩn đầu ra Tiếng Anh, Tin học để được xét tốt nghiệp. Trước đây, sinh viên chỉ cần học một số tín chỉ, song kể từ năm 2021, việc này phải thể hiện qua chứng chỉ.
Trả lời VnExpress chiều 21/5, ông Phạm Đức Thịnh, Trưởng phòng Quản lý chất lượng, trường Đại học Công đoàn, khẳng định sinh viên bức xúc do "không nhớ" và "hiểu lầm".
Ông cho biết việc phải đạt chuẩn đầu ra tiếng Anh, Tin học được trường công bố trên website và được thông báo trong tuần sinh hoạt chính trị đầu khóa (năm thứ nhất). Trong đó, với tiếng Anh, sinh viên hầu hết ngành (trừ Ngôn ngữ Anh) phải có chứng chỉ TOEIC 500 điểm trở lên hoặc tương đương bậc 3/6 (B1).
Dù vậy, ông thừa nhận đây là năm đầu tiên trường tổ chức kỳ thi này. Những năm trước, sinh viên cần có chứng chỉ hoặc làm "bài test nhỏ" sau khi kết thúc các học phần.
"Việc tổ chức kỳ thi mang tính bài bản hơn. Đây là nhà trường rất tạo điều kiện cho sinh viên, còn không thì các em phải mang chứng chỉ tương đương TOEIC 500 về nộp cho trường", ông Thịnh nói, cho biết dự kiến lịch thi sẽ vào ba ngày cuối tháng 5.
Đại diện trường cũng cho biết sẽ rút kinh nghiệm sự việc với các khóa sau.
Trường Đại học Công đoàn hiện mỗi năm tuyển khoảng 2.400-3.000 sinh viên. Theo kế hoạch, với kỳ thi chuẩn đầu ra tiếng Anh, sinh viên phải thi Nghe và Đọc, riêng ngành Ngôn ngữ Anh thì đủ cả bốn kỹ năng.
Với Tin học, sinh viên thi ba phần Microsoft Word, Excel và PowerPoint. Lệ phí thi tiếng Anh và Tin học lần lượt là 100.000 và 300.000 đồng.
Bắt đầu ngày mới từ sáng sớm, chị Phan Huỳnh Thảo (28 tuổi, ngụ tại TPHCM) tất bật kiểm tra lịch trình trước khi bước vào công việc đầu tiên trong ngày.
Guồng quay công việc dày đặc khiến chị gần như “kín lịch” từ sáng đến tối. Dù vậy, chị vẫn duy trì thói quen ngủ đủ 6 tiếng mỗi ngày, ăn đủ 3 bữa để giữ sức khỏe và sự tỉnh táo.
Hiện chị Thảo đảm nhận nhiều vai trò cùng lúc như sáng lập và điều hành trung tâm tiếng Anh, MC truyền hình, phiên dịch viên cabin và nối tiếp, MC sự kiện, diễn giả, giảng viên thỉnh giảng. Thỉnh thoảng, chị còn tham gia các chương trình giao lưu quốc tế với vai trò đại biểu.
Đoạn clip ghi lại hành trình “một mình sống nhiều cuộc đời” của chị Thảo mới đây thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng. Đảm nhận cùng lúc nhiều vai trò, nữ giảng viên khiến nhiều người tò mò về cách chị cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân.
Theo chị Thảo, việc theo đuổi nhiều công việc không bắt đầu từ một cột mốc cụ thể mà diễn ra tự nhiên theo hành trình phát triển bản thân. Chị khởi đầu từ niềm yêu thích tiếng Anh, sau đó, việc học thêm ngôn ngữ và rèn luyện kỹ năng giao tiếp đã mở ra nhiều cơ hội mới.
Công việc MC và diễn giả giúp chị rèn khả năng giao tiếp cuốn hút, biết cách giữ sự chú ý của khán giả, từ đó khiến những giờ học trở nên sinh động hơn. Ngược lại, nền tảng chuyên môn tiếng Anh vững chắc lại mang đến cho chị cơ hội và sự tự tin để đảm nhận vai trò dẫn chương trình hay phiên dịch bằng tiếng Anh.
“Mỗi vai trò vừa là kết quả, vừa là bệ phóng cho một vai trò khác. Với tôi, đây không phải là chia nhỏ bản thân để làm nhiều việc, mà là đi sâu vào thế mạnh cốt lõi là ngôn ngữ và khả năng kết nối qua lời nói”, chị Thảo chia sẻ.
Được biết, niềm yêu thích với công việc giảng dạy và giao tiếp đã xuất hiện từ khi chị còn nhỏ. Hồi học cấp 1, chị thường kèm học cho các bạn trong xóm và cảm thấy vui mỗi khi giúp ai đó hiểu bài. Lên cấp 2, chị tích cực tham gia các cuộc thi kể chuyện và đảm nhận vai trò dẫn chương trình trong nhiều hoạt động.
“Nhìn lại, những công việc tôi đang làm hôm nay thật ra chỉ là phiên bản trưởng thành hơn của những điều mình yêu thích từ bé”, chị nói.
Học cách nói “không” để cân bằng cuộc sống
Với lịch làm việc dày đặc, chị Phan Huỳnh Thảo vẫn giữ cho mình nhịp sống đều đặn và kỷ luật. Với chị, bí quyết để theo đuổi cùng lúc nhiều công việc không nằm ở việc cố gắng làm thật nhiều, mà ở khả năng xác định điều gì thực sự quan trọng.
Chị Thảo cho biết nguyên tắc đầu tiên của mình là luôn sắp xếp cuộc sống dựa trên những “lịch cứng” không thể thay đổi. Trong đó, lịch làm việc tại trung tâm tiếng Anh luôn được chị ưu tiên hàng đầu vì đây là cam kết trực tiếp với học viên. Kế đến là lịch dẫn chương trình truyền hình với khung giờ cố định.
Chỉ sau khi hoàn tất những “mỏ neo” quan trọng này, chị mới bắt đầu sắp xếp các công việc còn lại xung quanh.
Đối với các lời mời làm MC sự kiện, phiên dịch cabin hay diễn giả, chị luôn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi nhận lời.
“Với tôi, từ chối một công việc mà bản thân không thể làm trọn vẹn cũng là cách tôn trọng công việc đó và tôn trọng người đã mời mình”, chị chia sẻ.
Sau nhiều năm làm việc với cường độ cao, chị dần hiểu rõ giới hạn của bản thân và học được cách quản lý cả thời gian lẫn năng lượng.
Theo chị, một buổi phiên dịch không chỉ gói gọn trong vài giờ xuất hiện tại sự kiện mà còn bao gồm cả thời gian chuẩn bị trước đó và quãng nghỉ để hồi phục sau khi kết thúc. Nhờ hiểu rõ khả năng của mình, chị hiếm khi nhận công việc vượt quá sức và luôn chủ động chừa khoảng đệm trong lịch trình để xử lý các tình huống phát sinh.
Để duy trì hiệu suất làm việc trong thời gian dài, chị Thảo đặt ra cho bản thân những nguyên tắc tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ thực hiện. Cụ thể, phải ngủ đủ tối thiểu 6 tiếng mỗi ngày, ăn đủ ba bữa và học cách nói “không” với những công việc không còn phù hợp với định hướng cá nhân.
Nói về cách tối ưu thu nhập, chị Thảo cho rằng con đường bền vững nhất không phải là nhận thêm thật nhiều việc mà là liên tục nâng cao năng lực chuyên môn. Chị cho biết khi đạt IELTS 8.0 và có vài năm kinh nghiệm giảng dạy, chị đã có những cơ hội nghề nghiệp nhất định cùng mức thu nhập ổn định.
Thay vì nhận thêm nhiều đầu việc để tối đa thu nhập, chị Thảo dành nhiều thời gian hơn cho việc trau dồi năng lực bản thân.
Vì vậy, sau khi tiếp tục nâng cao chuyên môn với IELTS 8.5, chứng chỉ CPE Proficiency (Chứng chỉ tiếng Anh thành thạo bậc cao của Đại học Cambridge), bằng thạc sĩ và nhiều năm kinh nghiệm đứng lớp, cơ hội nghề nghiệp của chị từ đó ngày càng rộng mở hơn.
Không chỉ cải thiện thu nhập, việc nâng cao chuyên môn còn giúp chị có cơ hội đồng hành cùng nhiều người giỏi trong các lĩnh vực khác nhau, từ chuyên gia đầu ngành đến người của công chúng.
“Khi dạy tiếng Anh cho họ, chính bản thân tôi cũng học thêm được rất nhiều về tư duy, công việc và thế giới của họ”, chị nói.
Nhìn lại chặng đường đã qua, nữ giảng viên thừa nhận bản thân từng có giai đoạn rơi vào trạng thái quá tải vì chưa biết từ chối công việc và chưa có kỹ năng ước lượng thời gian hợp lý. Có những tuần, chị gần như chỉ xoay vòng giữa các thời hạn công việc (deadline) và lịch làm việc nối tiếp nhau. Điều giúp chị cân bằng trở lại chính là gia đình và người thân.
“Gia đình nhắc tôi rằng làm nhiều việc là để sống tốt hơn, chứ không phải để đánh mất chính cuộc sống đó”, chị tâm sự.
Sau nhiều năm đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, bài học lớn nhất chị rút ra là làm nhiều việc không phải để chứng minh bản thân giỏi đến đâu, mà để hiểu rõ mình thực sự là ai. Đối với chị, “nhiều chưa chắc đã tốt bằng đúng”.
Gửi lời khuyên đến các bạn trẻ muốn theo đuổi nhiều công việc cùng lúc, chị cho rằng thay vì bắt đầu bằng câu hỏi “làm thêm gì để kiếm thêm tiền”, mỗi người nên tự hỏi bản thân giỏi điều gì và muốn phát triển sâu ở đâu.
“Hãy chọn một thế mạnh làm gốc rồi để nó mở ra những cánh cửa liên quan. Khi các công việc cùng nuôi dưỡng một thế mạnh, bạn sẽ không bị xé lẻ mà ngày càng vững vàng hơn. Thu nhập và cơ hội chỉ là kết quả tự nhiên của quá trình bản thân ngày một tiến bộ hơn”, chị chia sẻ.