Giữa cái nắng gay gắt đầu hè trên cao nguyên thôn Ma Lăng, xã Tây Sơn, tỉnh Đắk Lắk, tiếng máy móc, phương tiện thi công rộn ràng dường như xoá tan không khí vắng lặng vốn có của buôn làng.
Bà So H’Hai là người dân tộc Chăm, có bố tham gia hoạt động cách mạng. Căn nhà cấp bốn cũ kỹ của bà So H’Hai dựng tạm bợ bằng gỗ, mái lợp tôn từ nhiều năm, nay đã xuống cấp nghiêm trọng.
Bản thân bà So H’Hai sinh ra và lớn lên lại không may mắn khi phải gánh chịu di chứng tàn khốc của chiến tranh – nhiễm chất độc hóa học do di truyền. Sức khỏe yếu, nhiều năm qua, việc có được một ngôi nhà kiên cố, che mưa che nắng dường như là điều quá đỗi xa vời đối với gia đình bà.
Từ chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc hoá học, căn nhà mới của bà đã được khởi công trong niềm vui và sự hi vọng vào cuộc sống ổn định hơn.
“Nếu không có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đặc biệt là các chú bộ đội Trung đoàn 910, Trung đoàn 940, thì cả đời này gia đình tôi không bao giờ dám mơ có được một ngôi nhà kiên cố như thế này. Được hỗ trợ, gia đình tôi rất vui, mừng lắm”, bà nói, đôi mắt ánh lên niềm hi vọng vào ngày ngôi nhà mới hoàn thành.
Từ nguồn hỗ trợ của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, căn nhà bà So H’Hai được xây dựng trên diện tích 40 m2, tổng kinh phí 100 triệu đồng. Trong đó, Trung đoàn 910 và Trung đoàn 940 hỗ trợ ngày công. Dự kiến công trình hoàn thành trước ngày 20/7/2026.
Dưới cái nắng 40 độ C mùa hè, bà So chưa bao giờ nghĩ có ngày gia đình mình lại nhận được nhiều sự quan tâm đến vậy. “Nhà nước cho tiền, các chú góp công, góp sức giúp gia đình tháo dỡ nhà cũ, vận chuyển vật liệu, đào móng và xây dựng. Trời nắng nóng nhưng các anh, các chú vẫn tới giúp từ sáng sớm”, bà So nghẹn ngào.
Ngay khi nhận được nhiệm vụ, ngày 9/6, hơn 40 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 910 và Trung đoàn 940, Trường Sĩ quan Không quân lập tức có mặt tại thôn Ma Lăng, xã Tây Sơn, tỉnh Đắk Lắk. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt song tinh thần, trách nhiệm, kỷ luật người lính luôn được quán triệt, tập trung với quyết tâm cao nhất.
Chỉ mới 2 ngày sau khi khởi công, phần móng nhà bà So đã được đào xong. Cán bộ, chiến sĩ tất bật vận chuyển vật liệu, xây dựng móng nhà.
Đại tá Đào Việt Hưng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Không quân đã giao nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia xây dựng công trình. Phó Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Không quân yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống vẻ vang của Quân chủng Phòng không – Không quân anh hùng; tổ chức thi công khoa học, chặt chẽ, bảo đảm chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật công trình và an toàn tuyệt đối trong suốt quá trình thực hiện.
Đại tá Đào Việt Hưng cũng nhấn mạnh, việc tham gia hỗ trợ xây dựng nhà ở cho gia đình chính sách không chỉ là nhiệm vụ chính trị được giao mà còn là tình cảm, trách nhiệm và đạo lý của người quân nhân cách mạng đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
“Mỗi phần việc, mỗi ngày công lao động đều góp phần lan tỏa truyền thống ‘Uống nước nhớ nguồn’, ‘Đền ơn đáp nghĩa’, tô thắm thêm hình ảnh người chiến sĩ Phòng không – Không quân trong lòng Nhân dân”, đại tá Đào Việt Hưng nhấn mạnh.
Mỗi chiến sĩ một công việc, quyết tấm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Trung uý Phạm Anh Tú bày tỏ niềm tự hào khi được trung đoàn tin tưởng, giao nhiệm vụ tham gia xây nhà cho bà con. “Không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ, đó còn là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những người đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc. Tôi cùng đồng chí, đồng đội sẽ luôn đoàn kết, chú ý an toàn, đảm bảo tiến độ được hoàn thành sớm nhất”, trung uý Tú nói.
Trong số 40 cán bộ, chiến sĩ tham gia “chiến dịch nghĩa tình”, xây nhà cho con đẻ của người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc hoá học có những chiến sĩ đã từng tham gia Chiến dịch Quang Trung từ cuối năm 2025 sau trận bão, lũ lịch sử ở miền Trung.
Mẫu nhà được xây mới ngoài đảm bảo diện tích và các điều kiện tối thiểu còn phải đáp ứng tiêu chí “3 cứng”: nền móng cứng, khung – tường cứng và mái cứng.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng những di chứng mà chất độc hóa học để lại vẫn hiện hữu trong cuộc sống của nhiều gia đình. Khi những mái nhà mới sáng đèn trước ngày 27/7, đó không chỉ là thời điểm hoàn thành một chương trình an sinh xã hội mà còn là minh chứng cho sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cho nghĩa tình quân dân và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” luôn được gìn giữ, tiếp nối đến hôm nay.
Ngày 18/5, liên quan đến những tư liệu về loài gà lôi lam mào trắng, trao đổi với Người Đưa Tin, ông Lê Văn Hướng, Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền (Tp.Huế) đã cung cấp một số hình ảnh tư liệu đã chụp được.
Theo ông Hướng, rất ít tư liệu ghi nhận được loài này ngoài tự nhiên và chỉ cung cấp một hình ảnh rất hiếm chụp khi người dân bẫy được. Đó là hình ảnh anh Văn Công Vĩnh đang cầm trong tay cặp gà lôi lam mào trắng dính bẫy vào tháng 8/1996 tại Phong Điền.
Cụ thể, ngày 26/8/1996, một cá thể mái bị mắc bẫy tại khe Lấu, xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền (cũ). Hai ngày sau, một cá thể trống cũng bị dính bẫy. Tuy nhiên, cả hai đã chết sau một thời gian ngắn nuôi nhốt.
Thông tin từ Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Gà lôi lam mào trắng là một trong những loài chim đặc hữu quý hiếm bậc nhất của Việt Nam, thuộc họ Trĩ. Loài chim này từ lâu được xem là biểu tượng đa dạng sinh học của dãy Trường Sơn và các cánh rừng nguyên sinh miền Trung.
Điểm nhận dạng nổi bật của con trống trưởng thành là bộ lông xanh đen ánh lam cùng chiếc mào trắng dựng trên đỉnh đầu. Hình thái của chúng khá giống gà lôi lam mào đen, chỉ khác ở phần mào trắng đặc trưng. Trong khi đó, gà lôi lam đuôi trắng có thêm các lông đuôi giữa màu trắng.
Con mái của các loài gà lôi lam có ngoại hình khá tương đồng với lớp lông hung nâu, mặt có vùng da trần và chân đỏ sẫm, khiến việc phân biệt ngoài tự nhiên rất khó khăn.
Theo các tài liệu nghiên cứu, năm 1924, các nhà tự nhiên học người Pháp lần đầu ghi nhận sự xuất hiện của gà lôi lam mào trắng tại vùng rừng phía tây huyện Phong Điền, nay thuộc Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền.
Từ đó, khu vực này được xem là một trong những sinh cảnh quan trọng nhất của loài tại Việt Nam.
Đến năm 1986, lực lượng kiểm lâm Thừa Thiên - Huế tiếp tục phát hiện một cặp gà lôi lam mào trắng sinh sống trong khu vực rừng Phong Điền. Sau đó, 2 cá thể được chuyển giao cho Vườn thú Hà Nội phục vụ nghiên cứu và bảo tồn.
Tuy nhiên, trong các đợt khảo sát năm 1989 và 1993, 2 nhà điểu học Jonathan C. Eames và Benjamin Rowson cùng cộng sự không ghi nhận thêm dấu vết nào của loài chim quý này tại khu vực.
Năm 1996, thông tin người dân xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền (cũ) như đã nói trên phát hiện gà lôi lam mào trắng tiếp tục gây chú ý trong giới nghiên cứu.
Bị gọi là "người sói", "mặt khỉ" suốt tuổi thơ, nhưng hành trình phía sau ngoại hình kỳ lạ ấy của Supatra Sasuphan lại khiến nhiều người không khỏi nghẹn lòng. Giữa vô số câu chuyện về những "dị nhân" có ngoại hình hiếm gặp trên thế giới, cái tên Supatra Sasuphan từng khiến dư luận toàn cầu chú ý đặc biệt bởi diện mạo không giống bất kỳ đứa trẻ nào.
Ngay từ khi mới chào đời tại Bangkok, Thái Lan, Supatra đã khiến các bác sĩ và người thân sững sờ khi toàn bộ khuôn mặt, tai, cánh tay, lưng và chân của cô bé phủ kín bởi lớp lông đen dày bất thường. Càng lớn, lớp lông này càng mọc rậm hơn, khiến gương mặt của em gần như bị che lấp hoàn toàn. Nhìn từ xa, nhiều người ví Supatra như một nhân vật bước ra từ phim giả tưởng, thậm chí gọi em bằng những biệt danh đầy ám ảnh như "cô bé sói", "người khỉ" hay "đứa trẻ người sói".
Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài kỳ lạ, Supatra lại sở hữu nụ cười rất tươi và ánh mắt trong veo đúng tuổi thiếu nhi. Ít ai biết, cô bé mắc phải hội chứng cực hiếm mang tên Ambras Syndrome, một dạng của chứng rậm lông bẩm sinh Hypertrichosis, thường được dân gian gọi là "hội chứng người sói".
Theo ghi nhận y khoa, từ thời Trung cổ đến nay chỉ có vài chục trường hợp được xác nhận trên toàn thế giới. Chính căn bệnh này khiến lông mọc dày bất thường khắp cơ thể và gần như không thể điều trị dứt điểm.
Cha của Supatra từng kể, khi đưa con gái từ bệnh viện về nhà, hàng xóm đã buông những lời cay nghiệt, cho rằng gia đình ông "phải phạm tội lỗi gì đó" mới sinh ra một đứa trẻ như vậy. Trong suốt thời thơ ấu, cô bé thường xuyên bị bạn bè trêu chọc, có lúc bật khóc chỉ vì những tiếng gọi chế giễu bám theo mình mỗi ngày. Không chỉ chịu tổn thương tinh thần, Supatra còn gặp nhiều vấn đề sức khỏe từ lúc sơ sinh. Em từng phải nằm lồng kính nhiều tháng vì khó thở do lỗ mũi quá hẹp, trải qua nhiều ca phẫu thuật để có thể hô hấp bình thường.
Gia đình cũng từng đưa em đi điều trị laser với hy vọng làm thưa bớt lớp lông, nhưng mọi nỗ lực đều thất bại khi lông tiếp tục mọc trở lại dày hơn trước. Bước ngoặt đến vào năm 2010 khi Supatra được Tổ chức Kỷ lục Guinness công nhận là "cô bé nhiều lông nhất thế giới". Danh hiệu tưởng như kỳ quặc ấy lại vô tình biến em thành gương mặt nổi tiếng toàn cầu. Từ một đứa trẻ từng bị xa lánh, Supatra trở thành tâm điểm truyền thông, được nhiều người biết đến và yêu mến.
Chính cô bé cũng hồn nhiên chia sẻ: "Mái lông khiến em trở nên đặc biệt". Câu nói ngây thơ nhưng đầy lạc quan này từng khiến hàng triệu người xúc động. Nhiều cư dân mạng khi xem lại hình ảnh Supatra đã để lại bình luận thương cảm nhưng ngưỡng mộ nghị lực sống tích cực của cô bé. "Ngoại hình khiến em khác biệt, nhưng nụ cười thì đẹp hơn rất nhiều người bình thường."
Những năm sau đó, Supatra dần trưởng thành và học cách kiểm soát ngoại hình bằng việc cạo bớt lớp lông trên mặt. Hình ảnh mới của cô từng khiến truyền thông quốc tế bất ngờ vì gần như "lột xác" hoàn toàn. Dù vậy, hành trình sống chung với căn bệnh hiếm vẫn chưa bao giờ dễ dàng.
Cho đến hôm nay, Supatra Sasuphan vẫn được nhắc đến như một trong những "dị nhân nhí" đặc biệt nhất từng gây chấn động thế giới, không chỉ bởi gương mặt phủ kín lông như người sói, mà còn bởi nụ cười tươi tắn và tinh thần mạnh mẽ vượt lên nghịch cảnh khiến ai nhìn cũng khó quên.
Năm 2004, tại một vùng quê nghèo gần Thủ đô Cairo của Ai Cập, bé gái Manar Maged chào đời trong sự kinh hoàng của các bác sĩ sản khoa. Trên đầu em xuất hiện thêm một khuôn mặt thứ hai với đầy đủ mắt, mũi và miệng.
Điều đáng sợ hơn là "gương mặt thứ hai" ấy không hoàn toàn bất động. Theo các bác sĩ, khuôn mặt ký sinh có thể chớp mắt, mỉm cười và thậm chí mấp máy môi như đang cố giao tiếp.
Hình ảnh kỳ lạ này nhanh chóng gây chấn động truyền thông quốc tế. Nhiều tờ báo thời điểm đó gọi Manar là "cô bé hai mặt" hay "đứa trẻ mang gương mặt ký sinh", bởi nhìn nghiêng, người đối diện có thể thấy rõ một khuôn mặt nhỏ mọc ra từ đỉnh đầu em.
Theo hồ sơ y khoa, Manar mắc dị tật cực hiếm mang tên craniopagus parasiticus - một dạng song sinh ký sinh xảy ra khi phôi thai tách đôi không hoàn chỉnh. Trong trường hợp này, phần đầu của người em song sinh phát triển dở dang và dính liền với hộp sọ của cơ thể còn lại. Tỷ lệ xuất hiện của dị tật này chỉ khoảng 4-6 ca trên 10 triệu trẻ sinh ra.
Các bác sĩ cho biết, khuôn mặt ký sinh trên đầu Manar được đặt tên là Islaam. Dù có biểu hiện như chớp mắt hay cười, "gương mặt thứ hai" hoàn toàn không thể sống độc lập vì không có cơ thể hoàn chỉnh. Mọi hoạt động đều phụ thuộc vào hệ tuần hoàn và não bộ của Manar.
Việc phải "nuôi" thêm một phần cơ thể khác khiến sức khỏe Manar nhanh chóng suy kiệt. Khi mới vài tháng tuổi, em liên tục rơi vào tình trạng suy tim vì cơ thể phải bơm máu nuôi cả hai phần đầu. Các bác sĩ nhận định nếu không phẫu thuật tách bỏ phần ký sinh, cơ hội sống sót của em gần như bằng không.
Tháng 2/2005, khi Manar được 10 tháng tuổi, một ê-kíp gồm 13 bác sĩ tại bệnh viện ở thành phố Benha thực hiện ca phẫu thuật kéo dài suốt 13 giờ để loại bỏ "gương mặt ký sinh". Đây được xem là một trong những ca mổ phức tạp nhất lịch sử y học Trung Đông thời điểm đó.
Thử thách lớn nhất với các bác sĩ là hệ thống mạch máu giữa hai phần đầu có liên kết chặt chẽ. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến Manar tử vong ngay trên bàn mổ.
Sau nhiều giờ căng thẳng, ca phẫu thuật cuối cùng thành công. "Gương mặt ký sinh" được tách bỏ hoàn toàn khỏi đầu Manar trong sự vỡ òa của đội ngũ y tế. Các bác sĩ cho biết em không bị liệt sau ca mổ và có thể cử động tay chân bình thường.
Câu chuyện của Manar sau đó xuất hiện trên hàng loạt chương trình truyền hình quốc tế, trong đó có cả show nổi tiếng của Oprah Winfrey. Nhiều người gọi em là "phép màu y học" khi sống sót sau dị tật gần như không tưởng.
Tuy nhiên, số phận nghiệt ngã tiếp tục đeo bám cô bé. Sau ca phẫu thuật lịch sử, Manar liên tục phải nhập viện vì nhiễm trùng và biến chứng não. Đến tháng 3/2006, chỉ ít ngày trước sinh nhật 2 tuổi, em qua đời vì nhiễm trùng não nặng.
Dù cuộc đời ngắn ngủi, câu chuyện về Manar Maged vẫn khiến nhiều người ám ảnh suốt nhiều năm qua. Với giới y học, đây là một trong những trường hợp hiếm nhất từng được ghi nhận.