Tại hội nghị Sản phụ khoa Việt – Pháp – châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 26, diễn ra ở TPHCM ngày 14/5, BSCKII Lê Ngọc Diệp, Trưởng khoa Nội soi của Bệnh viện Từ Dũ đã báo cáo về một trường hợp bệnh nhân sinh con thành công sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh ung thư nội mạc tử cung (EC).
Bệnh nhân là một phụ nữ 33 tuổi. Khai thác bệnh sử, vào năm 2021, bệnh nhân đến Bệnh viện Từ Dũ khám để đánh giá tình trạng vô sinh thì được phát hiện polyp nội mạc tử cung. Sau khi trải qua phẫu thuật cắt polyp, kết quả xét nghiệm mô bệnh học cho thấy bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung.
Vì chưa từng sinh con, bệnh nhân sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ đã lựa chọn phương pháp điều trị bảo tồn khả năng sinh sản, bằng cách đặt vòng tránh thai giải phóng levonorgestrel và được theo dõi chặt chẽ thông qua sinh thiết nội mạc tử cung thường xuyên.
Sau khi có bằng chứng đáp ứng điều trị, bệnh nhân đã trải qua liệu pháp hỗ trợ sinh sản thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) với nhiều lần chuyển phôi. Sau một lần mang thai không thành công do dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, bệnh nhân đã tái phát tình trạng tăng sản nội mạc tử cung, nên tiếp tục điều trị bảo tồn bằng phương pháp trên.
Thời gian sau đó, bệnh nhân trải qua các lần chuyển phôi bổ sung sau khi xét nghiệm di truyền trước khi làm tổ và đạt được thai kỳ đủ tháng khỏe mạnh.
Cuối cùng, bằng nhiều cố gắng của bệnh nhân và các y bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ, sản phụ sinh một em bé đủ tháng sau 2 lần thai nghén bất thường, ở thời điểm đã qua 4 năm điều trị ung thư. Kiểm tra tại thời điểm sinh mổ cho thấy, nội mạc tử cung bệnh nhân tăng sản khu trú mà không có tế bào ác tính.
Bệnh nhân tiếp tục điều trị bảo tồn tử cung, và kết quả kiểm tra mô học sau đặt vòng 6 tháng cho thấy lành tính. Hiện tại, người mẹ kỳ vọng tiếp tục được chuyển phôi để có thêm con.
Theo bác sĩ Diệp, ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không phổ biến, nhưng lại là thách thức đáng kể khi muốn bảo tồn khả năng sinh sản.
Trường hợp nêu trên cung cấp thêm bằng chứng về việc điều trị bằng liệu pháp progestin – đặc biệt là vòng tránh thai giải phóng levonorgestrel (LNG-IUD) – có thể là lựa chọn an toàn và hiệu quả cho những phụ nữ trẻ mắc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu muốn bảo tồn khả năng sinh sản.
“Việc theo dõi chặt chẽ kết hợp với các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phù hợp có thể giúp bệnh nhân đạt được kết quả thai kỳ thuận lợi, trong khi vẫn duy trì sự an toàn về mặt ung thư”, bác sĩ Diệp nhận định.
Hội nghị Sản Phụ khoa Việt – Pháp – châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 26 (OGVFAP 2026) diễn ra hai ngày 14-15/5. Đây là sự kiện khoa học quốc tế quy mô lớn và uy tín hàng đầu trong lĩnh vực sản phụ khoa tại Việt Nam và khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Hội nghị năm nay quy tụ nhiều chuyên gia, giáo sư, bác sĩ đầu ngành trong nước và quốc tế đến từ Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Úc, Hàn Quốc, Argentina, Singapore… Chương trình khoa học được xây dựng quy mô với hơn 80 bài báo cáo chuyên đề, workshop thực hành và các phiên thảo luận chuyên sâu trải dài trên nhiều lĩnh vực mũi nhọn của sản phụ khoa.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của OGVFAP 2026 là chủ đề “Can thiệp bào thai và y học bào thai hiện đại”. Các báo cáo nổi bật về can thiệp, chẩn đoán và xử trí những trường hợp song thai có biến chứng… đã cho thấy Việt Nam đang từng bước tiệm cận trình độ của các trung tâm can thiệp bào thai hàng đầu thế giới.
Bên cạnh đó, hội nghị cũng tập trung mạnh vào các vấn đề sản khoa nguy cơ cao. Các nội dung như nhau cài răng lược, sinh non, tiền sản giật, xuất huyết sau sinh, theo dõi tim thai và hồi sức sơ sinh sẽ được trình bày dưới góc nhìn cập nhật quốc tế kết hợp kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam.
BSCKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết, hội nghị được kỳ vọng tiếp tục là diễn đàn khoa học quan trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế, chuyển giao kỹ thuật cao, nâng cao năng lực chuyên môn và góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ sơ sinh tại Việt Nam cũng như trong khu vực.
Ngày 25-4, ông Tăng Chí Thượng - Giám đốc Sở Y tế TP.HCM - cho hay từ ngày 28-4, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM sẽ đưa vào hoạt động thêm khu nhà mới tại số 114 - 116 - 118 Trần Quốc Thảo, phường Xuân Hòa, TP.HCM
Đây là cơ sở của Trung tâm Y tế quận 3 (cũ) trước đây, nằm đối diện khu điều trị hiện hữu của bệnh viện. Sau khi tiếp nhận, đơn vị đang khẩn trương cải tạo hạ tầng, tổ chức lại công năng để nhanh chóng đưa vào phục vụ người bệnh.
Ông Thượng cho hay trong quá trình tổ chức lại mạng lưới y tế cơ sở sau khi TP chuyển đổi mô hình hoạt động của các trung tâm y tế thành hệ thống trạm y tế phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều cơ sở hạ tầng hiện hữu đã được ngành y tế rà soát, sắp xếp lại theo hướng sử dụng hiệu quả, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp người dân.
Từ chủ trương này, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM là một trong những đơn vị được ưu tiên bố trí thêm mặt bằng để mở rộng hoạt động chuyên môn, tạo điều kiện phát triển các chuyên khoa mới và triển khai thêm nhiều kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực tai mũi họng.
Việc mở rộng không gian hoạt động không chỉ giúp giảm tải cho cơ sở hiện hữu vốn kéo dài nhiều năm qua, rút ngắn thời gian chờ khám, mà còn mở ra dư địa phát triển dài hạn cho bệnh viện chuyên khoa đầu ngành khu vực phía Nam.
Theo kế hoạch, trong giai đoạn đầu, bệnh viện sẽ chuyển khoa cấp cứu và một số phòng khám sang cơ sở mới, đồng thời triển khai thêm các dịch vụ như đo thính lực, nhĩ lượng, ABR, CT scan, X-quang, xét nghiệm, nội soi tai mũi họng và nhiều kỹ thuật cận lâm sàng khác.
Từ nước ngọt không đường, trà sữa "zero sugar", bánh kẹo dành cho người ăn kiêng đến các loại đường ăn kiêng như stevia, erythritol hay xylitol…, các chất tạo ngọt thay thế đường đang trở nên rất phổ biến.
Tuy nhiên theo bác sĩ Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa nội tiết - đái tháo đường Bệnh viện Bạch Mai, các nghiên cứu mới cho thấy câu chuyện không đơn giản như chúng ta từng nghĩ.
Theo bác sĩ Bảy, đường là một trong những yếu tố góp phần làm gia tăng béo phì, gan nhiễm mỡ và đái tháo đường type 2. Vì vậy các chất tạo ngọt nhân tạo hoặc chất thay thế đường được quảng bá như một giải pháp "ngọt nhưng ít calo". Một số chất thường gặp gồm aspartame, sucralose, saccharin, stevia, erythritol, xylitol.
Các chất này giúp tạo vị ngọt nhưng cung cấp rất ít hoặc gần như không có năng lượng. Trong ngắn hạn, việc thay thế đường bằng các chất tạo ngọt có thể giúp giảm lượng calo đưa vào cơ thể, hỗ trợ kiểm soát cân nặng và đường huyết. Đây là lý do chúng thường được khuyến cáo ở người thừa cân hoặc đái tháo đường.
Tuy nhiên "không đường" chưa chắc đã vô hại. Bác sĩ Bảy cho hay nhiều người có xu hướng nghĩ rằng: "Đã là nước ngọt không đường thì có thể uống thoải mái". Đây có thể là một hiểu lầm nguy hiểm, vì các nghiên cứu gần đây cho thấy một số chất tạo ngọt có thể ảnh hưởng đến nhiều vấn đề trong cơ thể.
Bác sĩ Bảy nêu rõ chất tạo ngọt có thể làm ảnh hưởng đến chuyển hóa của cơ thể. Một số nghiên cứu cho thấy dù không chứa nhiều calo, vị ngọt nhân tạo vẫn có thể làm rối loạn cơ chế kiểm soát cảm giác đói - no của não bộ.
Khi cơ thể cảm nhận vị ngọt nhưng lại không nhận được năng lượng tương ứng, não có thể thúc đẩy cảm giác thèm ăn hoặc ăn bù sau đó. Điều này khiến tổng lượng calo tiêu thụ trong ngày không giảm như mong muốn. Nói cách khác: uống đồ "zero sugar" không đồng nghĩa chắc chắn sẽ giảm cân.
Bên cạnh đó nó còn làm ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột. "Ruột của chúng ta chứa hàng nghìn tỉ vi khuẩn có lợi, gọi là hệ vi sinh vật đường ruột. Đây là "cơ quan vô hình" có vai trò quan trọng trong chuyển hóa, miễn dịch và kiểm soát đường huyết.
Một số nghiên cứu cho thấy các chất tạo ngọt như saccharin, sucralose hoặc aspartame có thể làm thay đổi sự cân bằng của hệ vi sinh vật này. Khi hệ vi sinh vật bị rối loạn, nguy cơ tăng đề kháng insulin, tăng đường huyết và viêm mạn tính cũng có thể tăng theo", bác sĩ Bảy nêu rõ.
Bên cạnh đó chất tạo ngọt còn có thể gây ảnh hưởng đến tim mạch và mạch máu. Một số chất thay thế đường từng được xem là khá an toàn, như erythritol, gần đây đang được chú ý vì có thể liên quan đến tăng nguy cơ huyết khối và các biến cố tim mạch ở một số nghiên cứu.
Dù cần thêm nhiều bằng chứng để khẳng định chắc chắn, điều này nhắc chúng ta rằng các chất tạo ngọt không hoàn toàn "trung tính" với cơ thể.
"Câu trả lời là có thể dùng, nhưng không nên lạm dụng. Các chuyên gia hiện nay cho rằng chất tạo ngọt có thể hữu ích như một biện pháp chuyển tiếp giúp giảm lượng đường tiêu thụ, đặc biệt ở người đang quen ăn quá ngọt hoặc uống nhiều nước ngọt có đường.
Tuy nhiên về lâu dài, điều quan trọng nhất vẫn là thay đổi thói quen ăn uống, vì không có loại chất tạo ngọt nào có thể thay thế hoàn toàn một chế độ ăn lành mạnh", bác sĩ Bảy khuyến cáo.
Bác sĩ khuyến cáo thay vì dùng chất tạo ngọt, nên tập giảm dần khẩu vị ngọt. Thực tế, vị giác có thể thích nghi. Sau vài tuần giảm đồ ngọt, nhiều người bắt đầu thấy trái cây tự nhiên "ngọt hơn" và không còn quá phụ thuộc vào trà sữa hay nước ngọt. Đây là chiến lược bền vững nhất cho sức khỏe.
Ngoài ra nên ăn trái cây nguyên quả thay vì uống nước ép. Trái cây nguyên quả chứa chất xơ, vitamin, polyphenol và các vi chất có lợi. Những thành phần này giúp làm chậm hấp thu đường và tốt hơn cho chuyển hóa.
Ngược lại, nước ép trái cây - ngay cả là "100% tự nhiên" - vẫn có thể chứa lượng đường rất cao và làm tăng đường huyết nhanh vì đã bị loại bỏ các chất xơ.
Hạn chế thực phẩm siêu chế biến. Nhiều sản phẩm "ăn kiêng", "diet", "zero sugar" vẫn là thực phẩm chế biến sẵn, chứa nhiều phụ gia và có thể khiến chúng ta duy trì thói quen thích ăn ngọt. Đừng để chữ "không đường" làm chúng ta chủ quan.
"Nếu vẫn phải dùng chất tạo ngọt thì trong số các chất tạo ngọt hiện nay, stevia có vẻ là lựa chọn tương đối thuận lợi hơn về mặt chuyển hóa theo các dữ liệu hiện có.
Tuy nhiên ngay cả với stevia, các nghiên cứu dài hạn vẫn còn hạn chế. Vì vậy nguyên tắc quan trọng nhất vẫn là dùng ở mức vừa phải", bác sĩ Bảy khuyến cáo.
Theo Hiệp hội Đột quỵ Mỹ, đột quỵ không chỉ là "kẻ sát nhân" thầm lặng mà còn là nguyên nhân chính gây tàn tật nặng nề. Thực tế này đáng sợ ở chỗ nhiều yếu tố nguy cơ như cholesterol cao hay huyết áp cao thường diễn tiến âm thầm cho đến khi biến cố xảy ra.
Tuy nhiên, "án tử" này hoàn toàn có thể kiểm soát. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ ước tính 80% trường hợp đột quỵ có thể phòng ngừa thông qua thay đổi lối sống.
Dưới đây là những thói quen mà các bác sĩ chuyên khoa đột quỵ luôn tránh xa và khuyên bạn cũng nên làm như vậy.
Lối sống ít vận động
Theo tiến sĩ Arthur Wang, Giám đốc phẫu thuật thần kinh nội mạch tại Trường Y Đại học Tulane, lối sống trì trệ là yếu tố nguy cơ hàng đầu có thể thay đổi được. Ít vận động được hiểu là dành quá nhiều thời gian ngồi hoặc nằm mà không tập thể dục.
"Hoạt động thể chất thường xuyên giúp mạch máu thông thoáng, ngăn chặn sự tích tụ mảng bám trong động mạch", bác sĩ Wang cho biết. Ông khuyến nghị mỗi người nên dành khoảng 30 phút tập thể dục cường độ vừa phải, ít nhất 5 lần mỗi tuần, bất kể là đi bộ, chạy bộ, đạp xe hay làm vườn.
Thờ ơ với huyết áp cao
Bác sĩ Anthony Kim, chuyên gia thần kinh mạch máu kiêm Giám đốc y tế Trung tâm Đột quỵ Đại học California, San Francisco (UCSF) nhấn mạnh: "Nếu phải chọn một yếu tố có tác động lớn nhất, đó chính là huyết áp, huyết áp và huyết áp". Cao huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn nhất có thể điều chỉnh.
"Nếu có một cây gậy phép xóa sổ hoàn toàn chứng cao huyết áp, số ca đột quỵ sẽ giảm tới 60%", ông Kim khẳng định. Vì cao huyết áp không gây triệu chứng rõ rệt, nó được gọi là "kẻ giết người thầm lặng". Cách duy nhất là kiểm tra, theo dõi và điều trị định kỳ.
Bỏ qua việc khám sức khỏe định kỳ
Nhiều người chỉ đi khám khi có triệu chứng, nhưng bác sĩ Wang cảnh báo rằng mỡ máu cao hay huyết áp cao thường "vô hình". Việc thăm khám định kỳ giúp bác sĩ tầm soát lượng đường trong máu, cân nặng và các yếu tố ngoài tầm kiểm soát như giới tính (phụ nữ có nguy cơ cao hơn), chủng tộc và tiền sử gia đình.
"Những người từng bị đột quỵ hoặc có cha mẹ từng mắc bệnh có nguy cơ tái phát hoặc đổ bệnh cao hơn rất nhiều", bác sĩ Wang lưu ý.
Hút thuốc lá
Cả hai chuyên gia đều xếp thuốc lá vào danh sách "tối kỵ". Hút thuốc khiến các mạch máu bị hẹp lại theo thời gian, dẫn đến tắc nghẽn dòng máu lên não - và đó chính là bản chất của một cơn đột quỵ.
Lạm dụng đồ uống có cồn
Rượu bia liên quan trực tiếp đến ung thư, bệnh gan và đột quỵ. CDC định nghĩa việc uống quá mức là trên 4 ly một lần đối với nữ và 5 ly đối với nam. Theo khuyến nghị chung, phụ nữ không nên uống quá một ly và nam giới không quá hai ly mỗi ngày để bảo vệ sức khỏe tim mạch và não bộ.
Chế độ ăn uống thiếu khoa học
Một thực đơn nhiều chất béo bão hòa, đường và muối là "kẻ thù" của mạch máu. Bác sĩ Kim chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa lượng muối tiêu thụ và huyết áp cao. Thay vào đó, ông ủng hộ triết lý của nhà văn Michael Pollan: "Ăn đồ tươi, chủ yếu là thực vật, và đừng ăn quá nhiều". Hãy ưu tiên trái cây, rau quả và tiết chế lượng thịt trong khẩu phần.
Trì hoãn việc cấp cứu
Đột quỵ thường không gây đau đớn, khiến nhiều người chủ quan. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị hiện đại chỉ đạt hiệu quả tối ưu nếu được thực hiện càng sớm càng tốt.
Bác sĩ Kim khuyến cáo mọi người ghi nhớ quy tắc FAST:
F (Face): Méo miệng, lệch mặt.
A (Arm): Yếu hoặc liệt tay chân.
S (Speech): Khó nói, nói ngọng hoặc không hiểu lời nói.
T (Time): Nếu có bất kỳ dấu hiệu nào trên, hãy gọi cấp cứu ngay lập tức.
Thời gian chính là "vàng". Mọi sự chậm trễ trong việc tiếp cận y tế đều có thể dẫn đến những tổn thương não vĩnh viễn không thể phục hồi.