Từ những quan sát của một người mất thị lực bẩm sinh, tôi hiểu rằng sự cống hiến ấy không phải là phép màu sẵn có. Đó là cuộc đối thoại công bằng giữa nỗ lực từ cá nhân và sự thấu cảm thực tâm của xã hội.
Sinh non với ngoại hình chỉ lớn bằng một “chú cá lóc”, ký ức tuổi thơ của tôi được dệt nên bằng xúc giác và trí nhớ thay vì màu sắc. Tôi bắt đầu hành trình cuộc đời của mình bằng cách tập ghi nhớ vị trí từng món đồ vật nhỏ trong nhà do gia đình hướng dẫn, rồi dần mở rộng ra những địa hình phức tạp hơn.
Đó là những ngày lẩn mẩn đếm từng bước chân trên con đường quen thuộc từ nhà đến trường, cảm nhận sự thay đổi của mặt đường dưới đế giày để biết mình đang ở đâu.
Tôi học cách nhận diện bạn bè qua nhịp điệu của tiếng bước chân, hiểu về sự bao la của không gian qua tiếng gió rít, hay sự dội lại của âm thanh trong một căn phòng trống. Và trên hết, tôi cảm nhận tình yêu hay sự chân thành qua tông giọng, qua những rung cảm nhỏ nhất trong hơi thở của người đối diện.
Nhiều người thường ngạc nhiên khi biết tôi đã học hòa nhập với các bạn sáng mắt trừ năm 7 tuổi, hiện giờ là sinh viên khiếm thị hiếm hoi theo học chuyên ngành quan hệ quốc tế – Trường đại học Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM.
Họ thắc mắc: Vì sao tôi lại chọn một ngành nghề vốn đòi hỏi sự quan sát nhạy bén, những nghi thức ngoại giao khắt khe và khả năng giao tiếp bằng ánh mắt?
Câu trả lời nằm ở niềm tin của tôi về sự kết nối.
Tôi tin rằng trong bất kỳ thời đại nào, sự gắn kết giữa người với người vẫn là điều quan trọng nhất.
Minh chứng rõ nhất trong đời tôi là dấu mốc tuổi 20, khi tôi trở thành đồng tác giả trẻ nhất trong cuốn sách “Không có đá quá mềm” cùng giáo sư Phan Văn Trường.
Chính sự kết nối về tư duy và niềm tin mà thầy dành cho một cô học trò khiếm thị đã biến những rào cản tưởng chừng như đá cứng trở nên mềm mại.
Hay trong chuyến tham gia Hội nghị Thanh niên khiếm thị khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại Manila philippines, do Quỹ The Nippon Foundation tổ chức vào năm 2023, sự kết nối và đồng cảm từ những người bạn quốc tế trong hội nghị giúp tôi mở mang tư duy, bước ra khỏi “ốc đảo” của chính mình.
Đầu năm nay, tại tọa đàm “Ánh sáng từ trái tim và khát vọng” do Trường trung học Thực hành (Trường đại học Sư phạm TP.HCM) tổ chức, tôi đã có một cuộc gặp gỡ đặc biệt. Đứng trước các em học sinh đang tràn đầy hoài bão nhưng cũng không ít chênh vênh, tôi nhận ra: sự khiếm khuyết về thể xác không đáng sợ bằng sự thiếu hụt niềm tin vào bản thân.
Tôi chia sẻ với các bạn về cách dùng AI làm “đôi mắt” thứ hai để tự học đa ngoại ngữ và xử lý tài liệu. Khi kể về cách tôi dùng tính năng voice chat của AI để tự học đa ngoại ngữ, thông qua tiếng ồ, à của các em.
Các bạn sẽ hiểu ra rằng công nghệ không chỉ để giải trí, mà là công cụ để giúp người khiếm thị nâng cao năng lực của mình. Cuộc đối thoại ấy không đơn thuần là chia sẻ kỹ năng, mà là sự truyền lửa: Khi ta đủ khát khao, thế giới mới sẽ mở ra theo cách bạn không ngờ tới.
Nhiều người hỏi tôi, liệu sự tự tin và tinh thần lạc quan có phải là “chìa khóa vạn năng” giúp người khuyết tật luôn vững bước? Tôi cho rằng, lạc quan là nền tảng để bắt đầu tự tin sống hòa nhập.
Hòa nhập thực chất không chỉ nằm ở quyền được giáo dục, mà còn ở quyền được thụ hưởng cái đẹp và sự an toàn. Khoảnh khắc tôi đeo tai nghe, lắng nghe từng cử chỉ của nghệ sĩ Thành Lộc tại sân khấu Thiên Đăng (dự án Từ tai đến mắt) là một giây phút kỳ diệu. Đó là khi khát khao của tôi gặp được một “điểm tựa” thấu cảm từ cộng đồng.
Nhưng cuộc đời không chỉ có ánh đèn sân khấu. Vẫn còn đó những góc khuất rủi ro nơi cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women Viet Nam) khẳng định: 76,8% phụ nữ và trẻ em khuyết tật trở thành đối tượng dễ tổn thương trước vấn nạn quấy rối tình dục.
Để góp phần giảm thiểu điều này, lớp tập huấn phòng chống xâm hại tình dục dành cho học sinh khiếm thị do tôi thực hiện tại mái ấm Huynh Đệ Như Nghĩa (cùng Tổ chức Nơ Xanh Việt Nam) giúp những nữ sinh nơi đây bảo vệ bản thân trước sóng gió cuộc đời.
Sau cùng, nỗ lực cá nhân dù phi thường đến đâu cũng chỉ là một nửa chiếc chìa khóa. Nếu người khuyết tật cố gắng 200% sức lực nhưng xã hội vẫn thiếu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, thiếu cơ hội việc làm công bằng, thì mọi nỗ lực sẽ như “muối bỏ biển”.
Vì vậy đừng chỉ trao tặng chúng tôi những đóa hoa hướng dương rực rỡ trong ngày lễ, hãy trao cho chúng tôi chiếc chìa khóa của sự thấu cảm thực tâm. Để mỗi bước đi không còn là những nỗ lực đơn độc, mà là hành trình cộng hưởng chung của những con người tin vào sức mạnh của sự kết nối chân thành.
Ngày 14/5, tại Quý Dương, tỉnh Quý Châu bà Zuo Jing đoàn tụ với con trai Sun Haoqiang, hiện 25 tuổi, sau gần hai thập kỷ xa cách nhờ công nghệ đối chiếu DNA.
Bà Zuo cho biết khi Sun Haoqiang lên ba tuổi, gia đình chuyển đến Phúc Kiến, sau đó định cư tại Kim Sa. Ba năm sau, họ trở lại Quý Dương lập nghiệp. Vợ chồng bà mở một sạp bán trái cây trong chợ và mua nhà gần đó. Ngày 28/1/2007, Sun Haoqiang mất tích khi đang chơi gần nhà. "Con trai tôi có lẽ đã bị bắt cóc vì nó thông minh từ nhỏ, hoạt bát, không thể nào đi lạc hay bỏ nhà đi", bà Zuo kể.
Biến cố khiến gia đình rạn nứt. Bà Zuo ly hôn chồng sau nửa năm tìm con và sống một mình từ đó. Suốt 19 năm, bà kiên quyết giữ nguyên sạp trái cây và không bán căn nhà cũ. "Đây là nơi sống của con khi còn nhỏ. Tôi sợ con quay về không tìm thấy mẹ nên phải bám trụ tại đây", bà nói.
Tháng 8/2013, tổ chức tình nguyện "Trẻ em trở về nhà" (Baby come home), chuyên hỗ trợ các gia đình có con bị mất tích, đã hướng dẫn bà Zuo lấy mẫu máu đưa vào cơ sở dữ liệu ADN quốc gia. Năm 2018, chồng cũ của bà cũng được hướng dẫn lưu trữ mẫu máu.
Năm 2024, hệ thống ghi nhận ADN của hai người trùng khớp với một thanh niên tên Xiao sống tại Phúc Kiến. Quá trình xác minh bị đình trệ do Xiao mất liên lạc. Tháng 3/2026, trong buổi đoàn tụ của một đứa trẻ thất lạc khác ở quận Bạch Vân, Quý Dương, cảnh sát nhắc đến trường hợp của Xiao. Họ liên hệ tình nguyện viên ở Phúc Kiến để phối hợp. Sau khi được nhiều người khuyên nhủ, Xiao đồng ý lấy máu xét nghiệm lại vào ngày 11/4. Ngày 22/4, kết quả xác nhận anh chính là Sun Haoqiang.
Sun lớn lên ở Phúc Kiến và biết mình là con nuôi từ năm 10 tuổi. Khó khăn kinh tế cùng ký ức mơ hồ khiến anh không thể tự tìm lại gốc gác.
Sun cho biết khi nhận thông báo từ cảnh sát, anh không tin là sự thật vì chỉ nhớ mang máng gia đình bán trái cây. Nhận được sự ủng hộ từ bố mẹ nuôi, anh quyết định trở về Quý Dương thăm mẹ và dự định sẽ gặp bố sau.
Lễ khởi được tổ chức tại Nhà văn hóa thôn Vĩnh Thịnh, xã Ngọc Hồi, Hà Nội, thu hút sự tham gia của gần 200 đại biểu, bao gồm đại diện chính quyền địa phương, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Ngọc Hồi, các hộ sản xuất nón lá, thanh niên địa phương cùng đại diện Công ty Coca-Cola Việt Nam và các đơn vị đào tạo đồng hành.
Đây là năm thứ hai chương trình được triển khai tại làng nón Vĩnh Thịnh, xã Ngọc Hồi, làng nghề có lịch sử gần 180 năm và được UBND Thành phố Hà Nội công nhận là Làng nghề truyền thống vào năm 2020. Hiện hơn 70% hộ gia đình trong thôn vẫn duy trì nghề làm nón, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa địa phương và tạo sinh kế cho người dân.
Thông qua dự án, Công ty Coca-Cola Việt Nam mong muốn xây dựng một mô hình kết hợp giữa bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống với ứng dụng thương mại điện tử, giúp người dân nhìn thấy rõ hơn tiềm năng phát triển kinh tế từ chính những sản phẩm thủ công mang đậm bản sắc địa phương.
Ông Bùi Khánh Nguyên, Phó Tổng Giám đốc Đối ngoại, Truyền thông và Phát triển Bền vững, Công ty Coca-Cola Việt Nam, cho biết: "Đây là năm thứ tư Công ty Coca-Cola Việt Nam triển khai chương trình với mục tiêu đồng hành cùng các cộng đồng làng nghề trong hành trình tiếp cận kinh tế số. Sau ba năm tập trung nâng cao nhận thức, năm nay chúng tôi hướng đến việc tạo ra những kết quả thực tiễn thông qua mô hình kết hợp giữa bảo tồn nghề truyền thống, phát triển kỹ năng số và xây dựng thương hiệu làng nghề.
Dự án không chỉ trang bị kiến thức thương mại điện tử cho người dân mà còn hỗ trợ nâng cao giá trị sản phẩm thông qua tư vấn sáng tạo từ các chuyên gia nghệ thuật, đồng thời xây dựng hình ảnh số cho làng nón Vĩnh Thịnh để mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng và phát triển du lịch trải nghiệm".
Dự án được triển khai từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2026 với hai giai đoạn chính. Sau khi tuyển chọn 10 nghệ nhân và 10 bạn trẻ tiên phong thông qua các hoạt động đánh giá kiến thức, kỹ năng và sự am hiểu về làng nghề, các học viên sẽ tham gia chương trình đào tạo chuyên sâu kéo dài sáu tuần do các chuyên gia từ Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM) và Đại học Quốc gia Hà Nội hướng dẫn. Dự án sẽ khép lại bằng Lễ Tổng kết và phiên livestream bán hàng trực tuyến với sự tham gia của KOL "Anh Tây Ơi".
Thông qua các buổi đào tạo trực tuyến, trực tiếp và các hoạt động thực hành, chương trình trang bị kiến thức về thương mại điện tử, tiếp thị số, livestream bán hàng, ứng dụng AI trong sáng tạo nội dung. Các bạn trẻ tham gia sẽ được hỗ trợ kinh phí, trong khi các nghệ nhân được trao tặng bộ màu acrylic cao cấp để phục vụ hoạt động sáng tạo sản phẩm.
Bà Phạm Thị Bích Thủy, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Ngọc Hồi cho biết: "Dự án không chỉ mang đến những kiến thức và kỹ năng mới về thương mại điện tử mà còn tạo cơ hội để người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ và thế hệ trẻ, tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển kinh tế số. Chúng tôi đánh giá cao sự đồng hành liên tục của Công ty Coca-Cola Việt Nam trong nhiều năm qua trong việc hỗ trợ bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống gắn với phát triển kinh tế bền vững".
Trẻ em dùng mạng xã hội không còn là tranh luận xa xôi mà đã trở thành mối bận tâm toàn cầu. Ngày càng nhiều quốc gia nhìn thấy mặt tối của "thế giới số" đối với trẻ vị thành niên. Sau Úc, nhiều nước như Anh, Hy Lạp, Nhật Bản cũng đang xem xét siết độ tuổi sử dụng mạng xã hội.
Rõ ràng, mạng xã hội không giống với công nghệ học tập. Và trẻ em ở độ tuổi chưa hoàn thiện nhận thức rất dễ trở thành đối tượng bị dẫn dắt bởi những thuật toán gây nghiện.
Phụ huynh hay nói: "Thời đại này không cho con dùng công nghệ sao được?". Tất nhiên, không ai có thể kéo trẻ em ra khỏi kỷ nguyên số, song cần phân biệt giữa sử dụng công nghệ và bị công nghệ "chiếm hữu".
Mạng xã hội ngày nay không đơn thuần là nơi giao tiếp, kết nối mà là một cỗ máy khai thác sự chú ý. Những đoạn video ngắn liên tục, những nội dung giật gân, câu view, những chuẩn mực ngoại hình méo mó hay văn hóa công kích… đang bủa vây trẻ em mỗi ngày.
Một nghiên cứu tại Úc cho thấy 44% thanh thiếu niên từng trải qua trải nghiệm tiêu cực trên mạng; gần một nửa cảm thấy tự ti hơn về hình ảnh bản thân sau khi dùng mạng xã hội.
Các nghiên cứu quốc tế cũng ghi nhận việc trẻ dành quá nhiều thời gian trước màn hình liên quan đến lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và giảm khả năng tập trung. Vì vậy, khi Úc cấm trẻ dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội, điều họ nhắm tới không phải là chống lại công nghệ mà là bảo vệ trẻ em trước một môi trường mà ngay cả người lớn đôi khi còn không đủ khả năng tự vệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ cấm mà không tạo ra môi trường thay thế lành mạnh, lệnh cấm rất dễ thất bại. Thực tế, tại Úc, nhiều trẻ vẫn tìm cách "vượt rào" bằng tài khoản giả hoặc nhờ người lớn đăng ký hộ. Điều đó cho thấy nghiện mạng xã hội là một vấn đề tâm lý - xã hội toàn cầu.
Trẻ ở thành phố sinh ra, lớn lên trong những căn hộ chật hẹp, thiếu sân chơi, thiếu không gian công cộng, thiếu cả thời gian trò chuyện với cha mẹ. Sau giờ học thêm, thứ dễ tiếp cận nhất là điện thoại. Mạng xã hội bấy giờ trở thành nơi giải trí rẻ tiền, nhanh chóng và gây kích thích liên tục.
Nếu trẻ không dùng mạng xã hội thì sẽ làm gì? Đọc sách? Chơi thể thao? Học nhạc? Tham gia hoạt động cộng đồng? Đi dạo công viên?... Đó lẽ ra phải là câu hỏi của quy hoạch đô thị, của giáo dục và của đời sống gia đình. Đáng lo là người lớn nhiều khi cũng vừa ăn cơm vừa lướt điện thoại, không ít người giao luôn chiếc smartphone cho con như một "bảo mẫu điện tử". Bởi vậy, không chỉ cấm mà cần kiến tạo một hệ sinh thái bảo vệ trẻ em.
Nhà nước cần có khung pháp lý mạnh hơn về xác minh độ tuổi, kiểm soát nội dung độc hại, nâng cao trách nhiệm của các nền tảng công nghệ. Nhà trường phải dạy kỹ năng số, kỹ năng phản biện và sức khỏe tinh thần thay vì chỉ cấm đoán hình thức. Gia đình cần thiết lập "kỷ luật số" như giờ không điện thoại, không lướt mạng xã hội trong bữa cơm, tăng thời gian trò chuyện trực tiếp…
Không ai phủ nhận mạng xã hội có mặt tích cực. Người sử dụng có thể học ngoại ngữ, tiếp cận tri thức, kết nối bạn bè, phát triển kỹ năng sáng tạo… Nhưng vấn đề nằm ở chỗ trẻ dưới 16 tuổi chưa đủ khả năng phân biệt đâu là thông tin đúng sai, đâu là độc hại, đâu là sự thao túng cảm xúc từ thuật toán.
Trẻ em thì chưa đủ trưởng thành để lái xe, uống rượu hay chịu trách nhiệm pháp lý, do vậy cũng cần đặt giới hạn cho việc bước vào một "xa lộ tâm lý" đầy cạm bẫy của mạng xã hội. Nếu không, mạng xã hội sẽ tiếp tục nuôi lớn một thế hệ quen sống bằng lượt thích, phản ứng nhanh và sự cô đơn ngay giữa thế giới kết nối vô tận.