Sáng 13.7, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (Ban Chỉ đạo) đã tổ chức phiên họp thứ hai nhằm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và triển khai nhiệm vụ công tác trong thời gian tới.
Phát biểu chỉ đạo phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ “bốn khoảng trống” lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục.
Thứ nhất, đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số.
Khoảng trống thứ hai, là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia.
Kế đó là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế.
Khoảng trống thứ tư là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP.
Từ đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị quán triệt thêm “ba chuyển dịch lớn”.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.
Thứ hai, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số.
Thứ ba, chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu trong 6 tháng cuối năm, Ban chỉ đạo tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm để tạo nền tảng phát triển văn hóa những năm tiếp theo.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển; phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nhà nước để xây dựng văn hóa Việt Nam.
Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam.
Trong đó, đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, phải có cơ chế huy động sự tham gia của nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo trong việc sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hóa có chất lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh trong môi trường số.
Cần có cơ chế phát triển, đặt hàng, đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận công chúng lớn, có giá trị giáo dục, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa quốc tế.
Ban Chỉ đạo Trung ương cần định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; không chỉ đánh giá bằng số lượng sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số, mà phải đo lường bằng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.
Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam xây dựng được môi trường văn hóa số lành mạnh, trong đó các giá trị văn hóa Việt Nam có vị trí tương xứng, có sức hấp dẫn, sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa mạnh mẽ.
Thứ ba, thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo
Thứ tư, phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá 3 dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.
Đến tháng 10.2026, những địa phương như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ phải xác định quỹ đất dành cho khu, trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số.
Các địa phương không xây dựng các mô hình giống nhau; mỗi trung tâm phải có chức năng khác biệt, gắn với lợi thế, thị trường, chủ thể đầu tư và khả năng liên kết vùng.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay có Quốc vụ khanh Bộ Nội vụ Ấn Độ Nityanand Rai, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Tshering Wangchuk Sherpa, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Mumbai (Ấn Độ) Lê Quang Biên cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, cộng đồng người Việt Nam và lưu học sinh Việt Nam tại Ấn Độ.
Trên khắp thủ đô New Delhi, Chính phủ Ấn Độ đã bố trí các bức ảnh chân dung Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với khẩu hiệu song ngữ nhiệt liệt chào mừng.
Tại khách sạn, đông đảo nghệ sĩ Ấn Độ đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bằng các điệu múa truyền thống.
Ngay sau khi tới thủ đô New Delhi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Cố vấn an ninh Quốc gia Ấn Độ Ajit Doval; gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ.
Chuyến thăm là sự kiện đối ngoại quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt. Đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Ấn Độ trên cương vị mới, diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026).
Chuyến thăm là minh chứng rõ nét đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Đó là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Ấn Độ vào ngày 7.1.1972. Hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược vào tháng 9.2016 trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Tiếp đó, ngày 1.8.2024, hai nước thông qua Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ.
Trả lời báo chí trước chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho biết, chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ cũng như với khu vực Nam Á nói chung.
Ấn Độ là đối tác hữu nghị truyền thống ở khu vực Nam Á mà Việt Nam rất coi trọng và mong muốn đưa quan hệ lên tầm cao mới. Hiện nay, hai nước có hơn 20 cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực và đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng.
Đây cũng là dịp rất ý nghĩa để hai nước củng cố và tăng cường quan hệ về mọi mặt, đồng thời cùng nhìn lại việc thực hiện khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện 10 năm qua, từ đó kiến tạo xung lực mới và định hình khuôn khổ hợp tác cho quan hệ song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ lên tầm cao mới trong giai đoạn tiếp theo.
Dự kiến, trong chuyến thăm từ 5 - 7.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chương trình rất phong phú tại thủ đô New Delhi và tại trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ phát triển nhất là Mumbai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ cùng lãnh đạo cấp cao Ấn Độ trao đổi, thảo luận về các định hướng chiến lược thúc đẩy hợp tác, tạo ra đột phá trên các lĩnh vực tiềm năng như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, y tế, năng lượng sạch, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy giao lưu nhân dân, văn hóa, tôn giáo...
Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm Sri Lanka, Tổng thống Anura Kumara Dissanayake cho biết lãnh đạo, nhân dân Sri Lanka luôn dành những tình cảm hữu nghị, chân thành đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Ông cũng bày tỏ khâm phục Việt Nam, một hình mẫu phát triển ở khu vực và trên thế giới; ngưỡng mộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước Việt Nam phát triển như ngày hôm nay.
Bày tỏ vui mừng được thăm lại đất nước Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Sri Lanka đã đạt được những kết quả tích cực trong ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nợ và phục hồi sau khủng hoảng (2020 - 2024), đặc biệt là triển khai hiệu quả chương trình cải cách kinh tế cũng như việc triển khai chương trình "Sri Lanka sạch 2026".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Dissanayake, Sri Lanka sẽ bước vào quỹ đạo tăng trưởng ổn định, bền vững, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển và "Tầm nhìn 2048" đưa Sri Lanka thành nước phát triển nhân kỷ niệm 100 năm độc lập, xứng đáng với tên gọi "hòn ngọc Ấn Độ Dương".
Hai nhà lãnh đạo đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước, bày tỏ vui mừng về quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt đã trải qua hơn nửa thế kỷ với tin cậy chính trị, thủy chung, sự ủng hộ chí tình, sự tương đồng về văn hóa Phật giáo và đều là thành viên tích cực của Phong trào Không Liên kết.
Đánh giá cao quan hệ song phương đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi về những phương hướng hợp tác mang tính định hướng lớn nhằm đưa quan hệ hai nước phát triển sâu rộng hơn nữa, tương xứng với tiềm năng to lớn sẵn có, nâng tầm hợp tác song phương vì lợi ích hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Hai bên nhất trí nâng tầm tin cậy chính trị, phát triển toàn diện quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước; mở rộng trao đổi và tiếp xúc cấp cao và các cấp và triển khai định kỳ các cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực. Đồng thời, đẩy mạnh quan hệ giữa hai đảng cầm quyền; tăng cường trao đổi lý luận, chính sách đối ngoại, các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.
Hai bên nhất trí đưa hợp tác quốc phòng, an ninh đi vào thực chất, hiệu quả, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, mở rộng hợp tác về trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng; tăng cường hợp tác về an ninh hàng hải, an ninh mạng.
Nhấn mạnh tiềm năng hợp tác về thương mại và đầu tư, hai nhà lãnh đạo nhất trí triển khai các biện pháp đột phá nhằm sớm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 1 tỉ USD trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam sẵn sàng cung ứng cho thị trường Sri Lanka các sản phẩm có thế mạnh và Sri Lanka có nhu cầu như lương thực, thực phẩm, các loại máy dùng cho nông nghiệp...
Về phần mình, Tổng thống Anura Kumara Dissanayake khẳng định Chính phủ Sri Lanka sẽ tạo thuận lợi và có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Sri Lanka; thúc đẩy hợp tác nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh.
Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường hợp tác nông nghiệp, kết nối chuỗi cung ứng nông sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, thủy sản, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chia sẻ kinh nghiệm về phát triển các mặt hàng chủ lực và triển khai các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cùng có lợi giữa hai nước, hướng đến việc hai nước các dự án có tính biểu tượng.
Hai bên nhất trí đưa hợp tác văn hóa, giáo dục, kết nối và giao lưu nhân dân thành một trụ cột quan trọng của quan hệ song phương. Theo đó, hai bên sẽ mở rộng hợp tác du lịch nhất là du lịch tâm linh; mở đường bay thẳng giữa hai nước, thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu.
Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đề nghị Việt Nam mở phân hiệu của một số trường đại học lớn tại Sri Lanka.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng cần phát huy hơn nữa hợp tác văn hóa và đề nghị Sri Lanka hỗ trợ các hoạt động tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như lan tỏa văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam tại Sri Lanka. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, hai nước cần quyết tâm đưa ngay các thỏa thuận vào triển khai.
Về các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm, hai bên nhấn mạnh trong bối cảnh thế giới, khu vực có những biến động phức tạp, Việt Nam và Sri Lanka cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết và Diễn đàn Phương Nam toàn cầu.
Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải và nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Ngay sau hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Dissanayake đã chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực an ninh, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin và truyền thông và chủ trì gặp gỡ báo chí chung.
Chiều 14.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt không phát triển từng nhà máy, từng địa phương hoặc từng loại sản phẩm biệt lập, chính sách phải tạo được liên kết chuỗi, thị trường ổn định, phân công hợp lý và hiệu quả tổng thể.
Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, tổ chức thị trường và bảo đảm những năng lực thiết yếu, đồng thời không bao cấp trở lại, không làm thay doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trực tiếp đầu tư, sản xuất, đổi mới, cạnh tranh và chịu trách nhiệm về hiệu quả. Bên cạnh đó cần phân vai đúng, phát huy thế mạnh của từng khu vực kinh tế, bảo đảm cạnh tranh minh bạch và không dùng chính sách để che lấp yếu kém quản trị.
Mọi lựa chọn phải căn cứ vào hiệu quả dài hạn, khả năng làm chủ hoặc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản trị, thị trường và phần giá trị giữ lại trong nước; không chạy theo quy mô, thứ hạng hình thức; không đầu tư dàn trải, trùng lặp; không đánh đổi chất lượng, an toàn, môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Về nhiệm vụ trước mắt, cần tập trung mở khóa thị trường, khai thác hiệu quả năng lực hiện có và xử lý các điểm nghẽn.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Chính phủ khẩn trương xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn 2050. Chương trình phải xác định rõ mục tiêu, trọng tâm, lộ trình, nguồn lực, cơ chế tổ chức thực hiện; gắn kết với chiến lược đội tàu, vận tải thủy, cảng, logistics, năng lượng biển và quốc phòng - an ninh; khắc phục tình trạng chính sách phân tán, thiếu công cụ và thiếu sản phẩm đầu ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù hợp đồng lớn, chu kỳ dài, rủi ro cao của ngành đóng tàu.
Cơ chế hỗ trợ phải có điều kiện, đúng đối tượng, gắn với đơn hàng, năng lực doanh nghiệp, phương án tài chính khả thi và quản trị minh bạch; không cấp vốn để bù lỗ, không tạo nợ xấu mới, không hợp thức hóa sai phạm cũ. Chính phủ cụ thể hóa các công cụ và quy trình kiểm soát theo thẩm quyền.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý về việc tổ chức lại thị trường trong nước, gắn nhu cầu phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, dịch vụ ngoài khơi và quốc phòng - an ninh với năng lực công nghiệp trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
Cùng đó, cần có chính sách phù hợp để khuyến khích sản phẩm trong nước đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành, tiến độ và chi phí vòng đời. Trước mắt cần coi sửa chữa, hoán cải, nâng cấp xanh, bảo trì và dịch vụ vòng đời là hướng quan trọng để khai thác năng lực hiện có, tạo dòng tiền và giữ lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Cần xử lý các tồn tại theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan; bảo đảm kỷ luật, minh bạch, không thất thoát tài sản nhà nước; không xử lý cơ học làm mất hạ tầng, công nghệ, dữ liệu, quan hệ khách hàng và đội ngũ lao động kỹ thuật khó tái tạo.
Về nhiệm vụ lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ phải chuyển từ duy trì năng lực sản xuất sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đường thủy hiện đại, xanh, số, có khả năng tự chủ và cạnh tranh quốc tế.
Tinh thần chung là phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia bằng tư duy hệ sinh thái, lựa chọn có trọng tâm và kỷ luật thực thi; phát huy đúng vai trò của Nhà nước, các khu vực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế; không cứu trợ dàn trải, không bao cấp trở lại, không đầu tư theo phong trào nhưng cũng không buông lỏng để mất năng lực công nghiệp chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo phải xử lý dứt điểm tồn tại, bảo toàn cái còn giá trị và tổ chức lại nhu cầu của đất nước thành thị trường có kỷ luật cho những doanh nghiệp thực sự có năng lực, có khả năng phát triển tốt.