Nhận định trên được Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm đưa ra trong cuộc trao đổi với Tuổi Trẻ về kết quả một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN).
* Thưa ông, sau một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN, đâu là những kết quả có thể đong đếm được?
– Khu vực KTTN đã được định vị là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhận thức cả hệ thống chính trị và toàn xã hội với khu vực này đã có sự chuyển biến rất rõ.
Thực tiễn sau một năm triển khai nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, khu vực KTTN đã có những chuyển biến rõ nét.
Nghị quyết đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh. Ngay sau khi nghị quyết số 68 được ban hành và được thể chế hóa thông qua chương trình hành động của Chính phủ, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp (DN), hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh so với trước đó.
Từ tháng 5-2025 đến hết năm 2025, có khoảng 18.000 DN thành lập mới/tháng, số DN quay trở lại hoạt động đạt hơn 8.300 DN/tháng.
Tính chung năm 2025, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực KTTN ước đạt gần 6,4 triệu tỉ đồng, tăng 77,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, đà này tiếp tục được duy trì. Cả nước có gần 75.000 DN thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 730.000 tỉ đồng và tạo việc làm gần 400.000 lao động.
Bên cạnh đó, có hơn 48.000 DN quay trở lại hoạt động, nâng tổng số DN gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 DN, tăng 36,7%.
Những kết quả trên cho thấy nghị quyết số 68 đã củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực KTTN phát triển.
Bên cạnh đó, cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực KTTN, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt có bước khởi sắc sau khi nghị quyết số 68 được ban hành. Tính đến hết tháng 4-2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt khoảng 10,5 triệu tỉ đồng, cao nhất từ trước đến nay, tương đương khoảng 82% GDP cả nước năm 2025.
Kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất – kinh doanh của khu vực KTTN tác động tích cực tới thu ngân sách. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách ước đạt hơn 1,1 triệu tỉ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ.
Việc triển khai nghị quyết số 68 còn tạo hiệu ứng lan tỏa trong huy động nguồn lực xã hội, thu hút các tập đoàn tư nhân lớn tham gia đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia. Nghị quyết góp phần định hình lại cấu trúc phát triển của khu vực KTTN, gia tăng vai trò của khu vực này trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong trung và dài hạn.
* Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC) và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, vậy kết quả sau một năm thế nào?
– Ngay từ đầu tháng 4, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường.
Đồng thời, Thủ tướng đã ban hành 15 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 TTHC, đơn giản hóa 2.479 TTHC.
Ngoài ra, một điểm cải cách lớn trong Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua là rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, phù hợp với tinh thần nghị quyết 68.
Luật Đầu tư cũng bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần “tiền kiểm” và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế “hậu kiểm”.
Không dừng lại ở đó, giữa tháng 5 vừa qua, Chính phủ đã ban hành 3 nghị quyết đặc thù về phân quyền, cắt giảm, đơn giản TTHC, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực và các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh.
* Tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng cho khu vực KTTN cũng là một yêu cầu nghị quyết 68 đặt ra, điều này đã được cụ thể hóa ra sao?
– Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài với khu vực KTTN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa.
Tính đến hết năm 2025, cả nước có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với khoảng 68.000ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32.600ha đất công nghiệp thời gian tới.
Tỉ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động khoảng 78,8%. Đúng là DN nhỏ và vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các DN lớn.
Nghị quyết 68 đã xác định tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao. Trong đó, đặt yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo thuận lợi cho khu vực KTTN tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để kiểm soát biến động giá đất, nhất là giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Thời gian tới, trọng tâm là phải đưa chính sách hỗ trợ DN tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể.
Các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DN nhỏ và vừa theo quy định tại nghị quyết 198 năm 2025 của Quốc hội, song song đó cần xây dựng cơ chế vận hành và có chủ thể chịu trách nhiệm.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10-2026, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.
* Sau một năm thực hiện nghị quyết 68, theo ông đâu là những việc cần làm quyết liệt hơn?
– DN cảm nhận sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan nhà nước. Vì vậy, cần tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của DN, hộ kinh doanh.
Tôi cho rằng thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi trong phát triển KTTN là lấy DN làm trung tâm – lấy hiệu quả làm thước đo – lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng.
Thông qua hình thức thi trực tuyến, Ban tổ chức kỳ vọng thu hút đông đảo người dân trên cả nước tham gia, cùng lan tỏa thông điệp sống xanh, tiêu dùng xanh và chung tay bảo vệ môi trường.
Vòng thi trực tuyến được tổ chức từ 10h ngày 25-5 đến hết ngày 31-5-2026.
Thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu kiến thức, cuộc thi hướng tới tuyên truyền, phổ biến đến người dân, doanh nghiệp và cộng đồng về vai trò, lợi ích của xăng sinh học E10 trong bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen tiêu dùng, khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học thân thiện với môi trường.
Đối tượng tham gia cuộc thi là công dân Việt Nam trong và ngoài nước, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và người tiêu dùng có quan tâm đến nội dung cuộc thi. Người chơi có thể tham gia theo các bước sau:
Bước 1: Truy cập Cổng thông tin điện tử Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước tại địa chỉ http://dms.gov.vn; hoặc truy cập phần mềm cuộc thi tại địa chỉ https://e10.dms.gov.vn; đồng thời có thể quét mã QR để tham gia làm bài thi.
Bước 2: Người chơi chọn mục "Làm bài thi" và điền đầy đủ thông tin cá nhân theo yêu cầu của hệ thống trước khi bắt đầu dự thi.
Bước 3: Người chơi trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm. Trước khi kết thúc bài thi, người chơi thực hiện trả lời thêm 1 câu hỏi mở và nhập trực tiếp câu trả lời trên hệ thống.
Người chơi không bị giới hạn số lần tham gia dự thi. Kết quả được công nhận là kết quả của lần thi cuối cùng.
Ban tổ chức không công nhận kết quả đối với các trường hợp sử dụng biện pháp kỹ thuật can thiệp vào hệ thống, làm ảnh hưởng hoặc sai lệch kết quả cuộc thi.
Tổng thời gian làm bài tối đa là 20 phút, không giới hạn thời gian cho từng câu hỏi. Thời gian tính điểm được xác định từ thời điểm người chơi bắt đầu dự thi đến khi hoàn thành và nộp bài.
Về cách thức chấm điểm, từ câu 1 đến câu 20, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, tổng điểm tối đa là 20 điểm. Câu hỏi mở được sử dụng làm tiêu chí xếp hạng người chơi. Người chơi được xếp hạng theo tổng điểm từ cao xuống thấp.
Trường hợp có nhiều người chơi cùng số điểm, thứ hạng sẽ được xác định theo thứ tự ưu tiên gồm: câu trả lời ở câu hỏi mở chính xác hoặc thấp hơn gần nhất so với kết quả ghi nhận từ hệ thống.
Người chơi có thời gian hoàn thành bài thi ngắn hơn, người chơi có số lần tham gia ít hơn. Trong trường hợp vẫn chưa xác định được thứ hạng, Ban tổ chức sẽ xem xét và quyết định kết quả cuối cùng.
Vàng là tài sản trú ẩn an toàn trong thời kỳ biến động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư coi đây là khoản đầu tư "chết", ở cả cấp độ cá nhân lẫn nền kinh tế, do không tạo ra giá trị sản xuất. Vấn đề này càng rõ rệt ở các quốc gia tiêu thụ vàng lớn, như Ấn Độ.
Hôm 10/5, tại một sự kiện ở Hyderabad, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi kêu gọi người dân ngừng mua vàng, hạn chế làm đám cưới ở nước ngoài và đi du lịch để tiết kiệm ngoại hối. Các biện pháp này được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế Ấn Độ đứng trước thách thức lớn. Cuộc khủng hoảng năng lượng do xung đột tại Trung Đông đang gây sức ép lên dự trữ ngoại hối và đồng rupee nước này.
Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng lớn thứ hai và cũng là một trong những nước nhập khẩu vàng lớn nhất thế giới. Trên India Today, Akshat Garg, Giám đốc Nghiên cứu và Sản phẩm tại Choice Wealth Private cho biết nhập khẩu vàng của Ấn Độ trong tài khóa 2025 khoảng 58-60 tỷ USD - thuộc nhóm cao nhất đến nay. Nhu cầu đôla Mỹ để nhập khẩu tăng sẽ càng gây sức ép lên đồng rupee nước này.
Từ nhiều năm qua, giới chức Ấn Độ đã thực hiện nhiều chính sách nhằm thuyết phục người dân giảm mua vàng. Nổi bật là Chương trình Tiền tệ Hóa vàng (Gold Monetisation Scheme - GMS), được chính phủ công bố năm 2015. Theo Bộ Tài chính Ấn Độ, mục tiêu của họ là huy động vàng nhàn rỗi của các hộ gia đình và các tổ chức, nhằm sử dụng cho mục đích hữu ích hơn và trong dài hạn sẽ giảm phụ thuộc vào nhập khẩu vàng. Chương trình này kết hợp và cải tổ hai chương trình trước đó là Gold Deposit Scheme (Gửi tiết kiệm vàng) và Gold Metal Loan (Cho vay vàng).
Theo quy định, người nắm giữ vàng có thể mang sản phẩm đến các Trung tâm Thu nhận và Kiểm định độ tinh khiết được Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS) chứng nhận. Sau đó, họ sẽ nhận chứng chỉ tiền gửi phát hành bởi ngân hàng, quy đổi theo vàng có độ tinh khiết 99,5%, với lượng tối thiểu là 10 gram. Chỉ 8 ngân hàng được chỉ định tham gia chương trình này.
Chứng chỉ gửi vàng có 3 kỳ hạn, là ngắn hạn (1-3 năm), trung hạn (5-7 năm) và dài hạn (12-15 năm). Loại ngắn hạn do ngân hàng tự thực hiện trên các tài khoản của mình. Loại trung và dài hạn được các nhà băng thực hiện thay mặt Chính phủ Ấn Độ.
Người sở hữu vàng sẽ được nhận tiền lãi định kỳ. Lãi suất ngắn hạn do các ngân hàng quyết định và chi trả. Còn lãi suất trung và dài hạn do chính phủ quyết định và chi trả, có sự tham vấn với Ngân hàng Trung ương Ấn Độ. Lãi suất trung và dài hạn năm ngoái vào khoảng 2,25-2,5% một năm.
Ngay khi gửi tiền, khách hàng đã phải chọn phương án tất toán. Khi đáo hạn, họ có thể nhận tiền gốc bằng vàng hoặc bằng tiền mặt tương ứng giá trị số vàng ở thời điểm hiện tại. Trong khi đó, tiền lãi chỉ được trả bằng tiền mặt.
Dù vậy, chính phủ Ấn Độ cho biết tính đến tháng 3/2025, lượng vàng huy động được theo chương trình GMS chỉ là 37,8 tấn. Đây là con số rất nhỏ so với ước tính 23.000-25.000 tấn vàng mà các hộ gia đình Ấn Độ đang nắm giữ, theo Hiệp hội Vàng Thế giới (WGC).
Giá vàng tăng liên tục vài năm qua cũng khiến chi phí với chính phủ Ấn Độ tăng cao. Tháng 3/2025, Bộ Tài chính Ấn Độ quyết định dừng hình thức gửi vàng kỳ hạn trung và dài hạn "dựa trên đánh giá hiệu quả chương trình và điều kiện thị trường thay đổi".
Times of India cho rằng chương trình này kém thu hút chủ yếu do giá trị về tinh thần mà vàng mang lại trong văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là với các trang sức thường được truyền lại cho đời sau. Vàng trong chương trình này sẽ bị nung chảy và không thể giữ được hình dạng ban đầu. Giới chuyên gia giải thích GMS chỉ phù hợp với những người có vàng nhàn rỗi hoặc trang sức vàng bị hỏng và họ không có ý định sử dụng.
Để giảm nhu cầu vàng vật chất, năm 2015, Ấn Độ cũng công bố chương trình Trái phiếu Vàng Quốc gia (SGB). Theo đó, thay vì nắm giữ vàng, nhà đầu tư sẽ bỏ tiền mặt mua trái phiếu do Ngân hàng Trung ương Ấn Độ phát hành. Loại trái phiếu này có giá trị gắn với vàng, tối thiểu là 1 gram.
Nhà đầu tư sẽ nhận tiền lãi 2 lần một năm. Khi trái phiếu đáo hạn, họ nhận tiền mặt, dựa trên giá đóng cửa trung bình của vàng 999 trong 3 ngày làm việc sau đó. Giá này do Hiệp hội Vàng và Trang sức Ấn Độ (IBJA) công bố. Tính đến hết tháng 3/2025, chương trình này huy động được số tiền tương đương 146,96 tấn vàng.
Kỳ hạn của SGB là 8 năm. Tuy nhiên, kể từ năm thứ 5, nhà đầu tư có thể yêu cầu đáo hạn sớm. Trái phiếu này có thể được giao dịch trên sàn.
Dù vậy, việc giá vàng tăng cao do biến động chính trị đã khiến chi phí đi vay của chính phủ Ấn Độ thông qua SGB tăng theo. Tính đến tháng 5 năm nay, giá trị lô trái phiếu phát hành năm 2020 đã tăng gấp 3.
Thổ Nhĩ Kỳ - một quốc gia Trung Đông - cũng có chương trình huy động vàng nhàn rỗi của người dân. Tháng 2/2022, giới chức nước này công bố chính sách khuyến khích người dân đổi vàng ra đồng lira, và đưa số tiền này vào hệ thống tài chính. Bộ trưởng Tài chính Nureddin Nebati cho biết kể từ tháng 3/2022, công dân Thổ Nhĩ Kỳ có thể dễ dàng quy đổi vàng tiết kiệm thông qua các ngân hàng và 1.500 cửa hàng trang sức trên cả nước.
Chính phủ khi đó ước tính các gia đình nắm giữ khoảng 5.000 tấn vàng, tương đương 250-350 tỷ USD. Họ kỳ vọng hút một phần số tiền này vào hệ thống ngân hàng. Ông Nebati cho biết việc này sẽ hỗ trợ nhu cầu ngoại tệ của ngân hàng trung ương.
Không chỉ chính phủ, một số ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ cũng có chính sách nhận vàng của người dân. alBaraka cho phép khách hàng gửi trang sức vàng vào tài khoản, bằng cách quy đổi sang vàng 24 karat. Nhà băng này có lịch nhận vàng mỗi tuần, được đăng tải trên website của họ.
Ngân hàng Ziraat cũng cho phép người dân mang vàng đến các chi nhánh, hoặc cửa hàng trang sức có hợp tác với họ để thẩm định, tính toán giá trị và gửi vào tài khoản. Khoản này không trả lãi. Khi rút ra, người dân sẽ nhận tiền mặt. Nếu muốn sinh lời, họ có thể tiếp tục tham gia chương trình Gold Time Deposit Account của ngân hàng này. Khi gửi lượng vàng tối thiểu 200 gram, kỳ hạn từ 30-400 ngày, họ sẽ hưởng lãi suất 0,1%.
Dù vậy, trên Xinhua, giới phân tích cho biết các nỗ lực trước đây của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển vàng thành nội tệ đều không mang lại kết quả đáng kể. Nhà kinh tế học Mustafa Sonmez cho rằng chương trình mới cũng sẽ không hiệu quả như kỳ vọng, vì "người dân không tin tưởng các chính sách này sẽ giải quyết được vấn đề kinh tế". Bên cạnh đó, lạm phát cao và giá vàng vài năm qua liên tục tăng càng khiến mức lãi suất gửi vàng kém hấp dẫn.
Indonesia cũng là quốc gia có nhu cầu đầu tư vàng rất lớn. Nhiều hộ gia đình nước này nắm giữ vàng dưới dạng trang sức hoặc miếng để tiết kiệm dài hạn. Tuy nhiên, phần lớn số vàng này chỉ được để trong nhà, đồng nghĩa chúng không được sử dụng trong các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị sản xuất.
Tháng 2/2025, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto công bố ra mắt hai ngân hàng vàng (bullion bank). Mục đích là phát triển ngành công nghiệp vàng trong nước, đồng thời tiết kiệm ngoại tệ khi cho phép toàn bộ chuỗi cung ứng vàng ở lại nội địa.
Jakarta đã cấp giấy phép hoạt động bullion bank cho Pegadaian - công ty cầm đồ thuộc ngân hàng quốc doanh Bank Rakyat Indonesia - và Bank Syariah Indonesia (BSI), ngân hàng Hồi giáo lớn nhất nước này. Hai doanh nghiệp này sẽ cung cấp 4 dịch vụ, gồm nhận vàng gửi tiết kiệm từ người dân, cho vay thế chấp bằng vàng, giao dịch vàng và giữ hộ vàng.
Tháng 3/2026, Jakarta Globe cho biết số khách hàng sử dụng dịch vụ của các ngân hàng vàng này tăng từ 3,2 triệu tháng 2/2025 lên 5,7 triệu hiện tại. "Lượng vàng được cầm cố tại Pegadaian đã tăng lên 144,7 tấn, từ mức 94 tấn trước đó. Các khoản vay được bảo đảm bằng vàng cũng tăng thêm 38,5 tấn, tương đương 102.000 tỷ rupiah," Bộ trưởng Bộ Điều phối Các vấn đề kinh tế Airlangga Hartartocho biết tại Jakarta hồi tháng 2. Lượng vàng được nắm giữ tại Bank Syariah Indonesia cũng tăng, đạt 22 tấn.
Ông Airlangga cho rằng nhu cầu vàng tăng một phần do bất ổn toàn cầu. Khi ra mắt các ngân hàng vàng năm ngoái, giá kim loại quý chỉ ở quanh mức 3.000 USD mỗi ounce. Hiện tại, giá đã quanh 4.500 USD. Airlangga cũng nhấn mạnh những cải thiện trong mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính tại Indonesia đã góp phần tạo nên các kết quả trên.
"Nhìn chung, việc khuyến khích người dân gửi vàng vào ngân hàng không chỉ đơn thuần là vấn đề lợi nhuận, mà còn là khả năng xây dựng niềm tin và đảm bảo vàng được lưu giữ an toàn, đồng thời có tính thanh khoản cao hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn cho nền kinh tế," Wisnu Setiadi Nugroho - nhà kinh tế học tại Gadjah Mada - trường đại học lớn nhất Indonesia kết luận.
Tập đoàn VNG (mã chứng khoán: VNZ) ghi nhận doanh thu thuần quý đầu năm tăng 32% so với cùng kỳ, lên gần 2.800 tỷ đồng.
Trò chơi trực tuyến vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu doanh thu với gần 69%, tương đương khoảng 1.940 tỷ đồng. Ứng dụng nhắn tin Zalo và các nền tảng AI đứng thứ hai với tổng cộng 506 tỷ đồng. Ứng dụng thanh toán Zalopay và mảng kinh doanh giải pháp AI cho doanh nghiệp lần lượt xếp sau, đạt 216 tỷ đồng và 170 tỷ đồng.
CEO VNG Kelly Wong cho biết bốn mảng kinh doanh chủ lực của doanh nghiệp đều tăng trưởng hai chữ số trong quý đầu năm. Trong đó, Zalopay biến động mạnh nhất với 117%, một phần nhờ cung cấp thêm giải pháp thanh toán "tap to pay" (chạm để thanh toán) và mở rộng mạng lưới chấp nhận QR quốc tế tại 5 quốc gia châu Á.
VNG lãi gộp 1.110 tỷ đồng trong quý đầu năm. Tỷ suất sinh lời đạt khoảng 40%, tức cứ 100 đồng doanh thu có lãi 40 đồng sau khi trừ giá vốn. Con số này cải thiện đáng kể so với mức 37,5% của cùng kỳ năm ngoái.
Trừ hết chi phí, VNG lãi sau thuế 125 tỷ đồng. Kết quả này cắt chuỗi lỗ hai quý trước đó, đồng thời là mức cao nhất từ khi doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán vào cuối 2022. Theo ông Kelly Wong, bên cạnh hiệu quả kinh doanh của 4 mảng chủ lực tăng lên, khoản lãi đậm còn đến từ kỷ luật vận hành và kiểm soát chi phí.
Sức khỏe tài chính của VNG gần đây liên tục khởi sắc. Năm ngoái, doanh nghiệp lỗ hợp nhất 263 tỷ đồng, nối dài chuỗi lỗ 5 năm liên tiếp, nhưng con số này chỉ bằng một phần tư so với 2024 và chưa đến phân nửa so với kế hoạch ban lãnh đạo dự tính trước đó.
VNG thành lập năm 2004 tại một tiệm cà phê internet với tên gọi ban đầu là VinaGame. Từ mảng kinh doanh ban đầu là phát hành game nhập vai, VNG dần mở rộng sang dịch vụ nhắn tin, thanh toán điện tử, quảng cáo trực tuyến và trí tuệ nhân tạo.
Tập đoàn hiện có 37 công ty con trực tiếp và gián tiếp, với tổng số hơn 3.300 nhân sự. Tổng tài sản tính đến cuối quý I hơn 10.730 tỷ đồng, còn lợi nhuận chưa phân phối đạt 740 tỷ đồng.