Theo chỉ đạo của Phó chủ tịch UBND TP.HCM, Sở Văn hóa và Thể thao phải “phối hợp Sở An toàn thực phẩm cung cấp, công bố thông tin báo chí theo đúng quy định; xử lý sự cố thông tin và tham mưu cơ quan có thẩm quyền xử lý các nguồn tin xấu, lợi dụng vụ việc để chống phá; kịp thời phản bác các quan điểm sai trái, chưa phù hợp”.
Theo dự thảo, ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học được thực hiện toàn diện trong các hoạt động đào tạo, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản trị và cung cấp dịch vụ, hỗ trợ người học. Tuy nhiên công nghệ không thay thế vai trò người thầy và cần phải có cơ chế kiểm soát hành vi vi phạm liêm chính học thuật.
Các cơ sở giáo dục đại học được chủ động lựa chọn, ứng dụng các giải pháp công nghệ phù hợp với chiến lược phát triển và điều kiện của đơn vị. Tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ phải được thực hiện có kiểm soát, đảm bảo liêm chính học thuật.
Trong hoạt động đào tạo, cơ sở giáo dục đại học được chủ động ứng dụng công nghệ số và AI thông qua các phương thức như đào tạo trực tiếp có hỗ trợ công nghệ số, đào tạo trực tuyến toàn phần, đào tạo kết hợp trực tuyến và trực tiếp, đào tạo cá thể hóa dựa trên dữ liệu và AI.
Việc ứng dụng công nghệ nhằm hỗ trợ tổ chức giảng dạy, học tập, quản lý quá trình học tập, theo dõi tiến độ, kết quả học tập của người học, tư vấn học tập, định hướng nghề nghiệp và phân tích dữ liệu học tập để cải tiến chương trình, phương pháp giảng dạy.
Tuy nhiên sử dụng AI trong đào tạo phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên. Bên cạnh đó cũng phải đảm bảo minh bạch, có thể giải trình, không làm sai lệch kết quả học tập, tuân thủ liêm chính học thuật và có cơ chế kiểm soát, giám sát.
Đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá, dự thảo quy định cơ sở giáo dục đại học được chủ động ứng dụng công nghệ số và AI nhưng phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, minh bạch và công bằng, phù hợp với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Sử dụng công nghệ trong kiểm tra đánh giá phải bảo đảm xác thực danh tính người học, kiểm soát quá trình kiểm tra, đánh giá, bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng truy vết và lưu trữ dữ liệu đánh giá.
Cơ sở giáo dục đại học công khai quy định, tiêu chí đánh giá và có cơ chế giải trình, phúc tra kết quả. Việc sử dụng AI trong kiểm tra, đánh giá cũng phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên, không làm sai lệch kết quả đánh giá, tuân thủ quy định về liêm chính học thuật.
Bên cạnh việc quy định sử dụng công nghệ trong đào tạo, đánh giá, nghiên cứu khoa học, dự thảo chỉ rõ một số hành vi vi phạm liêm chính học thuật trong môi trường số.
Cụ thể như sử dụng công nghệ, bao gồm AI, để gian lận trong học tập, kiểm tra, đánh giá hoặc nghiên cứu khoa học. Sao chép, đạo văn, sử dụng trái phép tài liệu, dữ liệu, học liệu số hoặc kết quả nghiên cứu.
Giả mạo, làm sai lệch dữ liệu, kết quả nghiên cứu hoặc thông tin học tập. Nhờ người khác thực hiện hoặc thực hiện thay nhiệm vụ học tập, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu. Không công bố hoặc công bố không đầy đủ việc sử dụng công nghệ, AI khi có yêu cầu.
Từ đó dự thảo yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm ban hành quy định nội bộ về liêm chính học thuật, xác định rõ hành vi vi phạm, quy trình xử lý và trách nhiệm của các bên liên quan.
Thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát, xử lý vi phạm. Ứng dụng công nghệ để phát hiện gian lận, đồng thời tổ chức phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về liêm chính học thuật.
Theo đó, người ta nói đến chuyên môn giỏi, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với công nghệ và tinh thần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy và tiếp xúc với sinh viên, tôi nhận ra một yếu tố rất quan trọng nhưng đôi khi chưa được nhìn nhận đúng mức: năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Với tư cách là một giảng viên ngôn ngữ Anh, tôi từng gặp không ít trường hợp khiến mình vừa tiếc nuối vừa trăn trở. Có những sinh viên học rất tốt chuyên ngành, tư duy logic rõ ràng, thái độ làm việc nghiêm túc. Thế nhưng khi bước vào môi trường nghề nghiệp có yếu tố quốc tế, họ lại gặp rào cản lớn chỉ vì không đủ khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Một lần, một cựu sinh viên tìm gặp tôi sau khi tốt nghiệp vài năm. Em làm trong lĩnh vực kỹ thuật và được công ty cử tham gia một dự án có đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, vì khả năng tiếng Anh hạn chế nên em chỉ có thể đảm nhận những phần việc nhỏ, không được trực tiếp trao đổi chuyên môn với đối tác. "Thầy biết không, nhiều lúc em hiểu vấn đề chuyên môn nhưng không đủ tự tin để nói", em chia sẻ.
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Tôi từng chứng kiến nhiều người có năng lực chuyên môn rất tốt nhưng đánh mất những cơ hội phát triển chỉ vì thiếu ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, điều đó càng trở nên đáng tiếc.
Thực tế cho thấy tri thức ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia. Hầu hết các tài liệu khoa học, công nghệ, kinh tế hay quản trị hiện đại đều được công bố bằng tiếng Anh. Nếu không có khả năng đọc hiểu ngoại ngữ, người học sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận những nguồn tri thức mới nhất của thế giới.
Điều này đặc biệt rõ trong môi trường đại học. Một sinh viên chỉ đọc giáo trình tiếng Việt có thể vẫn hoàn thành chương trình học.
Nhưng một sinh viên có khả năng đọc thêm tài liệu quốc tế sẽ có tầm nhìn rộng hơn rất nhiều. Các em có thể cập nhật nghiên cứu mới, so sánh các quan điểm học thuật và hiểu được xu hướng phát triển của ngành nghề. Ngoại ngữ vì thế không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là chìa khóa mở ra tri thức.
Vai trò của ngoại ngữ ở góc độ nghề nghiệp lại càng rõ ràng hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện nay hợp tác với đối tác quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc sử dụng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Trong môi trường ấy, khả năng làm việc bằng ngoại ngữ trở thành một lợi thế lớn.
Một kỹ sư có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng nếu không thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia nước ngoài thì việc tiếp cận công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Một nhà nghiên cứu nếu không đọc được các công trình quốc tế sẽ khó bắt kịp nhịp phát triển của lĩnh vực mình theo đuổi.
Một doanh nhân nếu không giao tiếp được với đối tác quốc tế cũng sẽ bị hạn chế trong việc mở rộng thị trường… Từ đây, có thể thấy ngoại ngữ không chỉ là một kỹ năng bổ trợ, mà là một phần của năng lực chuyên môn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy nhiều sinh viên vẫn xem việc học ngoại ngữ như một nghĩa vụ bắt buộc để vượt qua kỳ thi. Các em học để lấy chứng chỉ, để đủ điều kiện tốt nghiệp, nhưng chưa thật sự xem ngoại ngữ là công cụ cho tương lai nghề nghiệp của mình. Đây là một điều đáng suy nghĩ.
Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ dừng ở việc đào tạo kiến thức chuyên ngành. Một người lao động trong thời đại mới cần có khả năng học hỏi liên tục, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Ngoại ngữ chính là chiếc cầu nối giúp họ thực hiện những điều đó.
Tất nhiên, việc học ngoại ngữ không phải là điều dễ dàng. Quá trình rèn luyện, cải thiện đòi hỏi sự kiên trì, thời gian và phương pháp phù hợp.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nhận thức. Khi người học hiểu rằng ngoại ngữ là công cụ để mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, họ sẽ có động lực học tập bền bỉ hơn.
Tôi nghĩ các trường đại học cũng cần nhìn nhận ngoại ngữ như một phần quan trọng trong chương trình đào tạo.
Việc dạy ngoại ngữ không nên chỉ tập trung vào ngữ pháp hay thi cử, mà cần hướng đến khả năng sử dụng thực tế: đọc tài liệu chuyên ngành, thuyết trình, trao đổi học thuật và làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được khuyến khích tiếp xúc nhiều hơn với môi trường sử dụng ngoại ngữ. Các hoạt động học thuật, hội thảo quốc tế, chương trình trao đổi sinh viên hay những dự án hợp tác với đối tác nước ngoài đều là cơ hội quý để người học rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế.
Trong một thế giới ngày càng kết nối, khoảng cách giữa các quốc gia không còn nằm ở địa lý, mà nằm ở khả năng giao tiếp và hợp tác. Một người có chuyên môn giỏi nhưng thiếu ngoại ngữ giống như người có chìa khóa nhưng không mở được cánh cửa.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao vì vậy không chỉ là đào tạo những người giỏi nghề, mà còn là đào tạo những con người có khả năng bước ra thế giới. Và trong hành trình ấy, ngoại ngữ chính là một trong những hành trang quan trọng nhất.
10 chuyên đề ôn tập môn tiếng Anh thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Trương Thị Cẩm Hân, Trường quốc tế Á Châu (Asian School), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=LDtwe9Aj7CI
Trong chuyên đề 4 - Câu hỏi tìm chi tiết trong bài đọc (Reading - Detail Questions) - giáo viên hướng dẫn học sinh dạng bài kiểm tra kỹ năng định vị và xác thực các thông tin cụ thể, sự thật hoặc dữ liệu được nêu trực tiếp trong văn bản. Thí sinh được trang bị quy trình 4 bước gồm gạch chân từ khóa, quét thông tin (scan) và đối chiếu ngữ cảnh để loại bỏ các phương án bẫy gây nhiễu.
Trước đó, vào ngày 27.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 3 - Đảo ngữ câu điều kiện - Inverted Conditionals, giáo viên hướng dẫn giới thiệu các cấu trúc đảo ngữ bằng cách đưa các trợ động từ "Should", "Were" hoặc "Had" lên đầu câu nhằm tăng tính trang trọng cho văn phong. Quy trình làm bài đòi hỏi việc đối chiếu sự hòa hợp về thì giữa vế giả định và vế chính để xác định loại câu điều kiện phù hợp.
Bắt đầu từ ngày 20.4, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, Quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 27.4 đến 2.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026