Phát biểu tại sự kiện ra mắt, bác sĩ (BS) CKI Trần Thị Minh Nguyệt, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Dinh dưỡng TP.HCM, nêu thực trạng: Chúng ta đang sống trong một thời đại mà việc tiếp cận thông tin sức khỏe trở nên quá dễ dàng. Người dân đang đối mặt với nhiều kinh nghiệm truyền miệng chưa được kiểm chứng hay những trào lưu dinh dưỡng phản khoa học trên mạng xã hội. Mỗi ngày, có rất nhiều video clip của rất nhiều người tự xưng là bác sĩ – chưa được xác thực – mà người dân không có công cụ, cơ sở gì để kiểm chứng. Việc tiếp cận nhiều thông tin là một thuận lợi, song không đồng nghĩa chúng ta sẽ hiểu đúng các thông tin đó. Do vậy, điều cấp thiết hiện nay là xây dựng một “màng lọc” khoa học, một nguồn tham chiếu tin cậy để cộng đồng có thể hiểu đúng và áp dụng đúng.
Xuất phát từ thực tế đó, Hội đồng Dinh dưỡng khoa học ứng dụng quy tụ đội ngũ gần 20 chuyên gia là các phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ uy tín trong lĩnh vực dinh dưỡng, giàu kinh nghiệm công tác tại các bệnh viện và cơ sở y tế lớn trên cả nước được thành lập với mong muốn xây dựng một diễn đàn khoa học chính thống, khách quan, sử dụng nền tảng y học chứng cứ để thẩm định các xu hướng dinh dưỡng, giúp cộng đồng phân biệt rõ ràng giữa kiến thức khoa học và tin đồn thiếu căn cứ.
“Một nghiên cứu năm 2026 trên hơn 3.500 người Việt có trình độ đại học trở lên cho kết quả 85,5% có thể tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến, nhưng 67,3% chưa đủ năng lực đánh giá và áp dụng chính xác vào thực tế. Tình trạng này đặc biệt rõ ở nhóm phụ huynh – những người có nhu cầu tìm hiểu dinh dưỡng cao. Theo khảo sát Vietnam Digital Mom 2025, có đến 64% bà mẹ thường xuyên đọc blog, website nuôi con, 68% tin vào “review online” và 47% tham khảo các hội nhóm mạng xã hội. Điều này phản ánh sức mạnh truyền thông số, song cũng là khởi đầu của nhiều trào lưu dinh dưỡng phi khoa học hoặc chưa kiểm chứng, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ”, BS Nguyệt dẫn chứng.
Như được “bắt trúng mạch”, rất nhiều bà mẹ có mặt tại sự kiện thừa nhận mình từng là “nạn nhân” của rất nhiều thông tin, lời khuyên nuôi con trên mạng. Người dẫn chương trình Liêu Hà Trinh chia sẻ: Khi sinh bé đầu tiên, cô đã được trực tiếp Th.S-BS CKII Phạm Công Luận đưa lời khuyên “sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đặc biệt trong 6 tháng đầu đời”. Tuy nhiên, vì công việc bận rộn, Liêu Hà Trinh nhanh chóng bị mất sữa và chỉ có thể cho bé uống sữa mẹ vài tháng đầu. Sau đó, giữa hàng ngàn loại sữa công thức nhập khẩu trên thị trường cùng các loại thuốc bổ sung sức đề kháng, mong con “hay ăn, chóng lớn”, bà mẹ trẻ đã phải “ôm” hết các sản phẩm đến gặp bác sĩ để nhờ tư vấn.
Đồng cảm, bà mẹ 3 con Phương Trinh Jolie cũng kể bản thân bị mất sữa sớm và cho con dùng sữa công thức từ tháng thứ 3. Nhận thấy con sinh mổ, sức đề kháng yếu hơn bé sinh thường, cô đã “nằm vùng” ở rất nhiều trang tư vấn trên mạng xã hội, xem review và mua rất nhiều sản phẩm hỗ trợ tăng đề kháng cho con, đặc biệt là sữa. Thực tế, em bé nhà Phương Trinh Jolie sau khi sử dụng sản phẩm bổ sung đúng là có khỏe hơn và ít bệnh vặt hơn thật. Tuy nhiên, điều này khiến “mẹ bỉm” hoang mang, không biết những trường hợp tăng nhanh như vậy nghĩa là thế nào, có thực chất con đã tăng được sức đề kháng hay không.
Tại Hội thảo “Tiêu hóa và Miễn dịch” trong khuôn khổ sự kiện, tất cả các băn khoăn, thắc mắc, câu hỏi của các “mẹ bỉm” đã được “siêu Hội đồng” gồm Th.S-BS CKII Phạm Công Luận; TTƯT- BS Trương Hữu Khanh; TTƯT- BS Đặng Thị Kim Huyên, PGS-TS-BS Lê Thị Minh Hương; TS-BS Lưu Thị Mỹ Thục giải đáp một cách đầy khoa học và dễ hiểu.
Sau khi lắng nghe nhiều thắc mắc của các “mẹ bỉm”, BS Trương Hữu Khanh nhận xét: Xu hướng các bà mẹ hiện nay đang quá lo lắng với việc con nhỏ dễ bị ốm và lựa chọn thực phẩm bổ sung để bé đủ dinh dưỡng (đủ theo khái niệm của mẹ). Theo BS Khanh, trẻ nhỏ dễ ốm là chuyện rất bình thường và một đứa trẻ không hoàn hảo về miễn dịch khi thiếu đi một vài vi chất cũng là rất bình thường. Quan trọng nhất là các bà mẹ phải có được kênh thông tin chuẩn xác để tìm hiểu một cách chuẩn y khoa về dinh dưỡng cho con theo từng đặc điểm cơ thể riêng của đứa trẻ.
“Một số bà mẹ mua thuốc cho con uống, thấy con tăng cân, ít bệnh hơn thì có thể là may mắn thuốc đó cung cấp đúng vi chất mà bé đang thiếu. Nhưng đó chỉ là hên xui. Theo tôi, các phụ huynh đừng quá căng thẳng bây giờ mình phải chọn cái gì, loại nào, lo đi hỏi bác sĩ nhưng rồi lại gặp luôn ông “họa sĩ” vẽ vẽ một hồi là ba mẹ tối sầm mặt lại ngay, thấy ghê quá. Gặp đúng được bác sĩ thì chúng ta sẽ bình tĩnh hơn nhiều trong việc lựa chọn các sản phẩm và chăm sóc con”, BS Trương Hữu Khanh ví von.
Lắng nghe các bác sĩ chuyên khoa nhi và dinh dưỡng chia sẻ, PGS-TS Nguyễn Lân Hiếu, thành viên Hội đồng Dinh dưỡng khoa học ứng dụng – bày tỏ vô cùng tâm đắc. Là bác sĩ chuyên khoa tim mạch, BS Nguyễn Lân Hiếu cũng từng xử lý nhiều ca bệnh nhi mắc bệnh tim và cha mẹ chỉ nghe quảng cáo sản phẩm chỗ này chỗ kia rồi cho con uống thuốc với hy vọng hệ miễn dịch sẽ lập tức mạnh lên. Bên cạnh đó, thực trạng hiện nay là phụ huynh hay chạy theo quảng cáo, chú trọng việc con uống sữa xong tăng được bao nhiêu cân, bao nhiêu lạng một tháng. Ngày càng nhiều bệnh nhân trẻ dưới 30 tuổi bị nhồi máu cơ tim do béo phì – hệ quả từ chế độ ăn uống, chăm sóc sai từ nhỏ.
Do đó, BS Nguyễn Lân Hiếu khuyến cáo phụ huynh nên dựa vào các nghiên cứu khoa học bài bản, được công bố rộng rãi trên các tạp chí lớn để chọn lựa sản phẩm. Quan trọng nhất, khi phụ huynh không hiểu biết hoặc đứng trước quá nhiều luồng thông tin hỗn loạn, tốt nhất là nên hỏi các chuyên gia “người thật việc thật” tại các hội đồng chuyên môn có giá trị, thay vì lên Google hoặc hỏi chuyên gia AI.
BS CKI Trần Thị Minh Nguyệt nhấn mạnh: Hội thảo “Tiêu hóa và Miễn dịch” chỉ là bước khởi đầu trong hành trình. Thời gian tới, chuỗi hội thảo sẽ tiếp tục khai thác các chủ đề dinh dưỡng được quan tâm, hoặc phòng bệnh từ trong ruột, nhằm từng bước chuẩn hóa nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe. Đây sẽ là hành trình lâu dài, cần sự đồng hành của giới chuyên môn, truyền thông và toàn xã hội để tạo nên một biểu tượng khoa học đáng tin cậy cho cộng đồng.
Hàm lượng vitamin trong rau củ có thể giảm dần theo thời gian bảo quản. Thế nhưng, tốc độ hao hụt không giống nhau, phụ thuộc vào loại vitamin, đặc điểm của từng loại rau, nhiệt độ bảo quản và cách lưu trữ, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Một số vitamin khá nhạy cảm và dễ suy giảm sau khi thu hoạch. Nhưng bên cạnh đó, nhiều dưỡng chất khác vẫn được giữ tương đối tốt trong vài ngày, thậm chí lâu hơn nếu bảo quản đúng cách.
Vitamin dễ suy giảm nhất thường là vitamin C và B9. Đây đều là những vitamin tan trong nước và khá nhạy cảm với môi trường bên ngoài. Sau khi rau được thu hoạch, các tế bào thực vật vẫn tiếp tục hô hấp, tức dùng ô xy để chuyển hóa chất hữu cơ như đường, tinh bột thành năng lượng. Quá trình này khiến một phần vitamin bị phân hủy dần theo thời gian.
Vitamin C đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi ô xy, ánh sáng và nhiệt độ. Nếu rau bị cắt nhỏ trước khi cất vào tủ lạnh, bề mặt tiếp xúc với không khí tăng lên, khiến vitamin C hao hụt nhanh hơn. Vitamin B9 cũng có thể giảm nhưng thường chậm hơn vitamin C.
Trong khi đó, các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, vitamin E và vitamin K thường ổn định hơn. Ví dụ, cà rốt hay bí đỏ chứa beta-carotene, tiền chất của vitamin A, thường không mất đi nhanh chỉ sau vài ngày bảo quản lạnh.
Tốc độ mất vitamin còn phụ thuộc vào cấu trúc của từng loại rau củ. Rau lá mềm như xà lách, rau cải, rau thơm hoặc cải bó xôi thường mất nước nhanh hơn. Chúng cũng dễ bị dập nát trong quá trình vận chuyển và bảo quản, từ đó làm vitamin suy giảm nhanh hơn.
Ngược lại, các loại rau củ có cấu trúc cứng như cà rốt, bắp cải, củ cải hoặc bí đỏ thường giữ được chất lượng lâu hơn. Chúng ít bị mất nước hơn nên thời gian bảo quản trong tủ lạnh cũng dài hơn. Nếu rau củ bắt đầu héo rũ, úa vàng, mềm nhũn hoặc có mùi lạ, đó là dấu hiệu cho thấy chất lượng dinh dưỡng đã giảm và nguy cơ hư hỏng tăng lên.
Không chỉ thời gian, cách bảo quản cũng ảnh hưởng lớn đến hàm lượng vitamin. Nếu rửa rồi cất trong khi rau vẫn còn ướt, độ ẩm dư thừa có thể khiến rau nhanh hỏng hơn. Cắt sẵn rau trước khi bảo quản cũng làm rau tiếp xúc nhiều hơn với ô xy, khiến một số vitamin bị phân hủy nhanh hơn.
Ngoài ra, để rau ở khu vực nhiệt độ không ổn định trong tủ lạnh hoặc nhồi quá nhiều vào túi kín cũng có thể khiến chúng nhanh úng. Các chuyên gia an toàn thực phẩm thường khuyến nghị nên giữ rau củ ở nhiệt độ khoảng 0 - 4 độ C, bảo quản khô ráo và chỉ rửa ngay trước khi chế biến, theo Verywell Health.
Các chuyên gia y tế cảnh báo về một cuộc khủng hoảng y tế công cộng đang lan rộng tại Anh, khi tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhà vệ sinh công cộng đang đẩy người dân vào cảnh "khốn khổ", theo Independent.
Phân tích mới nhất từ Hiệp hội Y tế Công cộng Hoàng gia Anh (RSPH) cho thấy số lượng các cơ sở vệ sinh sụt giảm mạnh 14% kể từ năm 2016. Trung bình mỗi nhà vệ sinh công cộng tại Anh đang phải phục vụ cho hơn 15.000 người. Dữ liệu dựa trên phản hồi chính thức từ 221 trên tổng số 309 chính quyền địa phương tại Anh. Các khu vực này là nơi sinh sống của 47 triệu dân, chiếm khoảng 82% tổng dân số cả nước.
Tình trạng thiếu nhà vệ sinh đang dẫn đến nhiều tác động xấu, điển hình là nạn phóng uế nơi công cộng, khiến môi trường sống trở nên mất vệ sinh. Nhiều người dân vì lo ngại không tìm được nơi "giải quyết nỗi buồn" đã chọn cách ở nhà thay vì ra ngoài, gây ảnh hưởng đến doanh thu của các doanh nghiệp địa phương. Nhiều người thậm chí còn không dám uống nước khi ra đường, dễ khiến cơ thể bị thiếu nước.
Ông William Roberts, Giám đốc điều hành RSPH, cho hay sử dụng nhà vệ sinh công cộng là nhu cầu cơ bản của mọi người, vì vậy không cần phải e ngại khi đề cập đến vấn đề này. "Chỉ có một nhà vệ sinh cho mỗi 15.000 người là không thể chấp nhận được. Nếu không hành động, con số này sẽ còn tăng vọt khi các cơ sở vệ sinh cứ tiếp tục bị đóng cửa", ông nói, cho biết nhà vệ sinh công cộng là lý do khiến nhiều người ngại ra đường, hoặc khiến họ phải chấp nhận nhịn uống nước để khỏi phải tìm chỗ đi vệ sinh.
Theo ông Roberts, hệ quả của việc này không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân. Tình trạng thiếu hụt nhà vệ sinh công cộng tất yếu sẽ dẫn đến các hệ lụy về vệ sinh, tạo nên một môi trường kém văn minh và làm xuống cấp mỹ quan đô thị.
Để tăng số lượng, RSPH kêu gọi giao trách nhiệm cho các cơ quan quản lý mới trong việc đảm bảo hạ tầng vệ sinh tại các điểm công cộng, bằng ngân sách nhà nước. Tổ chức này cũng cho rằng các chủ đầu tư cần phải có trách nhiệm hơn. Họ kêu gọi ban hành các quy định bắt buộc xây nhà vệ sinh công cộng trong mọi dự án thương mại và dịch vụ.
Hiện nay, việc quyết định số lượng nhà vệ sinh cần thiết hoàn toàn phụ thuộc vào các hội đồng địa phương, dẫn đến sự chênh lệch rõ rệt so với các quốc gia khác trong vương quốc như Scotland hay xứ Wales, nơi tỷ lệ người dân trên mỗi nhà vệ sinh thấp hơn đáng kể.
Đại diện Hiệp hội Chính quyền Địa phương cho biết việc thiếu chỗ vệ sinh công cộng gây ảnh hưởng nặng nề hơn cả lên những nhóm người dễ bị tổn thương gồm người già, khuyết tật, có bệnh lý, trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người vô gia cư. Tuy nhiên, các hội đồng cũng đang đối mặt với bài toán kinh tế khi chi phí duy trì một nhà vệ sinh có thể lên tới 25.000 bảng Anh mỗi năm.
Bên cạnh đó, nạn phá hoại và các hành vi thiếu ý thức tại các điểm vệ sinh chung đang ngốn hàng triệu bảng từ ngân sách, buộc người đóng thuế phải gánh chịu chi phí cho việc vệ sinh và an ninh tăng cường. Mặc dù các mô hình hợp tác với doanh nghiệp tư nhân đã được triển khai song vẫn chưa thể lấp đầy khoảng trống khi các cửa hàng trên phố liên tục đóng cửa.
Người phát ngôn của Bộ Nhà ở, Cộng đồng và Chính quyền địa phương cho biết: "Để hỗ trợ các hội đồng cung cấp dịch vụ công như nhà vệ sinh, chúng tôi đã cấp ngân sách hơn 78 tỷ bảng Anh. Các lãnh đạo địa phương hoàn toàn có quyền tự quyết định cách chi tiêu hiệu quả nhất cho phần lớn số tiền này".
Ngày 19-6, TS Trần Đình Minh Huy - khoa khúc xạ Bệnh viện Mắt TP.HCM - cho biết tật khúc xạ là một trong năm nhóm bệnh trọng tâm của chương trình phòng chống mù lòa toàn cầu. Trong đó cận thị chiếm khoảng 2/3 đến 3/4 các trường hợp tật khúc xạ.
Vì vậy, cận thị hiện nay không chỉ là vấn đề điều chỉnh thị lực mà đã trở thành một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng.
Theo dự báo, đến năm 2050, khoảng 50% dân số thế giới sẽ mắc cận thị. Tuy nhiên tại khu vực Đông Á và Việt Nam, con số này có thể lên tới gần 2/3 dân số. Đồng thời dự kiến có khoảng 3 tỉ người trên thế giới trong độ tuổi lao động trên toàn cầu mắc cận thị và cần được kiểm soát.
Đáng chú ý, khoảng 1 tỉ người sẽ mắc cận thị nặng vào năm 2050 trên toàn thế giới. Khi đó cận thị không còn đơn thuần là việc đeo kính để cải thiện thị lực mà sẽ đi kèm với nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng có thể dẫn đến mù lòa, tạo ra gánh nặng rất lớn về kinh tế và xã hội.
Ngày nay, khái niệm "vùng an toàn của cận thị" gần như không còn tồn tại. Mỗi một độ cận tăng thêm đều đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh lý đáy mắt và các biến chứng gây suy giảm thị lực.
Nguyên nhân là do cận thị liên quan trực tiếp đến sự kéo dài của trục nhãn cầu. Độ cận càng cao thì nhãn cầu càng bị kéo giãn, làm tăng nguy cơ tổn thương võng mạc và các cấu trúc quan trọng khác của mắt.
Bác sĩ Huy cho hay các nghiên cứu quốc tế cho thấy mỗi độ cận tăng thêm làm tăng khoảng 67% nguy cơ liên quan đến một bệnh lý mù lòa. Ngược lại, nếu kiểm soát được mỗi độ cận, nguy cơ phát triển các bệnh lý gây mù có thể giảm khoảng 40%. Điều đó cho thấy việc kiểm soát cận thị có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm gánh nặng mù lòa cho cộng đồng trong tương lai.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tại Hà Nội và TP.HCM cũng cho thấy tỉ lệ cận thị ở học sinh đã dao động từ 50 - 60% (thời điểm 2021 - 2025). Điều đó phản ánh thực trạng cận thị đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng cấp thiết.
Một dấu mốc quan trọng khác là năm 2024, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã bắt đầu xem xét việc công nhận cận thị là một bệnh lý mạn tính thay vì chỉ là một tật khúc xạ đơn thuần. Điều này cho thấy cách tiếp cận đối với cận thị trên thế giới đang thay đổi mạnh mẽ.
"Có thể khẳng định rằng cận thị đang là một vấn đề sức khỏe toàn cầu với nguy cơ gây mù lòa và gánh nặng kinh tế ngày càng gia tăng. Việc kiểm soát cận thị, đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên, là xu hướng tất yếu của ngành nhãn khoa hiện đại", TS Huy nói.
Bệnh viện Mắt TP.HCM đi theo hướng rất mới đang triển khai là kiểm soát tiền cận thị, tức là can thiệp sớm ngay từ khi trẻ có nguy cơ cao phát triển cận thị.