Chia sẻ với PV Người Đưa Tin, ông Nguyễn Văn Long, Phó Ban Quản lý di sản Thành Nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa cho hay, sâm Báo được mệnh danh là “Đại Việt đệ nhất danh sâm”.
Cây sâm ngày xưa kia mọc hoang trên núi Báo, thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc – nay là xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa. Tương truyền, vào năm 1397, để nhanh chóng dời đô từ Thăng Long về đất An Tôn, Hồ Quý Ly sai lính ngày đêm đào thành, đắp lũy. Việc khai thác, vận chuyển những phiến đá nặng hàng chục tấn từ triền núi về lắp ghép thành bức tường sừng sững cao đến 3-4 m mà không có máy móc hỗ trợ đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện và tốn nhiều công sức.
Việc xây dựng thành gặp nhiều khó khăn, không đáp ứng được tiến độ. Tuy nhiên, có một nhóm thợ ở làng Biện Thượng, xã Vĩnh Hùng cũ làm việc không biết mệt, năng suất cao. Khi hỏi ra mới biết, nhóm thợ này uống nước một loại cây mọc tự nhiên trên núi. Vua sai người đi tìm, dùng loại sâm này bồi bổ sức khỏe cho hoàng gia và quan lại. Từ đó, cây sâm được đặt tên là sâm Báo.
Ông Trịnh Việt Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Biện Thượng, cho biết, trước đây, huyện Vĩnh Lộc đã có đề án bảo tồn và phát triển cây sâm Báo. Dự án được triển khai tại chân núi Báo, đạt được những thành công bước đầu thì bỏ cấp huyện. Thời gian tới, xã Biện Thượng sẽ làm chỉ dẫn địa lý và phát triển cây sâm trở thành cây chủ lực của địa phương.
Theo ông Cường, sâm Báo hoa vàng có giá trị cao, mỗi kg sâm có giá thị trường từ 1,2 – 1,5 triệu/kg, cầu vẫn vượt cung, không có hàng để bán. Sâm Báo là cây trồng hàng năm, mang lại giá trị kinh tế cao, nhưng thường bị chứng bệnh thối củ rễ. Bệnh này xuất hiện vào tháng thứ 5-6, khi cây đã có củ, hiện vẫn chưa có thuốc phòng và trị bệnh.
Tại xã Biện Thượng và vùng phụ cận trước đây có khoảng 10ha. Sâm Báo là cây trồng thời vụ, thường từ 6-12 tháng sẽ cho thu hoạch, nếu để càng nhiều tuổi thì củ sâm càng tăng giá trị. Tuy nhiên, do cây sâm thường bị bệnh thối củ rễ, khiến cây chết đồng loạt nên trồng sâm dù cho thu hoạch cao, nhưng bấp bênh.
Dù trước đây bị người dân săn lùng khai thác, nhưng vẫn bảo tồn được giống là nhờ đặc tính rất đặc biệt của hạt sâm. Cây sâm mọc dưới tán rừng keo, khi cây sâm ra hoa, trổ hạt, già đi, hạt sâm sẽ rụng xuống đất. Hạt sâm có lớp vỏ rất cứng và dày, dù nắng mưa cũng không bị thối. Khai thác keo xong, người dân đốt vườn, hạt sâm gặp lửa sẽ bị nứt ra, gặp mưa xuống cây sâm sẽ nảy mầm sinh sôi phát triển. Nhờ đặc tính này, sâm Báo vẫn giữ được nguồn ren và mọc hoang dại ngoài tự nhiên cho tới ngày nay.
“Hiện tại, sâm Báo mới sử dụng để làm quà biếu ngâm rượu, làm thực phẩm như xay để ăn, nhưng chưa chế biến sâu được. Thời gian tới, địa phương sẽ kêu gọi nhà đầu tư vào làm dự án, chế biến sâu, nhằm nâng cao giá trị cây sâm Báo”, Phó Chủ tịch UBND xã Biện Thượng chia sẻ.
Dẫn phóng viên ra thăm vườn sâm của gia đình, anh Lê Văn Long, trú tại thôn Nhật Quang, xã Vĩnh Lộc cho biết, gia đình anh trồng sầm Báo hoa vàng nhiều năm nay. Trước đây, trồng sâm bằng phương pháp truyền thống lên luống ở ruộng, được 5-6 tháng cây bị bệnh thối củ rễ và chết rụi. Khi một cây bị bệnh thì lây lan ra cả ruộng, rất khó kiểm soát và xử lý.
Để hạn chế việc cây sâm bị bệnh, gần đây, anh Long áp dụng phương pháp mới, lấy đất ở ruộng trộn với giá thể và phân bón làm bầu để trồng sâm. Phương pháp này giúp phòng ngừa bệnh hiệu quả, cây sâm phát triển tốt, hiệu quả kinh tế từ cây sâm cao hơn trước. Hiện, gia đình anh Long có hơn 200 bầu sâm, dự kiến cho thu nhập khoảng 250 – 300 triệu đồng.
Nhà ở chân núi báo, hàng chục năm nay, ông Nam đều gắn bó với cây sâm Báo. Theo ông Nam, cây sâm Báo rất khó trồng, thường bị chết vì bệnh thối củ rễ. Dù giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường rất lớn, nhưng ít người trồng, không có sâm để bán. Năm nay gia đình ông Nam dự kiến trồng khoảng 2.000 gốc sâm trên bầu.
Sâm Báo lá tròn, không chia thùy, hoa màu vàng. Mỗi kg sâm thành phẩm đạt độ tuổi (6 – 12 tháng) có giá bán từ 1,2 – 1,5 triệu đồng. Sâm gia đình ông Nam trồng được ít khi bán ra thị trường mà cung cấp cho người quen đặt hàng.
Ông Quách Văn Hải, Chủ tịch HĐQT HTX Sâm Báo Hoa Vàng, cho biết, núi Báo được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu… rất thuận lợi cho cây sâm Báo sinh trưởng và phát triển. Sau khi trồng thí nghiệm đạt hiệu quả tốt, để hạn chế, khắc phục việc cây sâm bị bệnh thối củ rễ, chết hàng loạt khi sắp đến thời kỳ thu hoạch, HTX đã đưa cây sâm Báo trồng ở ruộng lên bầu.
Khi đưa cây sâm trồng trên bầu thì sẽ kiểm soát được dịch bệnh, nếu cây bị bệnh thì dễ xử lý, tránh lây lan khiến sâm bị chết hàng loạt. Dự kiến năm 2026, HTX sẽ trồng 10.000 cây sâm Báo trên bầu, hiện đã trồng được hơn 3.000 cây.
Theo ông Hải, từ khi trồng đến tháng thứ 6, sâm Báo có thể thu hoạch, nhưng cây sâm có giá trị tốt nhất, đạt tiêu chuẩn từ 12 tháng trở lên, sâm càng già thì chất lượng và giá thành càng tăng.
Ông Trần Đức Minh – quê Thanh Hóa, một người nặng lòng và có nhiều năm gắn bó với cây sâm Báo. Ông Minh chia sẻ, năm 2017, ông về quê dự hội nghị xúc tiến đầu tư và đi khảo sát phát triển cây dược liệu tại địa phương. Khi đến mảnh đất Vĩnh Lộc, tìm hiểu thông tin và tiếp xúc với cây sâm Báo, ông Minh quyết định làm dự án để bảo tồn và phát triển loài cây này.
Tuy nhiên, khi trồng và phát triển cây sâm, cũng giống như các hộ dân, ông Minh nhiều lần gặp khó khăn, thất bại. Cây sâm rất dễ trồng, nhu cầu thị trường cao, nhưng tới tháng thứ 5-6, sắp đến thời kỳ thu hoạch cậy lại bị bệnh thối củ rễ, chết hàng loạt.
Qua nhiều lần thất bại, đúc rút kinh nghiệm, hiện tại ông Minh đã áp dụng công nghệ trồng cây trên bầu, nhằm khắc phục, hạn chế bệnh thối củ rễ của cây sâm.
Sau khi thu hoạch cây sâm, rễ, thân, lá và củ không đạt chất lượng sẽ được xay nhuyễn trộn với cám để nuôi gà. Gà nuôi sâm sẽ được chế biến thành gà tần, phở, lẩu… Đây là một hướng đi mới để mới tạo thương hiệu, tận dụng và nâng cao giá trị cây sâm Báo.
Từ lâu, xã vùng biển Vĩnh Hoàng đã có truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Sự tương thân tương ái này càng nhân lên khi sáp nhập bốn xã vùng biển này về một nhà.
Không cần những lời kêu gọi lớn lao, chỉ cần một gia đình gặp khó khăn, có người đau ốm, hoạn nạn hoặc bận việc tang gia đúng thời điểm thu hoạch, hàng chục hội viên sẵn sàng gác lại công việc riêng để đến giúp đỡ.
Chị Nguyễn Thị Loạn - chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Phường Duyệt - cho biết chi hội có 186 hội viên. Những năm qua, việc hỗ trợ nhau trong sản xuất đã trở thành nếp quen thuộc của chị em. Mỗi khi có hội viên gặp hoàn cảnh đặc biệt, thông tin được chia sẻ qua nhóm liên lạc của chi hội, mọi người sẵn sàng sắp xếp việc riêng để chung tay giúp sức.
Một trong những trường hợp khiến nhiều người nhớ mãi là gia đình anh Võ Văn Phong. Đúng vào thời điểm lúa đã chín vàng, gia đình sẵn sàng thu hoạch thì mẹ anh qua đời.
Trong lúc gia đình anh tập trung lo hậu sự, hơn 40 hội viên phụ nữ cùng nông dân trong thôn đã gặt giúp anh 6 sào lúa. Anh Phong xúc động cho biết nếu không có sự hỗ trợ của bà con, lúa chín quá ngày dễ đổ ngã, thất thoát, ảnh hưởng lớn đến kinh tế gia đình. "Gia đình tôi thực sự rất cảm động", anh Phong chia sẻ.
Sự tương trợ này còn trở thành chỗ dựa cho nhiều gia đình có người đau ốm dài ngày. Cuối tháng 5 vừa qua, chị Nguyễn Thị Duyên có chồng bị bệnh phải điều trị tại TP Huế. Trong khi đó ruộng lạc đã đến thời điểm phải thu hoạch gấp.
Chỉ trong một buổi sáng, khoảng 40 hội viên phụ nữ đã cùng nhau nhổ lạc, bó gọn, vận chuyển lên xe đưa về nhà. Gia đình chị Trần Thị Quý cũng từng nhận được sự hỗ trợ đầy nghĩa tình từ hội viên phụ nữ. Khi chị Quý phải thường xuyên chăm sóc chồng điều trị bệnh tại TP Huế, vườn tiêu đến kỳ thu hoạch.
Nhận được thông tin, chi hội đã huy động 30 hội viên đến hái tiêu. Chỉ trong buổi sáng, 150kg tiêu được thu hoạch xong. Bà Nguyễn Thị Hải - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Vĩnh Hoàng - chia sẻ chính tinh thần đoàn kết, sẻ chia đã góp phần gắn kết cộng đồng sau khi sáp nhập. Từ những việc làm cụ thể, nhiều hội viên trước đây ít tham gia hoạt động tập thể nay đã tích cực hơn, sẵn sàng chung tay khi bà con cần giúp đỡ.
Giữa nhịp sống hiện đại, những hình ảnh hàng chục người cùng xuống đồng gặt lúa, nhổ lạc hay hái tiêu giúp nhau vẫn âm thầm diễn ra ở Vĩnh Hoàng. Sự sẻ chia chân thành ấy đã làm nên những "mùa vàng" của tình người, để mỗi khi ai đó gặp khó khăn, họ biết rằng bên cạnh mình luôn có những vòng tay sẵn sàng nâng đỡ.
Tử Cấm Thành là quần thể cung điện nằm ở trung tâm Bắc Kinh, từng là nơi ở và điều hành triều chính của các hoàng đế nhà Minh và nhà Thanh suốt hơn 500 năm.
Với diện tích khoảng 720.000 m², đây được xem là biểu tượng quyền lực tối cao của hoàng gia Trung Hoa thời phong kiến.
Được xây dựng từ năm 1406 đến 1420, Tử Cấm Thành gồm gần 1.000 công trình lớn nhỏ với kiến trúc nguy nga, phản ánh sự xa hoa và đỉnh cao nghệ thuật cung đình Trung Hoa.
Năm 1987, công trình được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và là quần thể kiến trúc gỗ cổ được bảo tồn tốt hàng đầu thế giới.
Điều đáng nói dưới thời phong kiến Trung Quốc, nhiều thiếu nữ bước chân vào hoàng cung với giấc mơ đổi đời, mong một ngày được vua để mắt tới. Thế nhưng phía sau vẻ hào nhoáng của chốn cung đình lại là cuộc sống đầy áp lực, cô độc và bi kịch mà không phải ai cũng có thể chịu đựng.
Theo quy định trong cung, những cung nữ thuộc Bát Kỳ thường được tuyển chọn từ khi chưa đến 15 tuổi để vào Tử Cấm Thành hầu hạ hoàng đế và các phi tần. Nếu đến năm 25 tuổi mà vẫn không được phong phi hoặc thăng chức, họ sẽ bị buộc rời khỏi hoàng cung.
Tuy nhiên, rời cung không đồng nghĩa với việc có cuộc sống tốt đẹp hơn. Trái lại, phần lớn cung nữ khi trở về dân gian đều rơi vào cảnh cô độc, rất ít người được hỏi cưới. Không ít đàn ông thời đó thậm chí còn e ngại việc kết hôn với những phụ nữ từng sống trong hoàng cung.
Nguyên nhân xuất phát từ cuộc sống khắc nghiệt mà các cung nữ phải trải qua suốt nhiều năm. Trong hồi ký Nửa đời trước của tôi, Phổ Nghi từng mô tả cuộc sống trong cung vô cùng ngột ngạt và áp lực.
Các cung nữ phải làm việc liên tục, tuyệt đối không được phạm sai lầm, luôn sống trong tâm trạng căng thẳng và lo sợ bị trách phạt.
Sự thiếu thốn dinh dưỡng cùng áp lực tinh thần kéo dài khiến nhiều người suy kiệt cả thể chất lẫn tâm lý. Theo quan niệm thời đó, nhiều đàn ông tin rằng cưới cung nữ sẽ khó sinh con hoặc con cái không khỏe mạnh, nên thường tránh kết hôn với họ.
Trong xã hội phong kiến, việc sinh con nối dõi được xem là trách nhiệm lớn nhất của người phụ nữ. Vì vậy, những cung nữ từng sống lâu năm trong cung thường bị nhìn bằng ánh mắt dè chừng và khó có cơ hội xây dựng gia đình bình thường sau khi rời khỏi hoàng cung.
Đức Linh người từng được Từ Hi Thái hậu yêu quý cũng từng nhắc đến số phận bi thương của nhiều cung nữ sau khi xuất cung. Nhiều người rơi vào trạng thái lạc lõng, mất phương hướng và không biết phải bắt đầu cuộc sống mới như thế nào sau quãng thời gian dài bị giam mình trong chốn cung đình.
Hòa trong tiếng cồng chiêng vang vọng, lễ cưới truyền thống của đồng bào Chăm Hroi được tái hiện sống động tại làng Canh Tiến, xã Canh Vinh (Gia Lai), thu hút đông đảo du khách.
Đây là điểm nhấn trong chuỗi sự kiện “Điểm hẹn Canh Tiến - Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên” diễn ra ngày 25-26/4, nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia - Gia Lai 2026.
Không chỉ là hoạt động văn hóa, sự kiện còn mở ra không gian trải nghiệm đậm bản sắc, nơi du khách được “nghe núi rừng kể chuyện” qua những nghi lễ cổ xưa được phục dựng gần như nguyên bản.
Canh Tiến từng là ngôi làng biệt lập giữa đại ngàn. Để vào đây, người dân phải đi đò vượt hồ Núi Một hoặc băng rừng, qua đèo Nha Sam hiểm trở. Giờ đây, khi hạ tầng giao thông được đầu tư, điện lưới quốc gia phủ tới, diện mạo làng đã có nhiều đổi thay.
Theo lãnh đạo xã Canh Vinh, không chỉ chuyển mình về kinh tế - xã hội, Canh Tiến còn là nơi hội tụ văn hóa của đồng bào Ba Na, Chăm, cùng hệ sinh thái suối, rừng còn khá nguyên sơ, giàu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng.
Người Chăm Hroi ở Canh Tiến theo chế độ mẫu hệ nên lễ cưới được tổ chức tại nhà gái. Trước ngày cưới, em gái cô dâu cùng đại diện nhà gái sang nhà trai để thay cô dâu thực hiện nghi thức "bắt chồng".
Sau đó, lễ cúng cưới chính thức được diễn ra trước sự chứng kiến của họ hàng hai bên và bản làng. Nghi thức này được những ông Chơ No (ông mai mối) hai bên đảm nhiệm.
Điểm khiến nhiều du khách thích thú chính là các lễ vật trong lễ cưới. Không cầu kỳ, xa xỉ, tất cả đều gắn với đời sống thường nhật nhưng mang giá trị biểu trưng sâu sắc. Một mâm lễ cơ bản gồm ghè rượu, gà, nồi đồng, vòng tay, kiềng bạc, sáp ong, trầu cau và thau đồng đựng nước. Mỗi vật phẩm không chỉ là sính lễ mà còn thể hiện sự gắn kết, lời chúc về cuộc sống đủ đầy, bền chặt của đôi vợ chồng trẻ.
Theo ông Vũ Trọng Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Canh Vinh, việc phục dựng lễ cưới truyền thống của người Chăm Hroi không chỉ nhằm tạo điểm nhấn cho du lịch mà còn góp phần gìn giữ một nghi lễ độc đáo đang dần mai một.
Mỗi nghi thức, mỗi lễ vật trong lễ cưới đều chứa đựng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và quan niệm sống của cộng đồng, cần được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ trẻ.
“Thông qua việc tái hiện, chúng tôi mong muốn giúp người dân, đặc biệt là lớp trẻ hiểu hơn về phong tục của dân tộc mình, từ đó nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa”, ông Tiến nói.
Ông cũng cho rằng thông qua chuỗi sự kiện "Điểm hẹn Canh Tiến - Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên" là cơ hội quảng bá hình ảnh Canh Tiến, một vùng đất giàu bản sắc, thân thiện và giàu tiềm năng; đồng thời từng bước xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, nâng cao đời sống người dân.
“Quan trọng hơn, đây là dịp khơi dậy niềm tự hào văn hóa, để mỗi người dân trở thành một đại sứ du lịch cho quê hương”, ông Tiến nhấn mạnh.