Theo Hãng tin AP ngày 19-7, Bộ Tư pháp Mỹ hôm 15-7 đã đệ đơn lên Tòa án trục xuất khủng bố nước ngoài (Alien Terrorist Removal Court – ATRC), đề nghị trục xuất một cá nhân không được công khai danh tính.
Đây là đơn đầu tiên mà tòa án này tiếp nhận kể từ khi được thành lập theo Đạo luật Chống khủng bố và thi hành án tử hình hiệu quả năm 1996.
Trong phản hồi được đăng trên website của tòa, Chánh án Joan Ericksen cho biết ATRC đã tổ chức phiên điều trần đầu tiên vào ngày 16-7.
Tuy nhiên bà Ericksen cho biết hội đồng xét xử còn băn khoăn về mối liên hệ giữa các hành vi của người bị đề nghị trục xuất với những điều khoản pháp luật mà chính phủ viện dẫn.
Theo bà, phần giải trình tại phiên điều trần cho thấy Bộ Tư pháp cần thêm thời gian để cân nhắc và hoàn thiện lập luận.
Chánh án đã yêu cầu chính phủ bổ sung thêm thông tin trước ngày 22-7.
Theo luật liên bang Mỹ, tổng chưởng lý hoặc thứ trưởng Tư pháp có thể nộp đơn mật lên ATRC để đề nghị trục xuất một người bị nghi là “người nước ngoài khủng bố”.
Nếu đơn được chấp nhận, tòa sẽ mở phiên điều trần công khai, trong đó chính phủ phải chứng minh người này đáp ứng định nghĩa theo luật.
Một cá nhân có thể bị xếp vào diện này nếu từng tham gia hoạt động khủng bố, công khai ủng hộ hoặc cổ xúy các hoạt động khủng bố, hoặc là thành viên của một tổ chức chính trị hay xã hội khuyến khích khủng bố.
Theo Trung tâm Tư pháp Liên bang Mỹ, ATRC chưa từng nhận bất kỳ đơn yêu cầu nào hay tổ chức phiên điều trần nào cho đến tuần trước. Tòa gồm năm thẩm phán do Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ John Roberts chỉ định.
Động thái mới diễn ra trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Donald Trump tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch trục xuất người nhập cư.
Năm 2025, chính quyền đã viện dẫn Đạo luật Kẻ thù từ nước ngoài năm 1798 để trục xuất những người di cư Venezuela mà giới chức cáo buộc có liên hệ với một băng nhóm bị coi là tổ chức khủng bố.
Đạo luật này cho phép giam giữ và trục xuất các công dân của một quốc gia bị coi là kẻ thù.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử nước Mỹ, chính quyền mới chỉ áp dụng văn bản này ba lần và tất cả đều liên quan đến những cuộc xung đột quân sự lớn.
Tại một phiên điều trần liên quan đến vụ việc này vào năm ngoái, Thẩm phán liên bang James Boasberg từng nhận định ATRC mới là cơ quan phù hợp để xem xét các yêu cầu trục xuất dựa trên lý do an ninh quốc gia, thay vì các tòa án liên bang thông thường. Ông cho biết Quốc hội đã lập ra tòa này để xử lý chính những trường hợp như vậy.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường

Tuổi Trẻ Online giới thiệu toàn văn "Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ấn Độ"
1. Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Shri Narendra Modi, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 7-5-2026. Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Đoàn doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cũng tham gia.
2. Ngày 6-5-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón chính thức tại Phủ Tổng thống; đặt vòng hoa tại Khu tưởng niệm Mahatma Gandhi; dự hội đàm, chiêu đãi của Thủ tướng Narendra Modi, cùng Thủ tướng Modi chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác; hội kiến và dự chiêu đãi của Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã phát biểu tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ; dự và phát biểu tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Ấn Độ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng thăm thành phố Mumbai và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo bang, tiếp một số doanh nghiệp; dự và phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ.
3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã có cuộc hội đàm toàn diện trong không khí thân tình, cởi mở. Hai lãnh đạo đã trao đổi về quan hệ song phương và vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm. Thủ tướng Modi chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội khóa XVI tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam và bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những bước tiến vững chắc trong quá trình phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Thủ tướng Narendra Modi về những thành tựu phát triển đất nước, nổi bật là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và hợp tác phương Nam toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh, việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước, với Ấn Độ là "tầm nhìn Ấn Độ phát triển vào năm 2047" và "mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao đến năm 2045".
4. Hai lãnh đạo chia sẻ quan điểm về những diễn biến mang tính bước ngoặt trong cục diện khu vực và toàn cầu, khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ hai nước dựa trên sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, tầm nhìn chung và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", với mong muốn biến ý chí thành kết quả cụ thể.
5. Hai bên ghi nhận năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ và nhất trí tổ chức kỷ niệm dưới các hình thức phù hợp. Hai bên hoan nghênh những tiến triển trong quan hệ song phương trong thập kỷ qua và nhất trí triển khai hiệu quả các kết quả đạt được nhân các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao gần đây, bao gồm Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tháng 8 năm 2024, Tầm nhìn chung Ấn Độ - Việt Nam vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người năm 2020, và kết quả của các cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước. Lãnh đạo hai nước nhất trí duy trì tiếp xúc thường xuyên ở tất cả các cấp, trong đó đặc biệt là tiếp xúc cấp cao.
6. Hai bên ghi nhận việc thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Ấn Độ - Việt Nam tại Quốc hội Ấn Độ, và hoan nghênh việc tăng cường hợp tác giữa Quốc hội hai nước; tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn nghị sĩ hai nước tại các diễn đàn đa phương, bao gồm Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
7. Hai bên đánh giá cao việc đối thoại và hợp tác thường xuyên trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác hiện có trong nhiều lĩnh vực; góp phần củng cố lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Trên tinh thần đó, hai bên nhấn mạnh Tham vấn Chính trị và Đối thoại Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học là trụ cột quan trọng thúc đẩy quan hệ song phương; tổ chức thường xuyên các cơ chế về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, hợp tác mạng, khoa học, công nghệ, vũ trụ, năng lượng nguyên tử; đồng thời hướng tới thiết lập Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2).
8. Lãnh đạo hai nước nhất trí xúc tiến triển khai hiệu quả Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028 và Tuyên bố chung này.
9. Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai nền kinh tế đang phát triển nhanh; trong đó phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ. Trên nền tảng gia tăng thương mại song phương 10 năm qua, hai bên nhấn mạnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa thương mại hai chiều theo hướng cân bằng và cùng có lợi, nhất trí đặt mục tiêu đạt 25 tỉ USD vào năm 2030.
10. Hai bên nhất trí sẽ tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa nước này tiếp cận thị trường nước kia, bao gồm nông sản. Hai bên hoan nghênh quyết định mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, và nhất trí thúc đẩy việc mở cửa thị trưởng cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ thông qua xúc tiến tham vấn song phương để xử lý các vấn đề kỹ thuật.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có chung lợi ích. Việt Nam khẳng định cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp thiết lập môi trường thể chế thuận lợi để tạo điều kiện hơn cho doanh nghiệp hai nước, bao gồm vấn đề giấy chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy các cơ chế song phương để duy trì đối thoại mang tính xây dựng nhằm giải quyết các quan tâm chung.
12. Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm hoàn tất việc rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA) trên tinh thần bảo đảm lợi ích chung, tạo thuận lợi thương mại và phù hợp với thông lệ thương mại toàn cầu hiện nay.
13. Hai bên nhất trí thúc đẩy đầu tư hai chiều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, giao thông, sản xuất, logistics, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, xe điện và công nghệ thông tin, y tế, nông nghiệp và chế biến nông sản, thủy sản, du lịch và dịch vụ, và một số lĩnh vực khác. Hai bên nhất trí tăng cường liên kết giữa các hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hợp tác giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo.
14. Hai bên đánh giá cao hợp tác nhiều thập kỷ qua giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực thăm dò dầu khí; trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa các hoạt động thăm dò và khai thác, bao gồm phát triển các giếng mới mà Ấn Độ quan tâm tham gia, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
15. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử và kinh tế số, nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực này thông qua chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), tham gia thương mại điện tử sâu và bền vững hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
16. Hai bên tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác y tế. Trên cơ sở các thành tựu của ngành dược phẩm Ấn Độ, hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp để thúc đẩy khả năng tham gia của các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc đấu thầu mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027, trên cơ sở thỏa thuận của hai bên. Ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ, hai bên khuyến khích hợp tác chuyển đổi số trong ngành y, bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y tế.
17. Trên cơ sở lịch sử lâu đời và di sản phong phú của y học cổ truyền tại hai nước, hai bên nhất trí thúc đẩy trao đổi kiến thức, tăng cường hợp tác nghiên cứu và chia sẻ thực hành, khuyến khích liên kết giữa các cơ quan, tổ chức liên quan. Hai bên hoan nghênh tiến triển trong việc hoàn thiện Bản ghi nhớ về y học cổ truyền và đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) tại Việt Nam.
18. Hai bên tái khẳng định hợp tác quốc phòng và an ninh là trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ; ghi nhận việc triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Đối tác Quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2030, cho đây là cơ sở định hướng hợp tác quốc phòng hai nước thời gian tới.
19. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác và mở rộng các hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng truyền thống và mới nổi, bao gồm đối thoại chính sách quốc phòng, diễn tập chung, tham vấn giữa các cơ quan tham mưu, nghiên cứu chung và đồng sản xuất các công nghệ quốc phòng mới, tăng cường các chuyến thăm của tàu hải quân và máy bay không quân, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, chia sẻ thông tin, hợp tác thủy đạc, tổ chức triển lãm quốc phòng, xây dựng năng lực, thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng, tăng cường an ninh và an toàn hàng hải, phối hợp trong các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, trên cơ sở lợi ích và ưu tiên chung, đóng góp cho ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên nhất trí tăng cường mua sắm quốc phòng giữa hai nước.
20. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
21. Hai bên tỏ hài lòng về việc triển khai các thỏa thuận quốc phòng song phương, bao gồm Thỏa thuận tương trợ hậu cần, Bản ghi nhớ về hỗ trợ và hợp tác tìm kiếm cứu nạn tàu ngầm, và Ý định thư về tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng.
22. Hai bên hoan nghênh lực lượng hải quân hai nước tiến hành thành công khảo sát thủy đạc chung vào tháng 5 năm 2025 ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nhất trí thường xuyên tiến hành các hoạt động tương tự thời gian tới.
23. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ đào tạo cán bộ, nhân viên quốc phòng Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Kỹ thuật và Kinh tế Ấn Độ (ITEC), nâng cao năng lực thông qua các đội huấn luyện lục quân, hải quân và không quân Ấn Độ tại Đại học Thông tin liên lạc (TCU), Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Không quân tại Nha Trang; hỗ trợ Việt Nam thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Đại học Thông tin liên lạc, Nha Trang. Hai bên hoan nghênh đồng chủ trì Nhóm Công tác Chuyên gia về An ninh mạng trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM-Plus EWG) giai đoạn 2027 - 2030.
24. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác pháp luật và tư pháp, triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Luật pháp và Tư pháp Ấn Độ.
25. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Hội đồng An ninh Quốc gia Ấn Độ nhằm thực hiện các mục tiêu chung. Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chia sẻ thông tin, an ninh mạng, chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền và lừa đảo trực tuyến. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, bao gồm Đối thoại An ninh Việt Nam - Ấn Độ.
26. Hai bên hoan nghênh tổ chức thành công Đối thoại Chính sách Không gian mạng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ nhất để trao đổi về những diễn biến gần đây trong chính sách không gian mạng, đánh giá tình hình rủi ro mạng, xác định lĩnh vực hợp tác song phương, thảo luận các hoạt động xây dựng năng lực chung và phối hợp tại các diễn đàn đa phương về công nghệ thông tin và truyền thông.
27. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi kinh nghiệm và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh, bao gồm thúc đẩy hợp tác đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ đào tạo chuyên môn, đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng ứng phó sự cố an ninh mạng, các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động hợp tác khác trên cơ sở thống nhất chung.
28. Là các quốc gia ven biển có lịch sử giao lưu lâu đời, Việt Nam và Ấn Độ nhấn mạnh hợp tác hàng hải là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương và nhất trí tăng cường hợp tác hàng hải. Hai bên ghi nhận Đối thoại An ninh Hàng hải đã góp phần củng cố lòng tin và nâng cao hiểu biết về các vấn đề cùng quan tâm và nhấn mạnh cần tổ chức thường xuyên. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ mời Việt Nam cử Sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, Ấn Độ, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển.
Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh Việt Nam tham gia Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPOI) và tỏ mong muốn Việt Nam tăng cường hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến này. Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với Ấn Độ và các đối tác khác trong khuôn khổ IPOI, đồng thời thúc đẩy sự bổ trợ giữa IPOI và Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP), và đẩy mạnh hợp tác thực chất trong Năm Hợp tác Hàng hải ASEAN - Ấn Độ 2026.
29. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác hải dương học, bao gồm xây dựng và vận hành các hệ thống quan trắc đại dương, quản lý dữ liệu, dự báo và cung cấp các dịch vụ biển, đào tạo, nâng cao năng lực và thúc đẩy nghiên cứu khoa học biển. Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
30. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của công nghệ số và hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về đổi mới tài chính và thanh toán số; nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
31. Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và công nghệ mới nổi, bao gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu; tập trung vào các sáng kiến mang tính thực tiễn như nghiên cứu chung, thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển sản phẩm trên cơ sở lợi ích chung.
32. Hai bên ghi nhận các mục tiêu của mỗi nước về khí hậu, phát triển bền vững, các ưu tiên về chuyển đổi năng lượng; nhất trí tăng cường hợp tác năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, các công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai. Hai bên ghi nhận vai trò của Sáng kiến Sứ mệnh Lối sống vì môi trường (Mission LiFE) và Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế (ISA).
Ấn Độ hoan nghênh quan tâm của Việt Nam về việc tham gia Liên minh Nhiên liệu Sinh học Toàn cầu (GBA); ghi nhận tầm quan trọng của Liên minh Cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai (CDRI) trong việc tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó và giảm nhẹ thiên tai; khuyến khích tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ số và công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp thông minh, quản lý nguồn nước bền vững và kiểm soát ô nhiễm không khí.
33. Hai bên hài lòng ghi nhận tiến triển trong hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, nhất trí tăng cường triển khai các nội dung hợp tác được xác định tại Kỳ họp lần thứ 4 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ cung cấp Cobalt-60. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp cho Việt Nam.
34. Hai bên ghi nhận tiến triển trong việc thiết lập Trạm dò tìm, thu nhận và xử lý dữ liệu ASEAN - Ấn Độ tại Việt Nam. Việt Nam nhất trí đẩy nhanh các thủ tục cần thiết để sớm hoàn thiện dự án này.
35. Hai bên hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Công ty Đất hiếm Ấn Độ (IREL) và Viện Công nghệ xạ hiếm thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) về hợp tác trong lĩnh vực đất hiếm, và nhất trí triển khai sớm và đầy đủ thỏa thuận này.
36. Hai bên đánh giá cao quan hệ đối tác phát triển sâu rộng và có tác động thiết thực giữa hai nước, thông qua các Dự án Tác động Nhanh (QIP) trong khuôn khổ hợp tác Mekong - Sông Hằng, các chương trình học bổng Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC) và học bổng giáo dục. Hai bên hài lòng ghi nhận việc triển khai 66 dự án QIP do Ấn Độ tài trợ cho 32 trong tổng số 34 tỉnh thành của Việt Nam, mang lại tác động kinh tế-xã hội thiết thực cho địa phương và cộng đồng.
37. Hai bên nhấn mạnh chương trình ITEC là trụ cột quan trọng trong hợp tác phát triển. Việt Nam đánh giá cao Ấn Độ đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam thông qua chương trình ITEC, bao gồm các khóa đào tạo chuyên sâu, cũng như các học bổng của Hội đồng Giao lưu văn hóa Ấn Độ (ICCR).
38. Hai bên khuyến khích tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên và nghiên cứu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức của hai nước; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Đại học Nalanda và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
39. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ rước Xá lợi Đức Phật sang Việt Nam tôn trí từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2025. Hai Lãnh đạo ghi nhận sự hưởng ứng sâu rộng của người dân Việt Nam đối với Xá lợi Đức Phật, phản ánh liên kết văn minh sâu sắc, di sản tinh thần chung và tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước.
40. Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
41. Hai bên hoan nghênh việc ký Chương trình Hợp tác Văn hóa giai đoạn 2026 - 2030; nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường kết nối nhân dân.
42. Nhấn mạnh mối liên kết văn minh giữa hai nước, Lãnh đạo hai nước khuyến khích tăng cường trao đổi giữa các học giả Phật học, tăng ni, người hành hương và sinh viên hai nước. Việt Nam đánh giá cao cam kết của Ấn Độ trong việc bảo tồn Di sản Thế giới UNESCO Mỹ Sơn, cũng như các hoạt động trùng tu, bảo tồn do Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ triển khai tại các khu A, H và K, dự án đang thực hiện tại các khu E và F, và tại Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk.
43. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam ủng hộ tổ chức Ngày Quốc tế Yoga hằng năm tại nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam. Hai bên ủng hộ tăng cường hợp tác hơn nữa giữa các cơ sở yoga hai nước, và thúc đẩy giao lưu văn hóa; nhất trí tăng cường trao đổi văn hóa giữa hai nước và thiết lập vị trí Giáo sư chuyên ngành Ấn Độ học tại Đại học Đà Nẵng và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.
44. Hai bên hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Mumbai và khuyến khích tăng cường hơn nữa hợp tác và kết nối tương tự.
45. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác về nguồn nhân lực. Hai bên hoan nghênh thiết lập Tham vấn Lãnh sự nhằm xử lý các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có việc tạo thuận lợi di chuyển thị trường lao động.
46. Ghi nhận bối cảnh địa chính trị và kinh tế thế giới nhiều biến động, hai bên nhấn mạnh sự hội tụ chiến lược ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, trên cơ sở hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới. Hai bên kêu gọi tăng cường tiếng nói và vai trò của các nước phương Nam trong quản trị toàn cầu.
47. Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, trong đó có Liên hợp quốc. Tái khẳng định cam kết củng cố chủ nghĩa đa phương, hai bên ủng hộ mạnh mẽ cải cách các tổ chức quốc tế, bao gồm Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhằm bảo đảm tính đại diện và phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn hiện nay. Thủ tướng Modi đánh giá cao Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được mở rộng.
48. Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS năm 2026, Ấn Độ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong vai trò đối tác BRICS.
49. Hai bên ghi nhận Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong Chính sách Hành động Hướng Đông, Tầm nhìn MAHASAGAR và Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ấn Độ, góp phần thúc đẩy sự tham gia của Ấn Độ với Tiểu vùng Mekong, ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên tái khẳng định tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật pháp quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự ủng hộ nhất quán của Ấn Độ đối với đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực. Hai bên ủng hộ việc tiếp tục củng cố Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện ASEAN - Ấn Độ, bổ trợ cho quan hệ song phương của Ấn Độ với các nước thành viên.
50. Nhấn mạnh liên hệ giữa an ninh và thịnh vượng, hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không quân sự hóa và thực hiện tự kiềm chế, không có các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình hoặc gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Hai bên khẳng định UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động trên các vùng biển và đại dương; tiếp tục kêu gọi thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, không làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các quốc gia, kể cả những quốc gia không phải là bên tham gia đàm phán.
51. Hai bên lên án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện, trong đó có khủng bố xuyên biên giới. Hai bên kêu gọi chính sách không khoan nhượng với khủng bố, thúc đẩy các nỗ lực quốc tế phòng, chống khủng bố toàn diện và duy trì, bao gồm thông qua Liên hợp quốc và Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF). Hai bên kêu gọi việc ngăn chặn các mạng lưới tài trợ và cung cấp nơi trú ẩn cho khủng bố, triệt phá cơ sở hạ tầng khủng bố và nhanh chóng đưa các đối tượng khủng bố ra trước công lý.
52. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Thủ tướng Modi đã đón tiếp nồng hậu và chu đáo, và trân trọng mời Thủ tướng Modi thăm Việt Nam.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bloomberg hôm 30/3 ước tính Iran đã phóng gần 1.200 tên lửa đạn đạo và 4.000 máy bay không người lái (UAV) tự sát dòng Shahed nhằm vào những nước vùng Vịnh kể từ khi xung đột bùng phát. Số liệu dựa trên thống kê do giới chức các nước này công bố, vốn được đánh giá là chưa đầy đủ.
Thông tin được công bố sau khi vùng Vịnh hứng chịu những đòn tấn công bằng tên lửa đạn đạo dữ dội nhất kể từ khi xung đột bùng phát. Chỉ trong ngày 28-29/3, lực lượng Iran đã tiến hành tới 40 lần phóng tên lửa đạn đạo, nhiều gấp đôi mức trung bình hàng ngày trong giai đoạn trước đó.
Giới chuyên gia đánh giá xung đột hiện tại đang bào mòn đáng kể nguồn lực của Mỹ, Israel và các đồng minh khu vực, trong đó tiêu hao nghiêm trọng nhất là tên lửa phòng không.
Chiến thuật đánh chặn tên lửa đạn đạo thường được Mỹ và đồng minh áp dụng là "bắn - bắn - quan sát", tức là mỗi khẩu đội sẽ phóng hai đạn liên tiếp nhằm vào một mục tiêu và theo dõi kết quả. Nếu không hạ được mục tiêu, khẩu đội sẽ tiếp tục khai hỏa theo phương thức trên.
Chiến thuật này bảo đảm tỷ lệ hạ mục tiêu rất cao, nhưng tốc độ tiêu hao tên lửa cũng nhanh hơn nhiều so với phương thức "bắn - quan sát - bắn".
"Điều này đồng nghĩa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh đã khai hỏa ít nhất 2.400 quả đạn đánh chặn, thậm chí nhiều hơn, để đối phó tên lửa đạn đạo Iran trong hơn một tháng xung đột. Phần lớn trong số này là đạn PAC-3 và PAC-2 GEM-T của tổ hợp Patriot.", cây bút Gerry Doyle của Bloomber cho hay.
Dữ liệu từ các Thỏa thuận Bán Vũ khí Quân sự Nước ngoài (FMS) được Bộ Ngoại giao Mỹ phê duyệt, cũng như ước tính của 3 chuyên gia và một nguồn tin giấu tên am hiểu tình hình, cho thấy các nước vùng Vịnh sở hữu chưa đến 2.800 tên lửa Patriot trước khi xung đột bùng phát.
Tài liệu FMS chỉ cho thấy lượng tên lửa được khách hàng đề xuất mua hoặc Bộ Ngoại giao Mỹ duyệt bán, trong khi số vũ khí bàn giao trên thực tế có thể thấp hơn. Nỗ lực bù đắp tiêu hao tên lửa của các nước vùng Vịnh cũng được đánh giá là rất khó khăn, do nhu cầu cao và hạn chế về tốc độ chế tạo.
Nhà sản xuất Lockheed Martin hiện chế tạo được khoảng 650 tên lửa PAC-3 mỗi năm và đã ký thỏa thuận để tăng sản lượng lên 2.000 vào năm 2030. Tập đoàn này hàng năm cũng xuất xưởng khoảng 96 tên lửa cho Hệ thống Phòng thủ Tầm cao Giai đoạn cuối (THAAD) và đã ký hợp đồng để mở rộng công suất lên 400 quả mỗi năm.
"Nếu không có sự hỗ trợ tích cực của Mỹ, hầu hết quốc gia vùng Vịnh sẽ không còn gì để tự vệ", Kelly Grieco, chuyên gia về chính sách quốc phòng tại Trung tâm Stimson có trụ sở tại Mỹ, cảnh báo.
Tuy nhiên, ngay cả quân đội Mỹ dường như cũng gặp khó trong quá trình lấp khoảng trống phòng thủ tại Trung Đông.
Washington Post ngày 25/3 dẫn ba nguồn tin tiết lộ Lầu Năm Góc đang cân nhắc điều chuyển đến Trung Đông một số tên lửa đánh chặn được đặt mua theo chương trình Danh sách Yêu cầu Ưu tiên của Ukraine (PURL) do NATO triển khai từ năm ngoái.
Hai quan chức giấu tên thêm rằng Lầu Năm Góc đã thông báo cho quốc hội Mỹ về ý định dùng khoảng 750 triệu USD từ quỹ PURL để bổ sung kho dự trữ của quân đội Mỹ, thay vì gửi thêm vũ khí cho Ukraine.
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định chủ trương "đảm bảo lực lượng Mỹ cùng các đồng minh, đối tác có những gì cần thiết để chiến đấu và chiến thắng", nhưng từ chối bình luận chi tiết về thông tin.
"Tốc độ tiêu hao vũ khí tiên tiến nhanh chóng cho thấy Mỹ tin rằng sẽ không nổ ra xung đột với đối thủ ngang tầm trong tương lai gần hoặc có thể nhanh chóng đánh bại Iran. Đây là điều rất thú vị về mặt chiến lược, thể hiện chính quyền Tổng thống Trump coi Iran là vấn đề quan trọng nhất và sẵn sàng đánh cược tất cả để giành chiến thắng", Peter Layton, cựu sĩ quan không quân Australia đang làm việc tại Viện Nghiên cứu châu Á Griffith, cho biết.
"Trong ngắn hạn, chiến dịch nhằm vào Iran là thành công về mặt quân sự và chiến thuật đối với Mỹ. Tuy nhiên, tốc độ tiêu hao tên lửa Patriot cùng các vũ khí đánh chặn khác, kết hợp với sản lượng không đủ bù đắp, sẽ tạo ra điểm yếu về mặt chiến lược trong trung hạn", Claudia Major, chuyên gia thuộc Quỹ German Marshall tại Mỹ, nêu quan điểm.
Kho dự trữ tên lửa phòng không của Israel cũng bị đặt dấu hỏi khi xung đột đã bước sang tháng thứ hai.
Trang tin Semafor hồi giữa tháng 3 dẫn lời các quan chức Mỹ giấu tên nhận định kho vũ khí đánh chặn tên lửa đạn đạo của Israel "đang thấp đến mức nguy hiểm", vào thời điểm chiến sự mới chỉ diễn ra được hai tuần. Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) sau đó tuyên bố "không thiếu tên lửa phòng không" để đối phó các cuộc tấn công của Iran và nhóm vũ trang Hezbollah ở Lebanon.
Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI) hôm 24/3 công bố báo cáo ước tính Israel, Mỹ và đồng minh đã dùng 11.294 quả đạn các loại với tổng trị giá 26 tỷ USD trong 16 ngày đầu xung đột. "Đặc biệt, kho tên lửa chính xác và đạn đánh chặn tầm xa đang cạn kiệt", RUSI nhận định.
Thời gian chế tạo kéo dài và chi phí cao của tên lửa hiện đại như Arrow càng khiến nguy cơ cạn vũ khí đánh chặn trở nên nghiêm trọng. Mỗi tên lửa Arrow-2 có giá khoảng 1,5 triệu USD, con số này với mẫu Arrow-3 là hai triệu USD.
Israel không tiết lộ quy mô kho dự trữ tên lửa và tốc độ sản xuất, nhưng giới chuyên gia cho rằng nước này cần 2-3 năm để bù đắp lượng tên lửa đã tiêu hao trong những xung đột trước đây, chưa kể tới chiến sự hiện tại.
"Nút thắt cổ chai không phải là tiền bạc, mà là giới hạn của ngành công nghiệp. Không thể mở rộng quy mô dây chuyền như nhà máy sản xuất iPhone. Những loại tên lửa này chỉ dành cho mối đe dọa tồi tệ nhất và nguồn cung không bao giờ dồi dào", trung tá Mỹ Jahara Matisek, đồng tác giả báo cáo của RUSI, cho biết.
Nguyễn Tiến (Theo Bloomberg, AFP, AP)
Nguồn: https://vnexpress.net/luoi-phong-khong-vung-vinh-doi-mat-nguy-co-can-sach-ten-lua-5056787.html
Thế Giới
Duyệt binh ở Quảng trường Đỏ, Tổng thống Putin tin tưởng chiến thắng tại Ukraine

Hãng TASS đưa tin cuộc duyệt binh kỷ niệm 81 năm ngày Liên Xô chiến thắng Đức Quốc xã trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945) đã được tổ chức vào hôm nay 9.5 tại Quảng trường Đỏ ở thủ đô Moscow của Nga.
Cuộc duyệt binh bắt đầu bằng màn rước cờ của đội danh dự thuộc Trung đoàn Preobrazhensky, mang theo quốc kỳ Nga và lá cờ Chiến thắng băng qua Quảng trường Đỏ. Đây là lá cờ Chiến thắng đã được các binh sĩ thuộc Sư đoàn Bộ binh Idritskaya số 150 treo trên tòa nhà Quốc hội Đức vào đêm 1.5.1945.
Tổng thống Nga Vladimir Putin, các cựu chiến binh, khách mời và các lãnh đạo nước ngoài theo dõi cuộc duyệt binh từ khán đài trung tâm trên Quảng trường Đỏ.
Bộ trưởng Quốc phòng Nga Andrey Belousov đã duyệt qua đội hình diễu binh, do Tư lệnh Lục quân, Đại tướng Andrey Mordvichev chỉ huy.
Phát biểu tại buổi duyệt binh, Tổng thống Putin bày tỏ lòng tin vào chiến thắng trong chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine. Nhà lãnh đạo ca ngợi các binh sĩ Nga đang chiến đấu ở Ukraine, nói rằng họ "đang đối mặt với một lực lượng hung hãn được trang bị vũ khí và hỗ trợ bởi toàn bộ khối NATO".
"Chiến thắng luôn thuộc về chúng ta và sẽ mãi thuộc về chúng ta. Chìa khóa thành công là sức mạnh tinh thần, lòng dũng cảm và sự quả cảm, sự đoàn kết, khả năng vượt qua gian khổ và mọi thách thức", AP dẫn lời ông Putin phát biểu.
Lần đầu tiên trong gần 2 thập niên, cuộc duyệt binh thường niên diễn ra mà không có các xe tăng, tên lửa và những vũ khí hạng nặng khác tham gia, ngoại trừ màn trình diễn truyền thống của các chiến đấu cơ.
Các quan chức Nga cho biết sự thay đổi đột ngột về thể thức là do "tình hình chiến dịch hiện tại" và chỉ ra mối đe dọa từ các cuộc tấn công của Ukraine. Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết chính quyền đã thực hiện "các biện pháp an ninh bổ sung".
Hôm 8.5, trước thềm cuộc duyệt binh, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng Nga và Ukraine đã đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn ba ngày từ ngày 9-11.5, bao gồm việc ngừng giao tranh và trao đổi tù binh quy mô lớn.
Thông tin này đã được Điện Kremlin và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky xác nhận, trong đó ông Zelensky cho biết việc trao đổi tù binh sẽ diễn ra theo tỷ lệ "1.000 đổi 1.000".
Tin Gốc: Thanh Niên

