Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt đều là những loại trái cây nhiệt đới được nhiều người yêu thích vào mùa hè vì hương vị thơm ngon và giá thành tương đối hợp lý. Các loại trái cây này thường có vị ngọt và là nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất, chất xơ cho cơ thể. Tuy nhiên, mọi người cần chú ý lượng ăn và cách ăn để thưởng thức trái cây ngon nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe, nhất là ở người có bệnh nền. Vì sao nói ăn nhiều trái cây chưa chắc tốt?
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Mỹ Dung, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Tim Tâm Đức (TP.HCM), vị ngọt của trái cây được tạo nên từ phức hợp các loại đường tự nhiên gồm fructose, glucose và sucrose. Trong đó, đường fructose (đường đơn monosaccharide) có cơ chế chuyển hóa khá đặc biệt, cụ thể:
Thực phẩm giàu fructose thường có chỉ số đường huyết (GI) thấp hơn so với thực phẩm giàu glucose, không kích thích tiết insulin mạnh như glucose, do đó không làm tăng đường huyết ngay sau ăn.
Quá trình chuyển hóa xảy ra chủ yếu tại gan, nơi fructose sẽ được biến đổi thành năng lượng hoặc tích trữ dưới dạng mỡ.
Tuy nhiên, các loại quả mùa hè như vải, sầu riêng, chôm chôm không chỉ chứa fructose mà còn chứa glucose và sucrose với tỷ lệ khác nhau. Từ đó, bác sĩ Dung lưu ý rằng việc ăn quá nhiều trong một lần có thể gây hại cho sức khỏe. Khi tiêu thụ quá nhiều fructose trong thời gian dài, gan có thể chuyển phần fructose dư thừa thành chất béo, làm tăng triglyceride trong máu và ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe tim mạch, đặc biệt ở người có rối loạn chuyển hóa.
“Với quả vải, mọi người nên ăn sau bữa ăn và không quá 9 quả mỗi ngày. Sầu riêng chỉ nên ăn khoảng 1 – 2 múi/ngày, cũng nên dùng sau khi ăn no. Đối với chôm chôm, nên giới hạn dưới 6 quả/ngày, ưu tiên quả tươi, vừa chín tới và tránh các sản phẩm chế biến nhiều đường. Riêng măng cụt, chỉ nên ăn tối đa 3 quả/ngày và không nên ăn liên tục mỗi ngày. Cần hiểu rằng không có loại trái cây nào hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Điều quan trọng nhất vẫn là khẩu phần ăn và tần suất sử dụng phù hợp”, bác sĩ Dung khuyến nghị.
Bác sĩ Mỹ Dung cho biết, một trong những điều bị người dân hiểu sai nhưng rất phổ biến là “trái cây tự nhiên nên ăn càng nhiều càng tốt”. Thực tế, trái cây là thực phẩm lành mạnh nhưng vẫn chứa đường và năng lượng. Nếu ăn vượt quá nhu cầu của cơ thể, người dùng vẫn có thể gặp các vấn đề về đường huyết, tăng cân hoặc rối loạn mỡ máu. Ngay cả một loại trái cây có chỉ số đường huyết thấp cũng có thể gây tăng đường huyết nếu ăn quá nhiều trong một lần.
Do đó, thay vì đặt câu hỏi “ăn loại quả nào tốt nhất?”, mọi người nên quan tâm đến việc ăn bao nhiêu, ăn khi nào và ăn như thế nào. Đặc biệt với người mắc tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc rối loạn chuyển hóa, việc tuân thủ nguyên tắc “đúng loại – đúng lượng – đúng thời điểm” càng quan trọng, cụ thể:
Đúng loại: Nên ưu tiên các loại trái cây có chỉ số đường huyết (GI) hoặc tải lượng đường huyết (GL) thấp; đồng thời lựa chọn trái cây tươi, vừa chín, không nên ăn trái cây quá chín hay các sản phẩm chế biến sẵn, đóng hộp hoặc thêm đường.
Đúng lượng: Ăn với liều lượng vừa phải để tránh làm tăng tải lượng đường huyết trong ngày. Cần điều chỉnh tùy theo tình trạng bệnh lý, cân nặng và tổng khẩu phần ăn trong ngày của từng người.
Đúng thời điểm: Nên ưu tiên ăn trái cây sau bữa ăn thay vì ăn khi bụng đói, không nên ăn dồn quá nhiều trong một lần. Việc phân bổ lượng trái cây hợp lý trong ngày sẽ giúp kiểm soát lượng đường nạp vào mỗi lần ăn, đồng thời hạn chế dao động đường huyết.
Đại diện Bệnh viện Từ Dũ cho biết trước khi biến chứng xảy ra, thai kỳ của bệnh nhân hoàn toàn thuận lợi. Ngày 17/6, khi thai được 39 tuần 5 ngày, sản phụ sinh mổ do vỡ ối, nhịp tim thai bất thường. Bé gái chào đời khỏe mạnh, nặng 3,1 kg.
Ba ngày sau sinh, sức khỏe người mẹ gần như hồi phục hoàn toàn, ăn uống bình thường, vết mổ khô, không sốt. Tuy nhiên, chiều 19/6, chị bất ngờ mệt lả rồi ngất xỉu. Kíp trực lập tức hồi sức chống sốc. Lúc này, bệnh nhân suy hô hấp nặng, độ bão hòa oxy trong máu chỉ còn 86%, huyết áp tụt xuống 85/50 mmHg, tim đập nhanh và rối loạn khoảng 220 lần mỗi phút. Khi chuyển đến khoa Hồi sức Bệnh viện Từ Dũ, tình trạng tiếp tục xấu đi, bệnh nhân tím tái, vã mồ hôi, huyết áp tụt còn 60/40 mmHg, nguy cơ ngừng tuần hoàn.
Siêu âm tim tại giường cho thấy huyết khối trong buồng tim phải của bệnh nhân kèm giãn thất phải và dấu hiệu tăng áp động mạch phổi. Siêu âm Doppler mạch máu chi dưới phát hiện thêm huyết khối tĩnh mạch khoeo chân phải. Các bác sĩ xác định nguy cơ rất cao thuyên tắc phổi - tình trạng cục máu đông di chuyển lên động mạch phổi, bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian rất ngắn.
Bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ hội chẩn khẩn với chuyên gia tim mạch của Bệnh viện Chợ Rẫy, thống nhất chuyển viện để can thiệp chuyên sâu. Ngay sau khi chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh nhân rơi vào tình trạng huyết động mất ổn định. Êkíp phải lập tức hồi sức tim phổi và thiết lập VA-ECMO - phương pháp hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp ngoài cơ thể thường áp dụng cho các ca nguy kịch.
Điểm đặc biệt của ca này là bệnh nhân được duy trì theo mô hình Awake ECMO - hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể nhưng chưa cần đặt nội khí quản. Cách tiếp cận này giúp hạn chế nguy cơ tổn thương phổi và các biến chứng liên quan đến thở máy.
Sau 48 giờ điều trị tích cực, huyết động bệnh nhân dần ổn định. Ngày 24/6, khi tình trạng sức khỏe bệnh nhân cho phép, các bác sĩ phẫu thuật lấy huyết khối động mạch phổi, sau đó tiếp tục hỗ trợ ECMO thêm 4 ngày. Hiện sản phụ hồi phục gần như hoàn toàn.
Thuyên tắc phổi là một trong những biến chứng sản khoa cực kỳ nguy hiểm, có thể xảy ra trong thai kỳ hoặc giai đoạn hậu sản. Nguyên nhân thường liên quan tình trạng tăng đông máu sinh lý ở phụ nữ mang thai, đặc biệt sau phẫu thuật hoặc thời gian nằm bất động kéo dài.
Các dấu hiệu cảnh báo gồm khó thở đột ngột, đau ngực, tim đập nhanh, chóng mặt hoặc ngất xỉu. Nhận diện sớm triệu chứng và xử trí khẩn cấp có ý nghĩa quyết định trong cứu sống người bệnh.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Châu Thị Anh, phụ trách Khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết tuyến tụy là cơ quan đảm nhiệm hai chức năng quan trọng của cơ thể như nội tiết và ngoại tiết. Về nội tiết, tuyến tụy sản xuất các hormone như insulin, glucagon, amylin... giúp điều hòa đường huyết. Về ngoại tiết, cơ quan này tiết các men tiêu hóa như amylase, lipase, trypsin để phân giải chất bột đường, chất béo và protein.
Tuy nhiên, một số thói quen ăn uống phổ biến trong mùa hè có thể khiến tuyến tụy phải hoạt động quá mức, thậm chí làm tăng nguy cơ viêm tụy cấp ở những người có yếu tố nguy cơ.
Trái cây không xấu, nhưng "ăn cả đĩa lớn" sau bữa đã đủ tinh bột có thể làm tổng lượng đường tăng cao. Đặc biệt các loại ngọt như vải thiều, nhãn, sẩu riêng, chôm chôm, trái cây đóng hộp...
Mùa nóng nhiều người ăn thất thường: bỏ sáng, chiều tối ăn quá no hoặc vừa nhậu vừa ăn khuya. Việc ăn dồn dập có thể làm hệ tiêu hóa, trong đó có tụy, phải làm việc nặng hơn.
Nước ngọt, trà sữa, nước tăng lực thường chứa nhiều đường hấp thu nhanh. Nếu dùng thường xuyên, tụy phải tăng tiết insulin để xử lý lượng đường lớn; dễ tăng cân, mỡ nội tạng, béo phì vùng trung tâm và tăng đề kháng insulin. Lâu dài làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa và tiểu đường loại 2.
Rượu bia có thể kích thích tụy, làm thay đổi dòng chảy dịch tụy và tăng phản ứng viêm. Uống rượu bia nhiều kéo dài còn có thể làm tăng triglycerid máu một yếu tố nguy cơ của viêm tụy cấp. Bữa ăn quá nhiều chất béo khiến tụy phải tiết nhiều men tiêu hóa hơn.
"Không phải uống một lon bia lạnh, một bữa nhậu là hại tụy, vấn đề là thói quen hằng ngày. Điều này không trực tiếp gây viêm tụy ở người khỏe mạnh, nhưng có thể khiến cơ thể phải xử lý lượng đường lớn hơn mức cần thiết, đặc biệt ở người tiền tiểu đường, béo phì hoặc triglycerid cao", bác sĩ Anh phân tích.
Ngoài ra, nhịn ăn và mất nước trong thời gian dài do uống nhiều rượu có thể là những yếu tố quan trọng dẫn đến viêm tụy cấp do rượu. Trong một số trường hợp, có thể hình thành cặn trong dịch tụy hoặc dịch mật, và đây là yếu tố tiền đề.
Bác sĩ Anh khuyến cáo nên ưu tiên nước lọc là nguồn nước chính. Nếu uống bia rượu, tránh nhậu kéo dài với đồ chiên mỡ, hạn chế lượng uống. Ăn trái cây vừa phải (có thể chia vào cử phụ thay vì "ăn bù" sau bữa lớn). Không ăn quá no vào đêm muộn.
"Nếu từng có mỡ máu cao, sỏi mật, viêm tụy hoặc tiền sử uống rượu nhiều thì nên cẩn thận hơn, có thể là hạn chế tuyệt đối vì đây là nhóm nguy cơ cao", bác sĩ lưu ý.
"Dù đã có vắc xin hiệu quả tốt nhưng thủy đậu vẫn đang lưu hành mạnh tại Việt Nam. Riêng năm 2023, số ca mắc ghi nhận tăng cao tại nhiều địa phương từ Hà Nội đến các tỉnh thành khác. Bệnh do virus Varicella-Zoster gây ra và có khả năng lây lan cực mạnh, đặc biệt trong môi trường tập trung đông trẻ như nhà trẻ, mẫu giáo hay tiểu học", tiến sĩ - bác sĩ Đỗ Thành Hải, Phó giám đốc Trung tâm Bệnh Nhiệt Đới, Bệnh viện Nhi Trung ương, chia sẻ tại Hội thảo khoa học chủ đề "Thủy đậu - vắc xin thế hệ 2 chủng MAV/06 và những cập nhật của Tổ chức Y tế thế giới" diễn ra chiều 9.5.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Đỗ Thành Hải, virus thủy đậu không chỉ gây suy giảm miễn dịch tạm thời mà còn ảnh hưởng cả miễn dịch tế bào. Khi miễn dịch tế bào bị suy giảm, trẻ dễ mắc thêm nhiều bệnh nhiễm trùng khác như viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết.
Điều đáng lo ngại là trẻ đã có thể phát tán virus từ trước khi nổi ban. Trong khoảng 2 ngày đầu, nhiều trẻ chỉ sốt nhẹ, mệt mỏi nhưng vẫn đi học, ăn ngủ và tiếp xúc gần với bạn bè.
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, các bác sĩ ghi nhận nhiều trường hợp viêm mô tế bào, nhiễm khuẩn huyết, viêm não hay suy đa cơ quan sau mắc thủy đậu. Đặc biệt, một số ca viêm phổi hoại tử do bội nhiễm tụ cầu có tổn thương phổi nghiêm trọng.
“Có những trẻ phải điều trị hàng tháng trời mới qua khỏi”, bác sĩ Hải chia sẻ.
Phó giáo sư, tiến sĩ - bác sĩ Phạm Quang Thái - Phó khoa Kiểm soát Bệnh truyền nhiễm, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, nhận định đã đến lúc cộng đồng cần thay đổi quan điểm cho rằng thủy đậu là bệnh nhẹ.
“Trên thế giới hiện ghi nhận hơn 4.000 ca tử vong do thủy đậu mỗi năm. Có những trường hợp biến chứng viêm não cho virus thủy đậu. Với mức độ nguy hiểm như vậy, chúng ta không thể tiếp tục xem nhẹ căn bệnh này”, ông Thái nói.
Theo Phó giáo sư Phạm Quang Thái, một câu hỏi mà nhiều phụ huynh hay thắc mắc là "nên tiêm 1 mũi hay 2 mũi".
“Theo khuyến cáo từ Tổ chức Y tế thế giới, nếu chỉ tiêm 1 mũi, hiệu quả bảo vệ khoảng 81%, mầm mống của thủy đậu đột phá khi kháng thể suy giảm theo thời gian nhưng khi tiêm đủ 2 mũi có thể nâng hiệu quả lên tới 98%, giúp giảm 3,3 lần nguy cơ thủy đậu đột phá so với tiêm 1 mũi”, ông Thái cho biết.
Hiện nay, nhóm tuổi cần ưu tiên bảo vệ là trẻ dưới 10 tuổi, đặc biệt từ 1 - 9 tuổi là nhóm ghi nhận tỷ lệ mắc thủy đậu cao nhất. Trong điều kiện bình thường, theo chuyên gia 12 tháng tuổi được xem là thời điểm tối ưu để tiêm mũi đầu tiên nhằm tạo đáp ứng miễn dịch tốt.