Theo Bộ Công an, thực tiễn cho thấy có những hành vi vi phạm gây thiệt hại về kinh tế nhưng xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh; không tham nhũng và có khả năng khắc phục toàn bộ hậu quả, song vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, tại dự thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự, Bộ Công an đề xuất bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để người vi phạm có thời gian khắc phục hậu quả; đồng thời bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đã khắc phục đầy đủ thiệt hại, nhằm bảo đảm tính công bằng, thống nhất và khuyến khích khắc phục hậu quả.
Trao đổi với phóng viên về vấn đề trên, luật sư Trần Nam Long – Giám đốc Công ty Luật TNHH Trần Long và Cộng sự cho rằng, thực tiễn xử lý các vụ án kinh tế thời gian qua cho thấy đang tồn tại một “nút thắt” trong hoạt động tố tụng hình sự.
Cụ thể, khi cơ quan chức năng phát hiện sai phạm hoặc dấu hiệu hình sự trong quá trình triển khai các dự án kinh tế – xã hội, các biện pháp tố tụng thường được áp dụng ngay như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam, phong tỏa tài sản. Điều này nhiều khi kéo theo hệ lụy lớn cho doanh nghiệp, người lao động và cả nền kinh tế.
“Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là cần thiết, nhưng hậu quả kéo theo đối với xã hội đôi khi rất lớn. Có doanh nghiệp với hàng nghìn lao động rơi vào nguy cơ đình trệ, các dự án đang triển khai bị đóng băng”, ông Long nói.
Từ thực tế đó, luật sư Long đánh giá đề xuất của Bộ Công an về cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” là cách tiếp cận phù hợp, bởi nó hướng tới việc cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và hạn chế “chi phí xã hội” quá lớn do hoạt động tố tụng gây ra.
Theo luật sư Long, phần lớn các sai phạm trong lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội đều xoay quanh lợi ích kinh tế, do đó biện pháp xử lý cũng nên ưu tiên theo hướng kinh tế thay vì quá nặng về hình sự.
“Doanh nhân hoạt động vì lợi ích. Nếu họ gian lận để đạt lợi ích thì hãy đánh trực tiếp vào lợi ích đó. Phạt tiền, buộc bồi thường, khắc phục hậu quả sẽ là biện pháp răn đe đúng bản chất hơn là đưa họ vào tù”, ông phân tích và khẳng định, khi số tiền phải khắc phục lớn hơn nhiều lần số tiền vi phạm thì hoàn toàn đảm bảo sức răn đe.
Theo ông, trong nhiều lĩnh vực mới như chứng khoán, tài sản số hay các mô hình kinh doanh sáng tạo, pháp luật vẫn chưa theo kịp thực tiễn. Doanh nhân đôi khi phải hoạt động trong “khoảng trống pháp lý” hoặc đối mặt với nhiều cách hiểu khác nhau của quy định pháp luật.
“Khó ai kinh doanh mà tuyệt đối không có rủi ro pháp lý, đặc biệt ở những lĩnh vực mở, pháp luật chưa hoàn thiện. Vì vậy cần tạo ra không gian nhất định để họ dám làm, dám thử nghiệm. Nếu sai phạm có thể khắc phục được thì nên cho họ cơ hội sửa sai”, ông nói.
Việc không áp dụng cơ chế trên với các hành vi tham nhũng, vụ lợi như đề xuất của Bộ Công an, ông Long cũng bày tỏ ủng hộ. Theo ông, tham nhũng là hành vi “đánh đổi giữa tiền và quyền”, cần phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù để bảo đảm tính răn đe.
Luật gia Dương Đình Khuyến – Uỷ viên Ban thường vụ Hội Luật gia Việt Nam cũng bày tỏ ủng hộ về mặt chủ trương nhưng cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay là cơ chế tố tụng để triển khai đề xuất này.
Theo ông Khuyến, khi cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì toàn bộ quá trình xử lý phải tuân thủ chặt chẽ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, khái niệm “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” nếu muốn áp dụng được thì phải được luật hóa bằng các quy định rất cụ thể.
“Khi đã khởi tố hình sự rồi thì mọi việc phải đi theo quy trình tố tụng. Không thể chỉ nói tạm hoãn là tạm hoãn được, phải có căn cứ pháp lý rõ ràng”, ông Khuyến nói.
Theo luật gia Dương Đình Khuyến, nếu trong quá trình điều tra xác định người vi phạm không có tư lợi cá nhân, sai phạm xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và có khả năng khắc phục toàn bộ hậu quả, thì cơ quan điều tra có thể kiến nghị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra.
“Thông thường cơ quan điều tra sẽ chọn phương án tạm đình chỉ để bảo đảm an toàn pháp lý. Nếu sau này phát hiện thêm tình tiết mới như có dấu hiệu tham nhũng hay tư lợi thì vẫn có thể phục hồi điều tra”, ông phân tích.
Ông Khuyến cũng cho rằng, với tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều vụ việc hoàn toàn có thể được xử lý dứt điểm ngay từ giai đoạn điều tra mà không cần kéo dài sang giai đoạn truy tố và xét xử.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại phát sinh nhiều tình huống phức tạp, khi có vụ án đã chuyển sang Viện Kiểm sát, thậm chí Tòa án đã thụ lý. Lúc này, việc dừng truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phải có căn cứ tố tụng tương ứng ở từng giai đoạn.
Một trong những vấn đề được cả hai chuyên gia cùng nhấn mạnh là cơ chế xử lý tài sản kê biên, phong tỏa trong các vụ án kinh tế để bảo đảm thực thi và tránh ttình trạng “thả gà ra đuổi”.
Trước hết, theo luật sư Trần Nam Long, trên thực tế, nhiều trường hợp ngay khi bị khởi tố thì gần như toàn bộ tài sản của doanh nghiệp hoặc cá nhân đã bị phong tỏa để phục vụ điều tra.
Do đó, khi cơ quan tố tụng yêu cầu bị can khắc phục hậu quả thì họ không còn khả năng tiếp cận tài sản để thực hiện nghĩa vụ. “Không thể vừa trói tay, trói chân người ta rồi lại yêu cầu họ phải khắc phục hậu quả”, ông Long nói.
Đồng quan điểm, luật gia Dương Đình Khuyến cho rằng nếu muốn khuyến khích người vi phạm chủ động khắc phục thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có cơ chế tạo điều kiện cho họ xử lý tài sản dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan giám sát.
“Ví dụ người ta có nguyện vọng bán tài sản để khắc phục hậu quả thì cơ quan tố tụng có thể giám sát việc bán đấu giá, thu tiền trực tiếp để bảo đảm không xảy ra tình trạng tẩu tán tài sản”, ông Khuyến đề xuất.
Theo ông, thay vì phong tỏa tuyệt đối toàn bộ tài sản, cần có cơ chế linh hoạt hơn để vừa bảo đảm thu hồi tài sản cho Nhà nước, vừa tạo điều kiện cho người vi phạm thực hiện nghĩa vụ khắc phục hậu quả.
“Bản chất là cơ quan tố tụng vẫn nắm đằng chuôi, vẫn kiểm soát dòng tiền, nhưng phải mở ra cơ hội để người ta khắc phục. Nếu không thì rất khó khả thi trong thực tế”, luật gia Dương Đình Khuyến nói.
Đồng quan điểm, luật sư Long cho hay cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và cơ quan thi hành án để xử lý linh hoạt tài sản trong giai đoạn tố tụng.
Đặc biệt, ông cho rằng nếu giá trị tài sản bị kê biên nhỏ hơn nghĩa vụ phải khắc phục, cơ quan thi hành án có thể đứng ra tổ chức bán đấu giá tài sản ngay từ giai đoạn điều tra, dưới sự giám sát của các cơ quan tố tụng.
Ngược lại, nếu tổng giá trị tài sản lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải khắc phục, nên cho phép người bị truy cứu hoặc gia đình họ chủ động bán tài sản để nộp tiền khắc phục hậu quả.
Theo Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Thanh Hóa, trước đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Lưu Văn Hải - Giám đốc Công ty TNHH Anh Tuấn, kiêm người đại diện theo pháp luật của công ty này.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố vụ án, khởi tố bị can để làm rõ các sai phạm trong quá trình khai thác mỏ đá tại xã Cẩm Tú.
Như Tuổi Trẻ Online đã đưa tin, khoảng 17h ngày 20-5 xảy ra vụ tai nạn lao động nghiêm trọng do sạt lở đá tại khu vực mỏ đá xã Cẩm Tú của Công ty TNHH Anh Tuấn.
Theo đó, trong quá trình lao động tại chân núi đá trên, các công nhân gồm ông Lò Văn Thời, Lò Văn Quý và Hoàng Văn Ngay, đều trú tại tỉnh Lào Cai, bất ngờ bị đất đá từ phía trên núi sạt lở xuống vùi lấp.
Hậu quả làm 1 người chết trên đường đi cấp cứu, 2 người bị vùi lấp dưới lớp đá sạt lở. Đến sáng 21-5, lực lượng chức năng tìm thấy thi thể 2 nạn nhân bị đá vùi lấp, bàn giao cho gia đình an táng.
Sau khi xảy ra vụ việc, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Xây dựng, Công an tỉnh, Sở Công Thương, Sở Nội vụ Thanh Hóa, UBND xã Cẩm Tú đã kiểm tra thực tế tại khu vực mỏ đá của Công ty TNHH Anh Tuấn ở xã Cẩm Tú.
Theo biên bản kiểm tra hiện trường của cơ quan chức năng, Công ty TNHH Anh Tuấn chưa xây dựng tuyến đường hào cho công nhân lên núi từ cốt +80 đến cốt +160m.
Hệ thống khai thác đá không đúng theo các thông số thiết kế được thẩm định, phê duyệt như: khai thác từ dưới lên, không cắt tầng khai thác, khai thác cắt chân núi, tạo hàm ếch tại khu vực chân núi.
Qua đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng, đây là một trong những nguyên nhân gây ra vụ sạt lở mỏ đá ở xã Cẩm Tú.
Tại thời điểm kiểm tra, cơ quan chức năng xác định khu vực khai thác đá của Công ty TNHH Anh Tuấn còn đá om, treo có nguy cơ tiềm ẩn sạt trượt, gây mất an toàn khu vực mỏ đá.
Ngày 2-4, thông tin từ Công an tỉnh Hà Tĩnh, Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra của đơn vị này vừa ban hành quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, đồng thời thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Thị Tuyết Anh (36 tuổi, ngụ phường Sơn Đông, tỉnh Vĩnh Long) để điều tra về hành vi "trốn thuế" theo khoản 2, điều 200 Bộ luật Hình sự.
Theo kết quả điều tra, trong quá trình điều hành Công ty TNHH xây dựng - kỹ thuật và san lấp mặt bằng Bảo Uyên, Trần Thị Tuyết Anh đã mua trái phép 26 hóa đơn giá trị gia tăng từ nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhằm hợp thức hóa đầu vào hàng hóa phục vụ hoạt động san lấp mặt bằng với tổng số tiền trốn thuế được xác định hơn 739 triệu đồng.
Cơ quan điều tra xác định Trần Thị Tuyết Anh đã thông qua các đầu mối trung gian để đặt mua hóa đơn, thanh toán phí phần trăm ngoài sổ sách, đồng thời thực hiện chuyển tiền qua nhiều tài khoản nhằm hợp thức hóa chứng từ thanh toán.
Tại cơ quan điều tra, bị can đã thừa nhận hành vi vi phạm. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra xác định hành vi của Trần Thị Tuyết Anh đủ yếu tố cấu thành tội "trốn thuế", thuộc trường hợp số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỉ đồng theo quy định pháp luật.
Trước đó, ngày 2-10-2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Trần Thị Tuyết Anh để điều tra về hành vi "mua bán trái phép hóa đơn".
Hiện vụ án đang được tiếp tục điều tra, mở rộng để làm rõ vai trò của các cá nhân, tổ chức liên quan trong đường dây mua bán hóa đơn và hợp thức hóa chứng từ phục vụ hành vi trốn thuế.
Nội dung trên được Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp) nêu trong kết luận ban hành mới đây, hơn một tháng sau khi tòa sơ thẩm tuyên phạt bà Nguyễn Thị Bình (cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình) 3 năm tù về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Trong vụ án này, một căn cứ quan trọng để xác định sai phạm là quyết định 22/2013 của UBND TP Hà Nội quy định mức thu tối đa đối với hoạt động dạy thêm, học thêm.
Theo quy định trên, lớp có từ 20-40 học sinh chỉ được thu tối đa 7.000-9.000 đồng mỗi tiết. Tuy nhiên bà Bình bị xác định đã yêu cầu giáo viên thu 15.000 đồng mỗi tiết. Số tiền thu được, 70% trả cho giáo viên đứng lớp, 30% phục vụ quản lý và cơ sở vật chất.
Tại phiên tòa sơ thẩm hồi tháng 3, bà Bình cho rằng việc thu tiền được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận với phụ huynh, phù hợp Thông tư 17/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thông tư này quy định “mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường”.
Tại phiên tòa, khi bào chữa cho bà Bình, luật sư phân tích thông tư của bộ không giao UBND cấp tỉnh quy định mức trần học phí dạy thêm. Do đó việc UBND Hà Nội ban hành quyết định 22 áp mức thu tối đa là vượt thẩm quyền.
Luật sư cũng cho rằng việc cơ quan tố tụng sử dụng văn bản cấp dưới để buộc tội trong khi có nội dung khác với văn bản cấp trên là trái nguyên tắc áp dụng pháp luật. Dù vậy viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án 4-5 năm tù.
Trong kết luận mới ban hành, Bộ Tư pháp xác định Thông tư 17 chỉ quy định tiền học thêm do phụ huynh và nhà trường thỏa thuận, không quy định hoặc giao địa phương quy định mức thu tối đa. Vì vậy việc Hà Nội ban hành “giá trần” học thêm là chưa phù hợp.
Cơ quan này đồng thời kết luận các văn bản hướng dẫn sau đó của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cũng được ban hành “không đúng hình thức, thẩm quyền”.
Bộ Tư pháp kiến nghị UBND và Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội khẩn trương xử lý các nội dung trái pháp luật, xem xét trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan.
Một ngày sau kết luận trên, UBND TP Hà Nội đã quyết định bãi bỏ toàn bộ quyết định 22/2013 về áp "giá trần" dạy thêm.
Sau phiên tòa sơ thẩm, cựu Hiệu trưởng Bình đã gửi đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Trong đơn kháng cáo toàn bộ bản án, bà Nguyễn Thị Bình cho rằng nhận định của tòa sơ thẩm là “vô lý và cay nghiệt” khi xác định bà có động cơ “vụ lợi phi vật chất” thông qua việc nâng cao uy tín cá nhân nhờ tăng thu nhập cho giáo viên.
Theo cựu hiệu trưởng, trách nhiệm của người đứng đầu trường học là chăm lo đời sống giáo viên, tạo động lực để họ yên tâm giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Bà cho rằng việc cải thiện thu nhập cho giáo viên từ chính công sức lao động của họ không thể bị xem là hành vi vụ lợi để cấu thành tội phạm.
Phiên tòa xét xử bà Bình được mở hồi cuối tháng 3. Nữ cựu hiệu trưởng bị tòa tuyên 3 năm tù với cáo buộc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tổ chức dạy thêm sai quy định, lạm thu tổng số tiền hơn 1 tỉ đồng.
Cùng tội danh trên, bà Phạm Thị Minh Nguyệt, 50 tuổi, cựu kế toán của nhà trường, bị tòa tuyên 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Theo bản án, hội đồng xét xử đưa ra nhiều căn cứ xác định bà Bình tổ chức dạy, học thêm không theo quy định. Thời điểm tổ chức dạy thêm cách đây 13 năm, giai đoạn 2013 - 2014.
Theo cáo buộc, khi bà Bình làm Hiệu trưởng, Trường THCS Ba Đình tổ chức dạy thêm khi không có đơn tự nguyện đăng ký của học sinh kèm xác nhận của cha mẹ.
Việc tổ chức dạy thêm, chia theo lớp chính khóa để nâng mức tiền thu là không đúng quy định. Số tiền thu vượt quy định hơn 1 tỉ đồng và cựu hiệu trưởng hưởng lợi 78 triệu đồng.
Tòa án cho rằng vụ án này "không chỉ có yếu tố vụ lợi vật chất" mà bà Bình còn "vụ lợi phi vật chất". Căn cứ tòa án đưa ra là cựu hiệu trưởng được "nâng cao uy tín" cá nhân khi "nâng cao thu nhập cho giáo viên". Bởi giáo viên dạy thêm được nhận 70% tiền học phí dạy thêm, 30% còn lại nộp về trường chi cho công tác quản lý và chi điện nước, cơ sở vật chất.
Tuy nhiên tòa cũng nhìn nhận số tiền thực tế chi cho cựu Hiệu trưởng Bình rất nhỏ, vụ án xảy ra đã lâu, tính nguy hiểm không cao. Số tiền bị cáo thu vượt quy định là muốn tăng thu nhập cho giáo viên, nâng cao năng lực cho học sinh.
Quá trình điều tra và xét xử, bà Bình được nhiều giáo viên, phụ huynh ghi nhận sự đóng góp với nhà trường, với ngành giáo dục và xin giảm nhẹ.
Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bà Bình tiếp tục kêu oan và khóc khi phân trần "điều đau nhất không chỉ là bị truy tố, mà cả quãng đời làm nghề giáo bị đặt dưới một bóng đen rất nặng nề".
Tại tòa, nữ cựu hiệu trưởng nghẹn giọng phân trần "chưa bao giờ tổ chức dạy thêm sai quy định".
Về thực trạng "chia lớp" để dạy thêm, bà Bình trình bày đây là "phương pháp sư phạm để đảm bảo chất lượng dạy học, không có phụ huynh nào có ý kiến". Mức thu 15.000 đồng một tiết, theo bà xuất phát từ đề xuất, thỏa thuận với phụ huynh để "đảm bảo quyền lợi cho cả học sinh và giáo viên".