Bộ Công Thương vừa có Quyết định 963, thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia.
Theo đó, khung cao điểm áp dụng vào các ngày trong tuần (trừ Chủ nhật), từ 17h30 đến 22h30, tương ứng 5 giờ mỗi ngày. Giờ bình thường gồm hai khung từ 6h đến 17h30 và từ 22h30 đến 24h, tổng cộng là 13 giờ mỗi ngày. Giờ thấp điểm kéo dài từ 0h đến 6h hàng ngày.
Riêng Chủ nhật không có giờ cao điểm, giờ bình thường liên tục từ 6h đến 24h.
Như vậy, các khung giờ này có sự thay đổi so với hiện hành. Hiện, giờ cao điểm chia 2 khung, kéo dài cả ban ngày và tối (9h30-11h30 và 17h-20h). Trong khi đó, giờ thấp điểm từ 22h đến 4h sáng hôm sau, còn lại là khung bình thường.
Theo quyết định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tổ chức triển khai áp dụng các khung giờ trên toàn hệ thống. Trước 15/12 hàng năm, hoặc khi có biến động lớn về nhu cầu sử dụng điện, EVN phải báo cáo Bộ Công Thương để đề xuất điều chỉnh phù hợp.
Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) phối hợp cung cấp dữ liệu về công suất, sản lượng và vận hành hệ thống để làm cơ sở tính toán, xác định các khung giờ. Đơn vị này cũng có trách nhiệm báo cáo, đề xuất điều chỉnh khi cần thiết.
Các khung giờ sử dụng điện là căn cứ quan trọng để tính giá điện theo thời gian. Thông thường, giờ cao điểm có giá cao nhất, thấp điểm có giá thấp nhất, nhằm khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu tiêu thụ điện.
Quy định này áp dụng chủ yếu với nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh theo biểu giá điện theo thời gian sử dụng. Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện trên toàn hệ thống đang áp dụng cơ chế này, liên quan trực tiếp đến đo đếm, lập hóa đơn và thanh toán điện năng.
Trước đó, Bộ Công Thương cho biết việc điều chỉnh lại khung giờ cần thiết để phản ánh đúng diễn biến cung – cầu điện trong bối cảnh mới, đặc biệt khi tỷ trọng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió ngày càng lớn.
Thực tế, khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường hiện hành đã áp dụng 12 năm. Từ 2019, cấu trúc cung – cầu điện đã thay đổi đáng kể cùng với sự gia tăng nhanh của điện mặt trời, năng lượng tái tạo. Trong đó, tỷ trọng nhu cầu sử dụng điện cho công nghiệp tăng từ khoảng 30% lên hơn 50%, trong khi dân dụng – sinh hoạt giảm từ khoảng 50% xuống gần 33%. Những thay đổi này làm biến động rõ rệt nhu cầu sử dụng điện theo từng thời điểm trong ngày, khiến khung giờ hiện hành dần không còn phù hợp.
Cơ quan này cũng cho rằng, xác định hợp lý các khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ giúp nâng hiệu quả sử dụng hệ thống điện. Thông qua cơ chế giá điện theo thời gian, khách hàng có động lực điều chỉnh hành vi tiêu thụ, giảm dùng điện vào giờ cao điểm và chuyển sang các khung thấp điểm hoặc bình thường, qua đó tối ưu chi phí và giảm áp lực lên hệ thống.
Sáng 20/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế: thu nhập cá nhân (TNCN), giá trị gia tăng (VAT), thu nhập doanh nghiệp và tiêu thụ đặc biệt.
Theo đó, Chính phủ đề xuất không quy định "cứng" ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhập cá nhân, VAT của hộ kinh doanh như hiện hành. Hiện mức này là 500 triệu đồng, áp dụng từ đầu năm nay theo Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi). Ngoài ra, mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có thể do Chính phủ quy định, không cố định tại luật.
Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Tài chính Phan Văn Mãi cho biết đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban nhất trí có thể điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải chịu thuế của hộ kinh doanh. Tuy nhiên, ông Mãi đề nghị cần cân nhắc kỹ mức miễn thuế cụ thể.
Theo ông, nhiều ý kiến cho rằng mức 500 triệu đồng còn thấp, trong đó Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa đề xuất tới 3 tỷ đồng. Vì vậy, Ủy ban Kinh tế Tài chính đề nghị nghiên cứu ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh tối thiểu khoảng 2 tỷ đồng để đảm bảo tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn.
"Chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ thực chất, tránh điều chỉnh nhỏ lẻ, manh mún, chưa phản ánh đầy đủ tinh thần hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân", ông Mãi nói. Bởi theo ông, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ đóng góp ngân sách mà còn giữ vai trò rất lớn trong tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì sức sống của nền kinh tế.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2022-2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, đóng góp khoảng 2% tổng thu ngân sách. Riêng năm ngoái, số thu thuế từ khu vực này đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ.
Giải thích thêm sau đó, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nói việc giao Chính phủ quy định ngưỡng doanh thu chịu thuế là giải pháp cần thiết để bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành.
Ông cho hay từ đầu năm đến nay, tình hình thế giới khiến kinh tế trong nước có nhiều biến động. Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí đầu vào đi lên, làm giảm sức mua, khiến hộ kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Theo ông Tuấn, ban đầu, cơ quan soạn thảo dự kiến giữ quy định cụ thể trong luật. "Nhưng trước diễn biến khó lường của tình hình quốc tế, nhất là biến động giá năng lượng và rủi ro đứt gãy nguồn cung, việc giao Chính phủ quyết định trong từng thời điểm sẽ giúp phản ứng chính sách nhanh, sát thực tiễn hơn", Bộ trưởng Tài chính lý giải.
Ông khẳng định trong bối cảnh hiện nay, nếu không có cơ chế đủ linh hoạt để điều chỉnh các ngưỡng thuế, phí, thì "rất khó bảo đảm mục tiêu vừa tăng trưởng hai con số, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô".
Kết thúc phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan thẩm tra để hoàn thiện hồ sơ dự án luật, trình Quốc hội.
Dự thảo Luật này sẽ được báo cáo để Quốc hội bổ sung vào chương trình kỳ họp thứ nhất, khóa XVI đang diễn ra.
Bà Vũ Thị Chân Phương - Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - chia sẻ thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội quan trọng.
Việc FTSE Russell nâng hạng chứng khoán Việt lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp không chỉ mang ý nghĩa về mặt kỹ thuật xếp hạng mà còn mở ra cơ hội rất lớn để thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế quy mô lớn, đặc biệt là các quỹ đầu tư dài hạn và các quỹ đầu tư thụ động toàn cầu.
Lộ trình nâng hạng từ FTSE Russell có thể diễn ra từ tháng 9. Tuy nhiên, mục tiêu tiếp theo mang tính trung và dài hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam là được MSCI xem xét nâng hạng.
Theo Chứng khoán Vietcap (VCI), MSCI sẽ công bố kết quả Đánh giá khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu vào ngày 19/6 và Đánh giá phân loại thị trường thường niên vào ngày 24/6. Cả hai thông báo sẽ được công bố ngay sau 3h30 (giờ Việt Nam).
MSCI (Morgan Stanley Capital International) là công ty nghiên cứu đầu tư của Mỹ, nhà cung cấp chỉ số chứng khoán toàn cầu được sử dụng rộng rãi nhất thế giới để đo lường hiệu suất thị trường. Việc được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi là "tấm vé thông hành" giúp Việt Nam thu hút hàng tỷ USD vốn ngoại và nâng cao vị thế thị trường chứng khoán toàn cầu.
Trong đó, Báo cáo Đánh giá khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu cập nhật đánh giá đối với tất cả các thị trường và so sánh với kỳ đánh giá năm 2025. Mục tiêu của báo cáo là đánh giá và theo dõi sự tiến triển về khả năng tiếp cận tại từng thị trường riêng lẻ, đồng thời thông tin cho các cơ quan quản lý thị trường về những lĩnh vực mà các nhà đầu tư tổ chức toàn cầu nhận thấy chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và mong muốn được cải thiện.
Báo cáo này đánh giá 5 tiêu chí về khả năng tiếp cận thị trường sau đây: Độ mở đối với sở hữu nước ngoài; mức độ thuận lợi của dòng vốn vào và ra; hiệu quả của khuôn khổ vận hành; mức độ sẵn có của các công cụ đầu tư; tính ổn định của khuôn khổ thể chế.
Còn Đánh giá phân loại thị trường thường niên cung cấp một số điểm nhấn chọn lọc từ kỳ đánh giá của MSCI bao gồm việc tái phân loại thị trường, khởi xướng các cuộc tham vấn về khả năng tái phân loại các thị trường và các cập nhật về khả năng tiếp cận thị trường.
Chuyên gia của Chứng khoán Vietcap cho rằng thị trường đang theo dõi sát khả năng MSCI khởi động quá trình tham vấn để xem xét nâng hạng Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi.
Theo báo cáo của SSI Research, Việt Nam có khả năng cao được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng (Watchlist) của MSCI trong kỳ đánh giá tháng 6. Thị trường đã đáp ứng 10/18 tiêu chí về khả năng tiếp cận thị trường của MSCI và đang tiếp tục cải thiện các tiêu chí còn lại.
Một số bước tiến đáng chú ý gồm việc triển khai cơ chế non-prefunding (mua bán cổ phiếu không cần ký quỹ), lộ trình áp dụng cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) và mở rộng công cụ tạo vị thế bán thông qua hợp đồng tương lai chỉ số VN30. Bên cạnh đó, mức độ công bố thông tin bằng tiếng Anh từ phía cơ quan quản lý và doanh nghiệp niêm yết cũng được cải thiện.
Về giới hạn sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu nước ngoài thực tế trên sàn HOSE đã tăng từ 41,4% lên 46% trong tháng 4, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp vốn hóa lớn mới niêm yết với tỷ lệ “room ngoại” 100%.
Nhờ đó, 17/18 tiêu chí của MSCI đã tiệm cận mức đáp ứng cơ bản. Thách thức còn lại chủ yếu liên quan đến việc tự do hóa thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, đây không được xem là rào cản tuyệt đối, bởi nhiều thị trường mới nổi hiện nay của MSCI cũng chưa hoàn toàn đáp ứng tiêu chí này.
Đáng chú ý, các thảo luận gần đây về việc cho phép ngân hàng thương mại cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá được xem là tín hiệu tích cực, qua đó củng cố thêm triển vọng Việt Nam được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng của MSCI.
“Tin tưởng Việt Nam có cơ sở để tiếp tục theo đuổi mục tiêu MSCI”
Ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch SSI - nói điều kiện của MSCI cao và khó hơn nhiều so với FTSE Russell. Tuy nhiên, ông cho rằng nếu không bắt đầu thì sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu.
Bước đầu tiên, Chủ tịch SSI nói Việt Nam cần được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng (Watchlist). Sau đó, thị trường sẽ tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí mà MSCI yêu cầu để tiến tới nâng hạng chính thức.
Với kinh nghiệm đã có trong quá trình làm việc với FTSE Russell, ông Hưng tin tưởng Việt Nam có cơ sở để tiếp tục theo đuổi mục tiêu MSCI. Khả năng được đưa vào danh sách theo dõi có thể sẽ sớm xảy ra và các điều kiện còn lại cũng sẽ từng bước được hoàn thiện.
Chủ tịch SSI cũng nhấn mạnh, nhiều người cho rằng FTSE hay MSCI là bên “quyết định” nâng hạng. Tuy nhiên, nâng hạng là kết quả của cả quá trình nỗ lực từ phía Việt Nam để đáp ứng các tiêu chí quốc tế. Bản thân các tổ chức xếp hạng cũng mong muốn có thêm những thị trường đủ điều kiện để nâng hạng chứ không phải cố tình gây khó khăn. Thời gian qua, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có nhiều nỗ lực cải thiện các tiêu chí theo yêu cầu của FTSE và MSCI.
Theo thống kê của Tuổi Trẻ Online, 40 công ty chứng khoán (CTCK) ghi nhận tổng lợi nhuận gần 7.600 tỉ đồng trong quý 1-2026, thấp nhất trong 4 quý gần đây.
Dù vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, bức tranh chung cũng phản ánh những điểm kém tích cực của thị trường chứng khoán quý đầu năm.
Cụ thể, đã có tới khoảng 17/40 doanh nghiệp thua lỗ hoặc suy giảm kết quả kinh doanh so với cùng kỳ năm ngoái.
Một loạt công ty ghi nhận kết quả kém khả quan như EVS lỗ 157,5 tỉ đồng, VDS lỗ 24,2 tỉ đồng, SBS lỗ 5,2 tỉ đồng hay OCBS lỗ 3,475 tỉ đồng.
Hầu hết các doanh nghiệp đều giải trình việc thua lỗ do ảnh hưởng của hoạt động tự doanh. Cá biệt, EVS cho biết phải trích lập với cổ phiếu NVB dù đây thực tế là tài sản đảm bảo được thu hồi từ các khoản nợ "xấu".
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt về phí môi giới và cho vay margin, nhiều CTCK đẩy mạnh tự doanh để cải thiện hiệu quả ROE.
Tuy nhiên, khi thị trường biến động, đặc biệt dưới tác động của yếu tố địa chính trị như cuộc chiến tại Trung Đông, danh mục đầu tư dễ bị ảnh hưởng, buộc doanh nghiệp phải trích lập dự phòng, kéo lợi nhuận đi xuống.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc khối ngân hàng đầu tư tại Chứng khoán An Bình (ABS) - cho rằng tự doanh là "con dao hai lưỡi".
Các CTCK tập trung vào môi giới và cho vay margin ít chịu ảnh hưởng hơn trong giai đoạn vừa qua, trong khi những đơn vị đẩy mạnh đầu tư tài chính lại đối mặt rủi ro lớn hơn khi thị trường đảo chiều.
Không chỉ các công ty nhỏ, nhiều doanh nghiệp có thế mạnh tự doanh cũng ghi nhận suy giảm. Chẳng hạn, VIX giảm hơn 60% lợi nhuận so với cùng kỳ, trong khi CTS giảm trên 30%.
Trong khi đó, một đơn vị có thế mạnh về tự doanh khác là Chứng khoán SHS cũng mới công bố chiến lược giảm phụ thuộc vào mảng tự doanh (từ 52-55% còn khoảng 35%) để đẩy mạnh cho vay margin, ngân hàng đầu tư.
Tân CEO của SHS, ông Nguyễn Duy Linh cho biết sẽ tránh gây "cú sốc" cho thị trường và sẽ cân nhắc hành động dựa trên chất lượng doanh nghiệp, điều kiện thị trường.
Bên cạnh tự doanh, mảng cho vay margin, trụ cột quan trọng của ngành, cũng đang đối mặt áp lực. Dù dư nợ cho vay tiếp tục tăng và lập kỷ lục mới, biên lợi nhuận (NIM) của hoạt động này lại có xu hướng thu hẹp.
Tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, Tổng giám đốc Nguyễn Thị Thu Hiền của Chứng khoán TCBS - đơn vị có dư nợ lớn nhất ngành, cho biết doanh nghiệp này vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng cho vay, thậm chí mới huy động thêm gần 500 triệu USD từ các tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, bà Hiền cũng lưu ý NIM đang mỏng đi do mặt bằng lãi suất tăng so với đầu năm, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cốt lõi này.
Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng cơ cấu khách hàng cũng góp phần làm giảm hiệu quả cho vay. Dư nợ vẫn mở rộng ở nhóm khách hàng lớn nhưng đặc điểm của nhóm này thường đòi hỏi mức lãi suất ưu đãi hơn.
"Trong khi đó, nhóm "hào phóng" hơn là nhà đầu tư cá nhân lại đang hạn chế sử dụng đòn bẩy trong bối cảnh vĩ mô có nhiều biến động, khiến hiệu quả từ hoạt động cho vay margin kém đi", ông Minh phân tích.
Điều này khiến hai trụ cột chính của CTCK đều chịu áp lực: tự doanh tiềm ẩn rủi ro lớn, còn cho vay margin lại bị bào mòn biên lợi nhuận.