Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước – những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 – đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt – Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao “hậu chiến” sang ngoại giao “tương lai”.
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge – William Colby, cựu Giám đốc CIA – từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: “Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?”. Tôi cười lớn và đáp: “Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai”.
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt – Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người “lính già” như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là “một đối tác chiến lược toàn diện” không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là “kẻ thù cũ”, mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến “Trung Quốc cộng một” cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một “vết thương tâm lý” cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin – những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là “lăng kính song phương hẹp”. Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một “điểm nút thắt” quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống – từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 – cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: “Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng”.
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược “Friend-shoring” (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp “cầm lái” chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Trong cuộc đua lên mặt trăng, Liên Xô liên tục phá vỡ giới hạn của nhân loại: đưa vật thể đầu tiên chạm mặt trăng, chụp bức ảnh đầu tiên về vùng tối của mặt trăng, là nước đầu tiên hạ cánh mềm xuống mặt trăng và đưa xe tự hành đầu tiên lên mặt trăng. Nhưng chỉ một khoảnh khắc của phi hành gia Mỹ Neil Armstrong đã xóa mờ tất cả.
Ngày 13.9.1959, tàu Luna 2 đâm vào bề mặt mặt trăng với vận tốc 3,3 km/giây, đánh dấu cột mốc vật thể nhân tạo đầu tiên trong lịch sử chạm tới một thiên thể khác. Chỉ 3 tuần sau, tàu Luna 3 gửi về những bức ảnh đầu tiên chụp mặt tối của mặt trăng, tiết lộ rằng vùng khuất này gần như chỉ là cao nguyên đầy các hố va chạm. Đây là điều hoàn toàn khác biệt với mặt sáng mà nhân loại luôn nhìn thấy.
Tháng 2.1966, Luna 9 trở thành tàu đầu tiên hạ cánh mềm thành công sau 11 lần thất bại được giấu kín, gửi về những tấm ảnh đầu tiên chụp từ bề mặt một thiên thể khác, đồng thời chứng minh bề mặt mặt trăng đủ cứng để chịu tải. Điều này khẳng định bề mặt mặt trăng không có lớp bụi dày đến mức có thể nuốt chửng tàu vũ trụ như nhiều nhà khoa học lo ngại trước đó.
Kịch tính hơn, khi đó đài thiên văn Jodrell Bank của Anh đang theo dõi hoạt động của Luna 9 đã giải mã tín hiệu và công bố ảnh trước cả Moscow. Các nhà khoa học tại Jodrell Bank thu được tín hiệu, họ mượn máy fax của tờ Daily Express để in ra ảnh từ tín hiệu thu được. Ảnh được in ở Anh trước khi Liên Xô chính thức phát hành rộng rãi.
Một số nhà sử học tin rằng các kỹ sư Liên Xô cố tình dùng chuẩn máy fax vô tuyến quốc tế để phương Tây có thể xác minh độc lập sự kiện chấn động này, cho thấy một hành động khoa học vượt lên trên chính trị.
Bốn năm sau, chiếc xe tự hành Lunokhod 1 lăn bánh trên mặt trăng, là robot đầu tiên di chuyển trên một thiên thể ngoài trái đất. Nó được thiết kế để hoạt động trong 3 tháng nhưng sau đó đã chạy được đến 322 ngày, đi hơn 10 km. "Người kế nhiệm" của nó là Lunokhod 2 đã lập kỷ lục quãng đường khoảng 39 - 42 km. Kỷ lục này đứng vững suốt 40 năm, mãi đến năm 2014 mới bị xe Opportunity trên sao Hỏa của NASA phá vỡ.
Ba bi kịch liên tiếp đã làm sụp đổ giấc mộng mặt trăng của Liên Xô. Trước hết, kỹ sư Sergei Korolev, người được ví như bộ não kết nối toàn bộ chương trình, qua đời trên bàn mổ vào tháng 1.1966, gần 3 tuần trước khi Luna 9 hạ cánh thành công.
Tiếp theo đó, mâu thuẫn cá nhân giữa các nhà khoa học và hạn chế kỹ thuật buộc tên lửa N1 phải dùng 30 động cơ nhỏ thay vì 5 động cơ lớn. Quyết định này đã khiến cho tất cả 4 lần phóng N1 đều nổ tung, trong đó vụ nổ ngày 3.7.1969 xảy ra đúng 13 ngày trước khi Apollo 11 rời bệ phóng, phá hủy toàn bộ tổ hợp phóng và bị Liên Xô giấu kín suốt 20 năm.
Những gương phản xạ laser mà Lunokhod để lại trên mặt trăng vẫn đang hoạt động đến ngày nay, giúp đo khoảng cách giữa Trái Đất và mặt trăng với sai số chỉ vài mm. Các xe tự hành hiện đại, từ Perseverance trên sao Hỏa đến Hằng Nga của Trung Quốc, đều ít nhiều chịu ảnh hưởng về triết lý và kiến trúc kỹ thuật mà Luna khai sinh.
Trong khi đó, nhiều người khẳng định bước chân lịch sử của Neil Armstrong hay người đồng hành Buzz Aldrin trên mặt trăng chỉ là màn kịch vụng về tại Hollywood.
Những người theo thuyết âm mưu này bám vào hình ảnh lá cờ tung bay trên mặt trăng để khẳng định gió không thể thổi trong môi trường chân không. Tuy nhiên, theo kho lưu trữ dữ liệu từ NASA, lá cờ thực chất được thiết kế với một thanh ngang để luôn xòe rộng. Chính động tác xoay lắc khi cắm cờ của phi hành gia, cộng với quán tính trong môi trường không có lực cản không khí, đã khiến mảnh vải nylon tiếp tục đung đưa một khoảng thời gian dài.
Bên cạnh yếu tố này còn có hoài nghi về bầu trời không sao. Theo lý giải từ NASA, tuy bầu trời màu đen, thực tế đó là ban ngày trên mặt trăng và ánh sáng mặt trời cực kỳ chói lóa. Giống việc chụp ảnh trên trái đất, khi chụp ảnh ngoài trời vào buổi trưa nắng gắt, bạn phải chụp với tốc độ cực nhanh và khép khẩu độ máy ảnh. Ánh sao yếu ớt không có đủ thời gian in lên nhũ tương phim và bầu trời mặt trăng trong các bức ảnh NASA không có ngôi sao nào là vì lý do đó.
Mặt khác, các chuyên gia cũng khẳng định rằng việc làm giả thước phim quay chậm mượt mà để phát sóng trực tiếp là điều hoàn toàn bất khả thi với công nghệ truyền hình thuở ấy.
Cảnh sát Australia hôm 7/4 bắt cựu quân nhân Ben Roberts-Smith, 47 tuổi, tại sân bay Sydney với 5 cáo buộc về tội ác chiến tranh, liên quan 5 dân thường bị sát hại ở Afghanistan trong giai đoạn 2009-2012. Mỗi tội danh có mức án tối đa 5 năm tù.
Cảnh sát liên bang Australia cho biết các nạn nhân không phải lực lượng tham gia xung đột vào thời điểm xảy ra sự việc. Họ bị giam, không mang vũ khí và nằm dưới quyền kiểm soát của binh sĩ Australia.
Theo cáo trạng, Roberts-Smith đã trực tiếp bắn các nạn nhân hoặc lệnh cho cấp dưới làm điều này dưới sự chứng kiến của mình.
Roberts-Smith bị từ chối bảo lãnh và bị giam qua đêm ở trại Silverwater, phía tây Sydney. Phiên điều trần về xin tại ngoại được tổ chức sáng 8/4, song Roberts-Smith không xuất hiện theo hình thức trực tuyến hay trực tiếp.
Jordan Portokalli, luật sư của Roberts-Smith, nói với tòa rằng sẽ không nộp đơn xin thả cựu quân nhân này, mà đề nghị tổ chức phiên điều trần trực tiếp trong hôm nay.
Thẩm phán Lucas Swan ra lệnh đưa vụ án ra xem xét tiếp vào ngày 4/6, đồng nghĩa Roberts-Smith sẽ phải ngồi tù cho đến thời điểm đó nếu đội ngũ bào chữa không thể xin tổ chức điều trần sớm hơn.
Các cáo buộc được đưa ra sau khi cảnh sát liên bang Australia mở cuộc điều tra chung với Văn phòng Điều tra viên Đặc biệt, bộ phận được thành lập để xem xét những nghi vấn về sai phạm mang tính hình sự của binh sĩ Australia. Cuộc điều tra bắt đầu từ năm 2021.
Roberts-Smith liên tục phủ nhận cáo buộc cho rằng bản thân có hành vi sai trái trong thời gian tại ngũ.
Ben Roberts-Smith là cựu thành viên Trung đoàn Đặc nhiệm (SASR) tinh nhuệ của Australia, được ca ngợi là "anh hùng quốc gia" vì những hành động trong 6 đợt triển khai tới Afghanistan năm 2006-2012.
Đây được coi là cựu binh còn sống có nhiều thành tích nhất của Australia và đã được trao tặng hàng loạt huân chương, trong đó có huân chương Chữ thập Victoria, phần thưởng cao quý nhất dành cho các thành viên lực lượng vũ trang Anh và Khối Thịnh vượng chung.
Theo các báo cáo từ chính quyền Ukraine, Nga đã tiến hành đợt tấn công lớn nhằm vào nhiều khu vực. Trong đêm ngày 6, rạng sáng 7.4, Ukraine đã vô hiệu hóa 77 trong số 110 máy bay không người lái (UAV) Nga.
Theo Bộ Tổng tham mưu Ukraine ngày 7.4, đã có 150 cuộc giao tranh giữa lực lượng Nga và Ukraine trong 24 giờ, với tâm điểm là hướng giao tranh ở mặt trận Pokrovsk, tỉnh Donetsk, miền đông Ukraine. Kyiv nêu rằng đợt tập kích UAV của Nga vào thành phố Nikopol, tỉnh Dnipropetrovsk đã đánh trúng 1 xe buýt, làm 4 người chết và 16 người bị thương. Ngoài ra, khu vực Korabelnyi ở tỉnh Kherson, miền nam Ukraine cũng ghi nhận thiệt hại, Ukrainska Pravda đưa tin.
Quân đội Ukraine cho biết đã đáp trả với loạt tấn công cảng dầu Ust-Luga của Nga ở tỉnh Leningrad trong ngày 7.4. Bộ Tổng tham mưu Ukraine nêu rằng vụ tấn công đã gây thiệt hại cho 3 bể chứa ở cơ sở trên, thuộc sở hữu của Công ty Transneft-Baltika (Nga).
Trong khi đó, giới chức Nga cáo buộc Ukraine tập kích vào trường học ở khu vực do Nga kiểm soát tại tỉnh Zaporizhzhia, phía đông nam Ukraine. Giới chức Nga tại Zaporizhzhia nói rằng trường học đã bị tập kích bằng UAV Ukraine và có 6 người bị thương. Quân đội Nga tuyên bố đã đánh chặn 217 UAV Ukraine, theo TASS.
Nga và Ukraine không bình luận về tuyên bố của đối thủ. Hai bên cũng phủ nhận tấn công dân thường và hạ tầng dân sự.
Kyiv Post ngày 7.4 đưa tin Hải quân Ukraine đã sử dụng một loạt tên lửa chống hạm công nghệ cao của Thụy Điển để phá hủy một giàn khoan dầu trên biển Đen do lực lượng Nga kiểm soát.
Video do Lực lượng Hải quân Ukraine công bố cho thấy hình ảnh ít nhất hai vật thể giống tên lửa tấn công giàn khoan Sivash. Quân đội Ukraine nói rằng Nga đã sử dụng giàn khoan bỏ hoang này để giám sát không phận, hỗ trợ tác chiến điện tử và làm bệ phòng không.
Truyền thông Ukraine tiết lộ các cuộc tấn công được thực hiện bằng tên lửa RBS-15 Gungir, một loại vũ khí chống hạm tầm xa do Thụy Điển thiết kế và được phát triển bởi Tập đoàn Saab Bofors Dynamics. Các hãng truyền thông quân sự tại Nga và Ukraine ngày 7.4 nêu rằng loại tên lửa này đã được sử dụng trong cuộc chiến.
RBS-15 Gungir dài 4,3 m và có thể được phóng từ tàu, máy bay hoặc mặt đất. Vũ khí này nặng khoảng 650 kg với khả năng “bắn rồi quên”, tức kíp phóng không cần can thiệp để điều chỉnh đường bay sau khi khai hỏa.
Trang tin quân sự Militarnyi của Ukraine hôm 6.4 đã xác nhận việc phóng tên lửa RBS-15 đã được hé lộ trong video trên, cho biết thêm Ukraine và Thụy Điển đã ký một thỏa thuận vào năm 2024 về việc chuyển giao các hệ thống này.
Bộ Ngoại giao Nga và Điện Kremlin đã đồng loạt đưa ra cảnh báo cứng rắn tới các quốc gia vùng Baltic bao gồm Estonia, Latvia và Lithuania. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova và người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cáo buộc các nước trên tiếp tay cho UAV Ukraine mượn không phận để tấn công các hạ tầng xuất khẩu dầu của Nga trên biển Baltic. Phía Moscow đe dọa sẽ áp dụng các biện pháp đáp trả trực tiếp, bao gồm cả phương án quân sự, nếu tình trạng này không chấm dứt.
Cả 3 nước Baltic đều kiên quyết bác bỏ cáo buộc của Nga. Bộ Quốc phòng Latvia gọi đây là thông tin "hoàn toàn vô căn cứ". Quan chức quân đội Estonian Ants Kiviselg cho biết đã làm việc với Kyiv để đảm bảo UAV của Ukraine không bay qua lãnh thổ các nước thành viên liên minh quân sự NATO.
Theo Kyiv Post, các đợt tấn công của Ukraine ngày 6-7.4 nhằm vào cảng dầu Ust-Luga đã theo lộ trình từ các địa điểm ở tỉnh Chernihiv hoặc Sumy, miền bắc Ukraine, bay qua các tỉnh Bryansk, Smolensk và Novgorod của Nga, trước khi tiếp cận cảng dầu ở Leningrad.