Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước – những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 – đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt – Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao “hậu chiến” sang ngoại giao “tương lai”.
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge – William Colby, cựu Giám đốc CIA – từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: “Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?”. Tôi cười lớn và đáp: “Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai”.
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt – Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người “lính già” như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là “một đối tác chiến lược toàn diện” không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là “kẻ thù cũ”, mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến “Trung Quốc cộng một” cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một “vết thương tâm lý” cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin – những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là “lăng kính song phương hẹp”. Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một “điểm nút thắt” quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống – từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 – cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: “Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng”.
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược “Friend-shoring” (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp “cầm lái” chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Theo The Independent ngày 3.4, nhà chức trách đã khởi tố 32 người, trong đó có 11 người bị bắt, chủ yếu là các nhân sự điều hành công ty cứu hộ trên đỉnh Everest ở Nepal. Vụ việc được cho là đã ảnh hưởng đến 4.782 nhà leo núi quốc tế trong giai đoạn 2022 - 2025, với hơn 300 ca cứu hộ giả và tổng số tiền gian lận gần 20 triệu USD.
Các nhà điều tra Nepal cho biết đường dây này có sự tham gia của nhiều đối tượng trong "hệ sinh thái leo núi", bao gồm hướng dẫn viên, công ty du lịch, đơn vị trực thăng và cả ban lãnh đạo tại nhiều cơ sở y tế.
Liên quan thủ đoạn lừa đảo, các nhà điều tra cho biết các hướng dẫn viên đã sử dụng nhiều phương pháp để buộc du khách phải sơ tán bằng trực thăng. Cụ thể, các hướng dẫn viên của các công ty du lịch leo núi bị cáo buộc đã đầu độc du khách bằng cách bỏ bột nở vào thức ăn để gây ra các triệu chứng rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng, giống như say độ cao hoặc ngộ độc thực phẩm. Một số nạn nhân khác bị cho uống các loại thuốc đi kèm với lượng nước quá mức để kích phát các triệu chứng bệnh lý.
Sau khi xuất hiện các triệu chứng bất thường, các nạn nhân bị ép "vào thế" phải xuống núi và chấp nhận với việc sơ tán khẩn cấp bằng trực thăng với chi phí tốn kém. Các doanh nghiệp liên quan tiếp tục lập hồ sơ y tế và giấy tờ chuyến bay giả để yêu cầu bồi thường từ các công ty bảo hiểm quốc tế.
Hóa đơn còn bị "thổi phồng" khi mỗi hành khách bị tính phí như một chuyến bay riêng, dù thực tế nhiều người được vận chuyển cùng lúc. Các bệnh viện cũng tiếp tay bằng cách lập báo cáo điều trị giả cho những du khách thực tế không hề nhập viện.
Cục Điều tra trung ương (CIB) của cảnh sát Nepal cho biết các hành vi phạm tội đã gây tổn hại đến "niềm tự hào, uy tín và nhân phẩm quốc gia của Nepal trên trường quốc tế". Vụ bê bối cũng làm dấy lên lo ngại về tính minh bạch của ngành du lịch - lĩnh vực đang tạo ra hơn 1 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp tại Nepal.
Trong những năm gần đây, một số công ty bảo hiểm quốc tế lớn đã ngừng cung cấp bảo hiểm cho khách du lịch leo núi ở Nepal do tình trạng gian lận ngày càng gia tăng.
Năm 2018, chính phủ Nepal tuyên bố đã loại bỏ tất cả các "trung gian" tham gia vào việc sắp xếp sơ tán khẩn cấp cho khách du lịch, yêu cầu các công ty du lịch chịu trách nhiệm pháp lý và báo cáo chi tiết mọi ca sơ tán hoặc điều trị y tế đối với khách hàng của họ trong suốt chuyến đi, theo New York Post.
Tuy nhiên, theo ông Manoj Kumar KC, người đứng đầu đơn vị chống tội phạm có tổ chức của cảnh sát Nepal, tình trạng gian lận vẫn tiếp diễn do chế tài chưa đủ sức răn đe. "Khi không có biện pháp nào chống lại tội phạm, nó sẽ phát triển mạnh. Tình trạng lừa đảo bảo hiểm cũng phát triển mạnh mẽ vì điều đó", ông nói.
"Các chuyên gia thuộc Tập đoàn Máy bay Thống nhất (UAC) đã bắt đầu hoạt động thử nghiệm bay với tiêm kích tàng hình hai chỗ ngồi Su-57D. Chuyến bay thử đầu tiên, do phi công thử nghiệm Sergei Bogdan điều khiển, đã hoàn thành và đáp ứng các mục tiêu đề ra theo kế hoạch ", UAC cho biết hôm nay.
Video được công bố cho thấy nguyên mẫu Su-57D mang số hiệu 055 Xanh trong quá trình chuẩn bị, cất cánh và hạ cánh dưới sự giám sát của một máy bay Su-57. Cánh đuôi đứng có hình ảnh phiên bản Su-57 hai chỗ ngồi, kèm biểu tượng nhiều máy bay không người lái chiến đấu (UCAV) như S-70 Okhotnik và tên lửa hành trình.
"Ngoài các đặc tính chiến đấu độc đáo, Su-57D còn có thể đóng vai trò máy bay huấn luyện chiến đấu và chỉ huy tác chiến", Phó thủ tướng Nga Denis Manturov nhận xét.
Vadim Badeha, giám đốc điều hành UAC, cho biết hãng đang tiếp tục cải tiến và mở rộng chức năng trên Su-57. Ông bày tỏ tin tưởng biến thể hai chỗ ngồi sẽ "đóng góp đáng kể cho thành công của Su57 trên thị trường xuất khẩu".
Thông tin được công bố vài ngày sau khi xuất hiện hình ảnh chiếc Su-57D chạy thử tốc độ cao trên mặt đất. Đồ họa thiết kế Su-57D từng được truyền thông Nga công bố hồi năm 2023, nhưng đây là lần đầu xuất hiện hình ảnh máy bay thực tế.
Su-57D là tiêm kích thế hệ 5 thứ hai trên thế giới có phiên bản hai chỗ ngồi. Mẫu máy bay đầu tiên là J-20S của Trung Quốc, lần đầu xuất hiện trong ảnh chụp hồi năm 2021.
Thomas Newdick, biên tập viên chuyên trang quân sự Mỹ War Zone, nhận định mẫu tiêm kích này thể hiện nỗ lực của Sukhoi nhằm biến Su-57 thành phương tiện chỉ huy và kiểm soát, tham gia phối hợp giữa phi cơ có người lái và UCAV trong tương lai.
"Bổ sung thành viên thứ hai có thể giảm đáng kể khối lượng công việc cho phi công trong nhiệm vụ cường độ cao, liên quan đến điều khiển đội hình UAV, tác chiến điện tử và hiệp đồng tấn công. Phi công thứ hai có thể sẽ điều khiển đội hình phi cơ S-70 Okhotnik mà Nga từng thử nghiệm với Su-57 một chỗ ngồi", Newdick cho biết.
Theo Newdick, vị trí buồng sau trên Su-57D sẽ buộc nhà sản xuất chỉnh sửa khoang chứa thiết bị điện tử hàng không, hệ thống nhiệm vụ và thùng dầu trong thân. Thay đổi về hình dáng bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tàng hình và hiệu suất hoạt động của máy bay.
Tuy nhiên, nhà sản xuất dường như chấp nhận đánh đổi những điều này để nâng cao hiệu quả tác chiến của máy bay.
Su-57 là tiêm kích thế hệ 5 đầu tiên của Nga, được thiết kế để cạnh tranh với dòng F-22, F-35 Mỹ và J-20 Trung Quốc. Su-57 được phủ vật liệu hấp thụ sóng radar và có thiết kế tối ưu cho khả năng tàng hình trước thiết bị trinh sát điện tử. Mỗi phi cơ mang được tổng cộng 6 vũ khí trong thân, bao gồm 4 quả ở hai khoang bụng và hai tên lửa ở hai khoang bên hông.
Tập đoàn Sukhoi bắt đầu phát triển phiên bản nâng cấp Su-57M sau khi Bộ Quốc phòng Nga ký hợp đồng mua 76 tiêm kích Su-57 vào tháng 10/2018. Nguyên mẫu T-50M bay thử nghiệm vào giữa năm 2022, nhưng chưa rõ thời điểm bắt đầu sản xuất hàng loạt.
Algeria là khách hàng nước ngoài đầu tiên đặt mua Su-57 với phi đội gồm 12 chiếc. Ít nhất hai tiêm kích trong số này đã được bàn giao và bay thử.
Sáng qua (20.6, giờ VN), trang tin Axios dẫn lời một số quan chức tiết lộ rằng Đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff và Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi sẽ đến Thụy Sĩ để đàm phán sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và người đồng cấp Iran Masoud Pezeshkian ký bản ghi nhớ (MoU) ngày 17.6. Cuộc đàm phán dự kiến bắt đầu vào ngày 19.6 nhưng đã bị hoãn do giao tranh giữa Israel và lực lượng Hezbollah ở Li Băng.
Việc ngừng giao tranh ở Li Băng được xem là điều kiện tiên quyết để khởi động giai đoạn đàm phán kéo dài 60 ngày nhằm giải quyết các tranh chấp về chương trình hạt nhân của Tehran và những vấn đề gai góc khác cần thiết để đạt thỏa thuận lâu dài. Trong cuộc điện đàm với người đồng cấp Pakistan ngày 19.6, Ngoại trưởng Araqchi nói rằng Mỹ sẽ phải chịu trách nhiệm về bất kỳ vi phạm nào đối với các cam kết theo MoU, bao gồm cả việc chấm dứt giao tranh ở Li Băng, theo Bộ Ngoại giao Pakistan.
Sau cuộc giao tranh ngày 19.6, một quan chức Mỹ thông báo Israel và Hezbollah đồng ý ngừng bắn từ 16 giờ cùng ngày. Đại sứ Israel tại Mỹ Yechiel Leiter cho biết Tel Aviv sẽ tuân thủ thỏa thuận ngừng bắn nếu Hezbollah tôn trọng các điều khoản.
Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau, Israel tiến hành loạt cuộc tấn công vào miền nam Li Băng suốt đêm và đến sáng 20.6, khiến 5 người chết, theo Hãng thông tấn Li Băng NNA. Quân đội Israel tuyên bố ngày 20.6 đã tấn công các mục tiêu của Hezbollah ở miền nam Li Băng để đáp trả các vụ phóng tên lửa đêm trước đó từ lực lượng này. Trong khi đó, nghị sĩ Hassan Fadlallah thuộc Hezbollah hôm qua khẳng định lực lượng này có quyền đáp trả các cuộc tấn công của Israel, theo AFP.
Trong lúc giao tranh tiếp diễn, tờ The Washington Post dẫn lời một số quan chức và cựu quan chức Mỹ tiết lộ rằng các cơ quan tình báo nước này cảnh báo với chính quyền Tổng thống Trump rằng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu có thể sẽ thực hiện những bước đi làm suy yếu nỗ lực của Washington trong việc đạt thỏa thuận hòa bình lâu dài với Iran. Theo các báo cáo tình báo, Israel dường như có ý định duy trì các hoạt động quân sự chống Hezbollah ở Li Băng. Nếu như vậy, ông Netanyahu không chỉ đe dọa thỏa thuận Mỹ - Iran mà còn có thể phá vỡ mối quan hệ giữa Tel Aviv với Washington.
Báo cáo tình báo cũng kết luận rằng trước thềm cuộc bầu cử vào tháng 10.2026, tương lai chính trị của Thủ tướng Netanyahu gắn liền với việc chứng minh cho cử tri trong nước thấy rằng ông sẽ không rút quân khỏi Li Băng. Báo cáo còn phản ánh rằng bất kỳ việc dừng chiến sự hay rút quân khỏi Li Băng cũng sẽ bị dư luận Israel coi là thất bại của ông Netanyahu. Ngày 19.6, ông Netanyahu tuyên bố quân đội Israel sẽ ở lại Li Băng tới "chừng nào còn cần thiết". Quân đội Israel đang kiểm soát hơn 518 km2 lãnh thổ Li Băng.
Ngoài ra, một cựu quan chức cho hay tài liệu trên hàm chứa nhận thức của Tel Aviv rằng thỏa thuận Mỹ - Iran có thể hạn chế hoạt động quân sự của Israel trước Hezbollah. Giới chức Mỹ khẳng định các điều khoản không ngăn cản Israel trả đũa Hezbollah nếu bị tấn công, và những lo ngại của ông Netanyahu không đáng kể so với nhu cầu hoàn thành một thỏa thuận và mở lại eo biển Hormuz, theo The Washington Post.