Tôi là một nhân viên văn phòng bình thường. Và cũng giống như hàng triệu người dùng di động khác tại Việt Nam lúc này, tôi đang mắc một hội chứng tâm lý mới: ám ảnh tiếng chuông điện thoại. Mỗi ngày của tôi bắt đầu không phải bằng tiếng chim hót hay chuông báo thức, mà bằng những cuộc gọi từ các số máy lạ hoắc, từ các sim “rác” với đầu số 056, 059, 02483, 02883, 02889… Nội dung toàn là lừa đảo đầu tư, mời chào mua hàng khuyến mãi, mời vay tiền trên các app “đen” đến đòi nợ khủng bố dù tôi không vay.
Từ sáng đến tối, bất kể giờ giấc, ngày nghỉ hay lễ Tết, tôi đều bị hàng trăm số điện thoại tổng đài ảo thay phiên nhau “khủng bố”. Chúng băm nát sự tập trung, phá hỏng những giấc ngủ và vắt kiệt sự kiên nhẫn của tôi. Là một người am hiểu công nghệ ở mức cơ bản, tôi đã làm đủ biện pháp được khuyến cáo để tự bảo vệ mình. Nhưng kết quả nhận lại chỉ là sự bất lực tột cùng.
Tôi đã chủ động chặn số lạ, nhưng điều đó dường như vô ích vì chúng dùng hệ thống tổng đài ảo (Voice IP), mỗi lần gọi là một dải số khác nhau, đầu số khác nhau. Tôi chặn số này, thì chỉ vài phút sau số khác lại gọi đến, như nấm sau mưa. Tôi tiếp tục dùng tính năng chặn theo tiền tố (block prefix) trên điện thoại và tải cả các ứng dụng nhận diện cuộc gọi rác nhưng kết quả vẫn thế. Các đối tượng này liên tục lách luật bằng cách sử dụng các đầu số di động cá nhân “rác” hoặc thay đổi dải số tổng đài liên tục khiến các bộ lọc AI cũng phải “đầu hàng”. Thậm chí, nhiều lần chúng còn dùng công nghệ để ẩn bớt số “0” ở đầu các số để thay đổi tiền tố.
Mỗi khi nhận cuộc gọi rác, tôi cặm cụi nhắn tin phản ánh qua đầu số 5656, 156. Tôi đăng ký luôn số điện thoại của mình vào danh sách không nhận quảng cáo (DNC). Vậy mà, những cuộc gọi “rác” ấy không hề thuyên giảm, thậm chí còn có dấu hiệu tăng lên với thái độ thách thức, hung hăng hơn.
>> Tôi quyết không chuyển lại 50.000 đồng cho người lạ ‘nạp tiền điện thoại nhầm’
Đến đây, tôi buộc phải đặt ra một câu hỏi lớn: Sự bảo vệ của nhà mạng dành cho người tiêu dùng đang ở đâu? Tại sao một vấn nạn nhức nhối suốt nhiều năm nay lại không thể giải quyết dứt điểm? Hãy nhìn thẳng vào sự thật, không một hệ thống tổng đài ảo hay dải số viễn thông nào có thể tự nhiên hoạt động nếu không có sự cung cấp hạ tầng từ các nhà mạng.
Nhà mạng nắm trong tay công nghệ cốt lõi, nắm quyền kiểm soát băng thông, lưu lượng và phân tích hành vi cuộc gọi. Một đầu số cá nhân hoặc một tổng đài doanh nghiệp vừa kích hoạt đã thực hiện hàng nghìn cuộc gọi ngắn trong một ngày, tỷ lệ bị từ chối cao, thuật toán của nhà mạng hoàn toàn thừa sức nhận diện đó là “rác”. Nhưng tại sao họ không chặn đứng ngay từ đầu? Phải chăng vì những tổng đài ảo, những chiến dịch gọi điện hàng loạt ấy mang lại nguồn doanh thu khổng lồ cho chính các doanh nghiệp viễn thông?
Về phía cơ quan quản lý, tôi đã nghe rất nhiều về các đợt “ra quân”, xử phạt, chuẩn hóa thông tin thuê bao chính chủ. Nhưng thực tế chứng minh, các biện pháp hành chính hiện tại chưa đủ sức răn đe. Việc chế tài xử phạt vài chục triệu đồng với một công ty quảng cáo viễn thông là quá nhỏ bé so với lợi nhuận họ thu được từ việc bán dữ liệu và spam khách hàng.
Chúng tôi trả tiền hàng tháng để mua dịch vụ viễn thông, mong muốn có một công cụ liên lạc tiện ích, chứ không phải trả tiền để bị tra tấn tinh thần. Để giải quyết vấn nạn này, tôi thiết nghĩ cơ quan quản lý cần có những biện pháp mạnh tay và thực chất hơn, đánh thẳng vào gốc rễ vấn đề.
Thứ nhất, cần quy trách nhiệm trực tiếp cho người đứng đầu nhà mạng nếu để tỷ lệ cuộc gọi “rác”, tổng đài ảo vượt mức cho phép. Cơ quan quản lý cần cấm nhà mạng đó phát triển thuê bao mới hoặc cung cấp dịch vụ tổng đài trong một thời gian nhất định. Chỉ khi đánh vào “nồi cơm” và thị phần, các nhà mạng mới thực sự dọn dẹp hệ thống của mình thay vì nhắm mắt làm ngơ thu tiền.
Thứ hai, cần siết chặt điều kiện cung cấp dịch vụ tổng đài ảo (SIP Trunking, Voice IP). Doanh nghiệp muốn đăng ký tổng đài gọi ra số lượng lớn bắt buộc phải sử dụng Voice Brandname (hiển thị tên thương hiệu) và phải ký quỹ. Nếu vi phạm quy định gọi điện quấy rối, họ sẽ bị tước giấy phép kinh doanh, thu hồi toàn bộ dải số và tịch thu tiền ký quỹ.
Thứ ba, minh bạch hóa kết quả phản ánh. Hàng triệu tin nhắn gửi về 156, 5656 mỗi năm cần được công khai thống kê: đã xử lý bao nhiêu? Bao nhiêu số bị khóa? Nhà mạng nào đang chứa chấp nhiều số rác nhất? Người dân cần thấy phản ánh của mình có giá trị thay vì cảm giác đang “ném đá ao bèo”. Đã đến lúc các nhà mạng ngừng đùn đẩy trách nhiệm và đưa ra những lời hứa hẹn. Và cơ quan chức năng phải “nâng cấp” hình phạt lên gấp bội với việc này.
Xin đừng để hàng triệu người dân mỗi ngày phải tự vật lộn trong mớ bòng bong của “rác” viễn thông, trong khi những kẻ trục lợi vẫn nhởn nhơ đếm tiền trên sự phiền toái của người khác.
Anh TKNhà mạng làm ngơ khi khách hàng bị sim rác ‘tra tấn’
‘Nhà mạng phải diệt SIM rác thay vì bắt người dùng nhập số CMND’
Năm 2021, công ty tôi làm thủ tục giải thể sau thời gian kinh doanh không hiệu quả. Tôi nghĩ quy trình có thể mất vài tháng vì còn phải rà soát nghĩa vụ thuế, đối chiếu hồ sơ.
Nhưng đến nay đã là tháng 5/2026, tức gần 5 năm trôi qua, doanh nghiệp vẫn ở tình trạng "03 - ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế".
Điều khiến tôi mệt mỏi nhất không phải là phải bổ sung giấy tờ hay thực hiện nghĩa vụ tài chính, mà là cảm giác không có một mốc thời gian cụ thể nào để biết hồ sơ của mình đang ở đâu và bao giờ mới được xử lý xong.
Thời điểm nộp hồ sơ ban đầu, phía thuế cho biết cần chờ cán bộ xem xét. Sau nhiều năm, hồ sơ vẫn chưa có tiến triển rõ ràng và doanh nghiệp tiếp tục ở trạng thái treo.
Gần đây tôi trực tiếp lên cơ quan thuế để hỏi hồ sơ đang vướng ở đâu. Tôi được hướng dẫn sang tổ kiểm tra để hoàn tất bước kiểm tra thuế vì công ty từng có phát sinh doanh thu. Tại đây, cán bộ cho điền một mẫu thông tin rồi nói về chờ liên hệ tiếp để được hướng dẫn.
Tôi hỏi: "Dự kiến bao lâu nữa sẽ có cán bộ gọi hướng dẫn?". Câu trả lời là: "Chưa biết".
Có lẽ nhiều người sẽ nghĩ doanh nghiệp có phát sinh doanh thu thì việc kiểm tra kỹ là cần thiết. Tôi đồng ý. Nhưng điều doanh nghiệp cần không chỉ là một quy trình đúng, mà còn là một lộ trình rõ ràng.
Nếu cần kiểm tra trong ba tháng, sáu tháng hay một năm, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể thông báo để doanh nghiệp chủ động chuẩn bị. Đằng này, điều khiến người làm thủ tục kiệt sức là trạng thái chờ đợi không thời hạn.
Doanh nghiệp dù đã ngừng hoạt động thực tế vẫn bị kẹt trên hệ thống nhiều năm. Người đại diện pháp luật cũng luôn trong trạng thái thấp thỏm vì chưa hoàn tất nghĩa vụ pháp lý. Trong khi đó, nhiều kế hoạch cá nhân và công việc liên quan đều bị ảnh hưởng vì không ai biết hồ sơ sẽ kết thúc lúc nào.
Tôi tình cờ đọc một bài viết với nội dung nói rằng nhiều hồ sơ giải thể hiện nay bị ách tắc ở khâu thuế, có trường hợp kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm chỉ để chờ xác nhận hoàn tất nghĩa vụ. Điều đó khiến tôi nhận ra trường hợp của mình không phải cá biệt.
Bài viết này cũng đề cập thực tế nhiều quy định đã có nhưng thiếu mốc thời gian xử lý rõ ràng trong quá trình thực thi. Đây có lẽ là vấn đề lớn nhất.
Trong thủ tục hành chính, người dân và doanh nghiệp thường chấp nhận việc phải chờ. Nhưng điều khó chấp nhận là chờ mà không biết mình đang chờ điều gì, ai xử lý và bao giờ mới có kết quả.
Tôi nghĩ nhiều doanh nghiệp nhỏ như chúng tôi không mong được ưu tiên hay linh động. Điều cần nhất chỉ là sự minh bạch về tiến độ.
Nếu hồ sơ đang nằm ở bộ phận nào, cần bổ sung gì, dự kiến bao lâu xử lý xong, hãy có cơ chế thông báo rõ ràng. Nếu tồn đọng do quá tải nhân sự hoặc quy trình phối hợp, cũng nên có cách cập nhật để người dân không phải liên tục đi hỏi trong vô vọng.
Một doanh nghiệp làm ăn thất bại đã là điều không ai mong muốn. Nhưng việc muốn đóng lại cho đúng quy định mà kéo dài hết năm này sang năm khác khiến cảm giác mệt mỏi còn lớn hơn.
Giải thể doanh nghiệp về bản chất cũng là một quyền hợp pháp, giống như quyền thành lập doanh nghiệp. Khi người dân muốn hoàn thành nghĩa vụ để khép lại hoạt động kinh doanh một cách minh bạch, họ cần một quy trình có thời hạn, có trách nhiệm và có người theo dõi rõ ràng.
Không nên để tình trạng "muốn đóng cũng không biết khi nào mới đóng được" trở thành nỗi ám ảnh chung của những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động.
Tôi là nữ, độc thân, năm nay 27 tuổi. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi làm việc ở Việt Nam 3 năm với mức lương 10-14 triệu đồng một tháng (mới tốt nghiệp 10 triệu đồng và tăng dần lên 14 triệu đồng).
Vì yêu thích văn hóa Nhật, tôi quyết định sang Nhật vào năm 25 tuổi. Hiện tôi đang làm việc ở Nhật diện visa kỹ sư, trình độ tiếng Nhật N2. Mức lương hiện tại ở Nhật sau khi trừ các chi phí sinh hoạt, quần áo, mỹ phẩm, thỉnh thoảng du lịch trải nghiệm... thì tôi để dành được khoảng 25-30 triệu đồng một tháng.
Gần đây, mỗi lần gọi điện về nhà, ba mẹ tôi không thúc ép nhưng thường xuyên bày tỏ mong muốn tôi về Việt Nam. Gia đình tôi đang sinh sống tại TP HCM, tôi có đứa em gái đang học đại học, ba mẹ đều đang có việc làm.
Khi còn ở Việt Nam, tôi chỉ phụ một khoản tiền chợ và đảm nhiệm việc nấu nướng cho cả nhà. Từ khi sang Nhật tôi cũng không gửi tiền về nhà hàng tháng, chỉ thỉnh thoảng gửi về đồ dùng, thực phẩm chức năng cho cả nhà dùng, đôi khi lì xì ba mẹ dịp sinh nhật.
Ba mẹ tôi có bốn căn nhà là tài sản ba mẹ gây dựng được, một căn đang ở và ba căn nhà cho thuê, tổng thu nhập từ tiền thuê nhà khoảng 20 triệu đồng một tháng.
Năm ngoái, sau khi bà ngoại tôi mất, mẹ tôi có chia sẻ là mẹ nhận được 3 tỷ đồng thừa kế. Mẹ bày tỏ mong muốn tôi trở về Việt Nam vì lo tôi ở bên này vất vả, áp lực. Mẹ nói nếu tôi thích Nhật thì đi trải nghiệm tầm 3 năm thôi rồi về tìm công việc gần nhà, làm việc gì nhẹ nhàng thôi cũng được.
Tôi vốn thích nấu ăn, mẹ động viên tôi về rồi sau này nếu thích thì mẹ cho tiền mở tiệm. Ba mẹ tôi không hối thúc tôi lập gia đình, vì ba mẹ hiểu tôi từng chia tay một mối tình sâu đậm, mất nhiều thời gian để vượt qua và hiện tại chưa có duyên đến với ai.
Trước đây tôi nói với gia đình là tôi đi Nhật trải nghiệm, học hỏi một thời gian. Bây giờ ở Nhật được hai năm, hiện tôi đang khá thích cuộc sống ở đây. Công việc áp lực nhưng tôi học hỏi được rất nhiều điều, có thêm nhiều trải nghiệm, còn để dành được nhiều hơn hẳn.
Tính cách tôi hướng nội, làm việc tỉ mỉ, hay chú ý tiểu tiết nên lại cảm thấy thích hợp với văn hóa làm việc cũng như cuộc sống ở Nhật hơn là ở Việt Nam. Tôi cảm thấy chuyên môn của tôi làm việc ở Nhật tốt hơn và có cơ hội phát triển bản thân hơn, không như trước đây tôi làm ở Việt Nam tuy cũng từng làm qua công ty lớn nhưng cách làm việc toàn là kiểu đối phó, đồng nghiệp thì toàn tìm cách dìm hàng lẫn nhau.
Với visa kỹ sư, tôi có thể lựa chọn ở Nhật lâu dài nếu muốn. Tôi cũng có vài dự định ở Nhật, ví dụ như học thêm các chứng chỉ chuyên môn trong công việc, học tiếng Nhật lên N1, lấy bằng lái xe hơi. Tôi muốn phấn đấu vì sau này tôi cũng sẽ tự gây dựng được tài sản, nhà cửa giống ba mẹ tôi, và nếu còn được may mắn, cuộc sống dư dả không có biến động gì thì tôi sẽ mở bếp ăn từ thiện.
Tôi đang nghĩ mỗi năm về nhà ăn Tết một lần chứ nếu nói về Việt Nam hẳn thì tôi đang rất băn khoăn. Tôi cũng có lúc nhớ nhà, cũng muốn ở gần ba mẹ và em gái, lúc rảnh thì đi cà phê với bạn bè.
Tuy nhìn chung tôi vẫn thích Nhật nhưng ở đâu cũng có mặt trái của nó. Đôi lúc stress, áp lực chỉ dám khóc một mình vì dù sao chính tôi đã nhất quyết lựa chọn con đường này. Gần đây do phải liên tục tăng ca, tôi toàn ăn uống qua loa cho qua bữa, dẫn đến mắc chứng thiếu máu, tôi cũng không dám chia sẻ với ai. Về sự nghiệp lâu dài, ở Nhật ổn về thu nhập nhưng khá khó để thăng tiến lên cấp quản lý.
Nếu về Việt Nam thì tôi ước tính mức lương tôi ở tầm 15-20 đồng một tháng, dựa vào các mối quan hệ cũ, cộng thêm tiếng Nhật, tôi nghĩ sẽ không quá khó để tìm việc khi quay về và cũng có hy vọng thăng tiến hơn. Tôi chỉ mới có dự định phát triển ở môi trường doanh nghiệp, chưa có ý định kinh doanh lúc này vì cảm thấy bản thân còn nhiều thứ phải học hỏi.
Tôi nghe ba mẹ nói muốn tôi về thì tôi thương ba mẹ, và cũng hiểu rằng bản thân tôi nên đưa ra quyết định sớm để xác định hướng đi và lên kế hoạch cho tương lai. Mong các cô chú, anh chị, bạn độc giả cho tôi lời khuyên. Tôi xin cảm ơn.
Người thợ may này là chỗ quen biết của gia đình tôi. Hơn hai mươi năm trước, thay vì vào đại học hay đi làm công nhân, cô quyết định học nghề may. Số tiền học nghề khi đó tương đương vài chỉ vàng, là khoản đầu tư không hề nhỏ đối với một gia đình nông thôn. Sau khi học xong, cô mở tiệm tại nhà.
Đến nay, khi nhiều người cùng thời đã nghỉ việc hoặc liên tục chuyển nghề, cô vẫn sống tốt bằng chiếc máy may của mình. Tay nghề càng cao, khách càng đông.
Chỉ cần đo số đo, vẽ rập, cắt và may, cô có thể tạo ra những bộ đồ vừa vặn với từng người. Điều quan trọng hơn là hiện nay rất khó tìm được một người may giỏi như vậy.
Trước Tết, tôi đi chợ quê, ghé vào một sạp mua vài mét vải may áo bà ba làm quà cho mẹ. Những tấm vải đẹp, hoa văn đa dạng, màu sắc bắt mắt. Người mua chỉ cần nói với chủ sạp là họ cắt cho một khúc vải đủ may áo bà ba. Tiền vải chỉ khoảng 120 nghìn đồng.
Về nhà, mẹ tôi bảo nếu muốn có áo mặc Tết thì phải đặt may từ tháng 10 âm lịch. Còn cận Tết thì gần như không kịp nữa. Điều khiến tôi bất ngờ hơn là tiền công may một chiếc áo bà ba là 350 nghìn đồng, gần gấp ba lần tiền vải. Ngay cả những tháng bình thường, khách cũng phải chờ hơn một tháng mới nhận được đồ.
Đúng là trên các sàn thương mại điện tử, ao bà ba may sẵn bán rất nhiều, nhưng nhiều người vẫn thích may đo trực tiếp. Họ muốn bộ quần áo vừa với cơ thể, đúng kiểu dáng mình thích, mặc thoải mái và bền hơn. Chính nhu cầu tưởng như rất bình thường đó lại tạo ra một thị trường việc làm ổn định cho những người có tay nghề.
Gần nơi tôi sống trên thành phố có một chị chuyên sửa quần áo, lên lai, thay dây kéo, đóng nút, vắt sổ. Tiệm nhỏ nằm trong con hẻm nhưng lúc nào cũng có khách.
Trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đang chật vật tìm việc đúng chuyên môn, không ít nhân viên văn phòng thấp thỏm trước nguy cơ bị AI thay thế, thì những nghề chân tay đòi hỏi kỹ năng thực tế lại đang thiếu nhân lực nghiêm trọng.
Câu chuyện "thừa thầy thiếu thợ" đã được nhắc đến suốt nhiều năm qua. Nhưng dường như xã hội vẫn chưa thật sự thay đổi cách nhìn. Nhiều gia đình vẫn xem đại học là con đường gần như duy nhất dẫn đến thành công.
Học nghề thường bị coi là lựa chọn thứ yếu, thậm chí là giải pháp dành cho những học sinh không đủ khả năng học tiếp. Chính tâm lý đó khiến lượng người trẻ bước vào các ngành nghề kỹ thuật, thủ công, dịch vụ tay nghề ngày càng ít.
Trong khi đó, thị trường lao động lại vận hành theo một quy luật rất đơn giản: nơi nào khan hiếm lao động thì giá trị lao động sẽ tăng lên.
Một người có thể mất bốn năm đại học để cạnh tranh cho một vị trí văn phòng với hàng trăm ứng viên khác. Nhưng cũng có người chỉ cần vài năm học nghề, rèn luyện tay nghề thật tốt là đã có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thậm chí cao hơn mặt bằng chung. Thời gian linh hoạt, có thể vừa làm việc tại nhà, vừa có thời gian đưa rước con đi học.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng phù hợp với nghề may, nghề sửa đồ hay các công việc thủ công khác. Xã hội cần cả kỹ sư, bác sĩ, giáo viên lẫn thợ lành nghề. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đã quá lâu đề cao bằng cấp mà xem nhẹ giá trị của kỹ năng thực hành.
Có phải chúng ta đang dư thừa nhân công ngồi bàn giấy? Và cần những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sửa chữa đồ vật, xây dựng công trình, vận hành máy móc và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống?