Tối 16.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thành phố Nam Ninh (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây), tiếp tục các hoạt động trong chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc.
Tại thành phố Nam Ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp ông Trần Cương, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.
Tại cuộc tiếp, hai bên cùng vui mừng nhìn lại những tiến triển tích cực trong giao lưu, hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương Việt Nam và Quảng Tây thời gian qua, nhất là giao lưu, tiếp xúc giữa các cấp diễn ra thường xuyên, hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học – công nghệ được quan tâm thúc đẩy, Việt Nam liên tục 27 năm là đối tác thương mại lớn nhất của Quảng Tây.
Về hợp tác thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Quảng Tây và các địa phương Việt Nam tạo đột phá trong 5 kết nối chiến lược về chính sách phát triển, kinh tế – thương mại, cơ sở hạ tầng logistics, khoa học công nghệ và nền tảng xã hội.
Theo đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn Quảng Tây phát huy hiệu quả Chương trình Gặp gỡ đầu Xuân giữa các bí thư tỉnh, thành ủy/khu ủy giữa các tỉnh/thành giáp biên, mở rộng hợp tác với các địa phương khác của Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm về chính sách phát triển, quy hoạch địa phương.
Đồng thời, tăng cường giao lưu, thúc đẩy liên kết kinh tế sâu rộng, nhất là về thương mại, cơ sở hạ tầng, bảo đảm thông quan thông suốt, gắn thương mại song phương với kết nối hạ tầng, kết nối logistics, kết nối chuỗi cung ứng và kết nối thị trường. Cùng đó, đẩy nhanh kết nối đa phương thức đường sắt, đường bộ, đường biển, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác đường sắt, trong đó có tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lạng Sơn – Hà Nội và Móng Cái – Hạ Long – Hải Phòng.
Về kết nối khoa học – công nghệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị hai bên đẩy mạnh hợp tác ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), triển khai tại Việt Nam các dự án nông nghiệp xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, chế biến công nghệ cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng mong muốn hai bên hợp tác chặt chẽ, quản lý tốt biên giới trên đất liền, kịp thời giải quyết các vấn đề tồn tại và phát sinh; tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu nhân dân, khai thác tốt tiềm năng du lịch đóng góp vào thành công chung của Năm hợp tác du lịch Việt – Trung 2026 – 2027.
Bày tỏ nhất trí cao với những chỉ đạo quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ông Trần Cương khẳng định Quảng Tây sẽ có chương trình hành động cụ thể nhằm triển khai nhận thức chung giữa hai Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
Ông khẳng định mong muốn hai bên thúc đẩy hơn nữa hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, kết nối hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường sắt, cùng Việt Nam hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao mà Quảng Tây đang tập trung phát triển như AI, dữ liệu lớn.
Theo ông Trần Cương, nông sản chất lượng cao của Việt Nam luôn được người tiêu dùng Quảng Tây ưa thích. Do đó, Quảng Tây sẵn sàng thúc đẩy nhập khẩu nhiều hơn nữa các mặt hàng nông sản không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường Quảng Tây mà còn qua Quảng Tây đến các địa phương khác của Trung Quốc. Ông đề xuất hai bên đẩy nhanh xây dựng thí điểm cửa khẩu thông minh, tạo thuận lợi cho giao thương hàng hóa; tăng cường giao lưu hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Quảng Tây và các địa phương Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước đòi hỏi Đại học (ĐH) Quốc gia Hà Nội phải nỗ lực cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn để thực sự xứng đáng với tầm vóc và sứ mệnh của một ĐH quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mà vận mệnh quốc gia ngày càng được quyết định bởi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người, ĐH Quốc gia Hà Nội càng phải vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, trở thành trụ cột học thuật hàng đầu, trung tâm sáng tạo lớn, lực lượng tiên phong của giáo dục ĐH VN; đồng thời là một gương mặt tiêu biểu, có uy tín của trí tuệ VN trên trường quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải vươn lên thành một ĐH tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình ĐH đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Đồng ý với mục tiêu ĐH Quốc gia Hà Nội đặt ra đến năm 2030 nằm trong nhóm 100 ĐH hàng đầu châu Á và đến 2035 thuộc nhóm 300 ĐH hàng đầu thế giới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị một số ngành mũi nhọn sẽ đứng vào nhóm 100 toàn cầu.
Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, ĐH Quốc gia Hà Nội cần có triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật khai phóng; khẩn trương hoàn thiện khu đô thị ĐH Hòa Lạc theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, kết nối hữu cơ với khu công nghệ cao Hòa Lạc, hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước; có lộ trình cụ thể, phân giao mục tiêu, nhiệm vụ cho từng thành viên, từng đơn vị, nhóm nghiên cứu, định hướng quản lý theo kết quả; đầu tư cho ĐH Quốc gia Hà Nội để xây dựng hạ tầng khoa học hiện đại, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước, quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội phải là nơi dám đi trước, dám thử nghiệm và mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải đi tiên phong trong thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng; cần trở thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia để nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ nền tảng. Các chương trình hành động phải được triển khai quyết liệt, làm đến cùng, đo được kết quả, rõ được hiệu quả; đưa thành tựu đào tạo, nghiên cứu trực tiếp phục vụ đất nước, thủ đô Hà Nội và các địa phương.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành trung tâm kết nối tri thức với phát triển, gắn chặt hơn nữa nhà trường với nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và xã hội; cần chủ động hình thành các chương trình nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo theo đặt hàng lớn của quốc gia; tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, Hà Nội, các địa phương, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và mạng lưới chuyên gia quốc tế.
"ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành "túi khôn" để nhà nước tìm đến khi cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược; là địa chỉ doanh nghiệp tìm đến để cùng phát triển công nghệ, nhân lực và mô hình kinh doanh mới; là nơi xã hội tìm thấy niềm tin vào sức mạnh của tri thức, khoa học và giáo dục VN", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn, ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của ngoại giao học thuật VN. Mỗi cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên cần ý thức sâu sắc rằng mình đang góp phần đại diện cho trí tuệ, văn hóa và phẩm giá VN trong mọi hoạt động học thuật, đối ngoại và giao lưu quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải tổ chức thật tốt việc giáo dục chính trị - tư tưởng sâu rộng trong toàn thể cán bộ và sinh viên về truyền thống đáng tự hào, về vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh của người trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất Bộ Chính trị, Chính phủ những cơ chế, chính sách phát triển đột phá cho ĐH Quốc gia Hà Nội nói riêng và giáo dục ĐH VN nói chung.
Trong đó, đặc biệt chú trọng tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, quản trị, tài chính, nhân lực, tự chủ ĐH, tự do học thuật, đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược; từ đó giúp ĐH Quốc gia Hà Nội phát triển xứng tầm, đồng thời tạo động lực đổi mới mạnh mẽ toàn hệ thống giáo dục ĐH VN trong kỷ nguyên mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng ĐH Quốc gia Hà Nội sẽ tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trở thành biểu tượng của trí tuệ VN, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị sơ kết chính quyền 3 cấp

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị.
Sau một buổi sáng làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, sâu sắc, thẳng thắn, cần nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp trong giai đoạn tới.
Chúng ta thống nhất cao và khẳng định: chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Đây là cuộc cải cách có phạm vi rất rộng, rất khó, rất quyết liệt, tác động đến hầu hết các cơ quan, các cán bộ, công chức, người lao động trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở. Sau một năm, chúng ta đã đi qua giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và năng lực kiến tạo phát triển của bộ máy mới.
Những kết quả nổi bật đã được thể hiện trong báo cáo khá đầy đủ và chi tiết. Tôi nêu khái quát 5 kết quả lớn như sau:
Thứ nhất, bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. Nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian được cắt giảm, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan từng bước được rà soát, điều chỉnh và làm rõ hơn. Việc tổ chức lại các cơ quan Đảng, cơ quan hành pháp, cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập đã được triển khai với quyết tâm chính trị cao, cơ bản bảo đảm tiến độ, yêu cầu đề ra.
Thứ hai, việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. Nhiều cơ chế mới, quy trình mới, phương thức giao việc, đánh giá kết quả và giám sát mới đang được hình thành.
Thứ ba, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. Các hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động của các cơ quan tư pháp, và trật tự, an toàn xã hội cơ bản được duy trì liên tục, không để xảy ra khoảng trống trong quản lý. Cấp tỉnh, cấp xã từng bước thích ứng với chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành mới.
Thứ tư, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. Cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã chủ động ban hành quy chế làm việc, quy trình phối hợp, giao ban, phân công trách nhiệm, hỗ trợ cơ sở, giải quyết những vấn đề phát sinh. Công tác sắp xếp, bố trí, đánh giá cán bộ có nhiều đổi mới, chú trọng năng lực, trình độ gắn với vị trí việc làm; quản trị gắn với dữ liệu, tiến độ và kết quả công việc.
Thứ năm, công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản. Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động ảnh hưởng do sắp xếp bộ máy, nhìn chung, tư tưởng ổn định, cán bộ chấp hành sự phân công của tổ chức, Nhân dân đồng thuận và ủng hộ chủ trương lớn của Đảng.
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các bộ, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cả nước. Trong điều kiện công việc rất lớn, thời gian rất gấp, yêu cầu rất cao, các đồng chí đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm, ý thức tổ chức kỷ luật và quyết tâm vượt khó rất đáng trân trọng.
Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, thỏa mãn. Kết quả đạt được mới là bước đầu. Cuộc cải cách này còn nhiều việc phải tiếp tục thực hiện với quyết tâm cao hơn, cách làm khoa học hơn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn.
Hội nghị đã thống nhất nhận diện một số hạn chế, vướng mắc lớn cần tập trung khắc phục. Ở đây tôi chỉ tóm tắt 07 vấn đề lớn:
Thứ nhất, thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng.
Thứ hai, thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách,… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thứ ba, năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ).
Thứ tư, định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.
Thứ năm, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc.
Thứ sáu, việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển.
Thứ bảy, sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.
Từ những kết quả, hạn chế và yêu cầu thực tiễn đặt ra, tôi đề nghị giai đoạn tới, trọng tâm là nâng cao chất lượng vận hành của mô hình mới, cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật tất cả các lĩnh vực, và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống rất, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức thực hiện ở cả 3 cấp chính quyền (không để tình trạng luật này thông mà luật kia lại nghẽn). Việc sửa luật phải xuất phát từ điểm nghẽn thực tế. Các cơ quan Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải tiếp tục rà soát toàn diện các quy định, quy chế, quy trình liên quan đến tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Không để chồng chéo, trùng lắp, khoảng trống hoặc tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm cuối cùng.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội . Cấp ủy phải lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng thể chế, bằng công tác cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nhưng không làm thay, không buông lỏng, không can thiệp hành chính không cần thiết vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động tổ chức Đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh tập trung vai trò chiến lược, quy hoạch, điều phối, phân bổ nguồn lực, tổ chức không gian phát triển, kiểm tra, giám sát và liên kết vùng. Cấp xã phải được tổ chức như tuyến đầu của quản trị công: tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp; đồng thời phát hiện sớm các vấn đề về an sinh, trật tự, đất đai, xây dựng, môi trường, dịch vụ công và các rủi ro phát sinh tại địa bàn. Tiếp tục rà soát tổ chức bộ máy, biên chế, cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp quy mô dân số, diện tích, mức độ đô thị hóa, đặc điểm vùng miền và khối lượng công việc, không áp dụng cào bằng. Nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đô thị hạt nhân trong tỉnh, thành phố, có thẩm quyền và công cụ phù hợp để điều phối hạ tầng, dịch vụ công, không gian kinh tế trọng điểm, liên kết vùng và hình thành các cực tăng trưởng mới.
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Đây là yêu cầu rất quan trọng. Phân cấp, phân quyền phải thực chất, phải bảo đảm cấp được giao nhiệm vụ có đủ thẩm quyền, nhân lực, kinh phí, công cụ quản lý để thực hiện. Khắc phục tình trạng giao việc xuống dưới nhưng không giao đủ điều kiện cần thiết. Phân cấp không phải là chuyển gánh nặng xuống cấp dưới mà là chuyển thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, có kiểm soát. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Coi năng lực thực thi của cấp xã là thước đo kiểm định thành công của mô hình mới. Khẩn trương hoàn thiện vị trí việc làm, đánh giá năng lực, sở trường, kinh nghiệm của cán bộ để bố trí đúng người, đúng việc. Tăng cường cán bộ có năng lực, chuyên môn sâu về cơ sở, nhất là lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư, tài chính, công nghệ thông tin, thanh tra, tư pháp, giáo dục, y tế, quản lý đô thị, v.v… Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, luân chuyển, tổ công tác hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Đồng thời, có chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế khuyến khích phù hợp để cán bộ yên tâm công tác, nhất là địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Phải coi dữ liệu là tài sản, là nguồn lực, là nền tảng của quản trị hiện đại. Khẩn trương chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu, khắc phục tình trạng phần mềm cục bộ, dữ liệu phân tán, cán bộ phải thao tác trên quá nhiều hệ thống. Chuyển đổi số trong mô hình mới là thiết kế lại phương thức điều hành, từ dữ liệu gốc và hồ sơ công việc đến quy trình liên thông, bảng điều hành theo thời gian thực và cơ chế giám sát trách nhiệm. Chuyển đổi số phải nâng cao hiệu suất công việc, giải quyết thủ tục nhanh hơn, chính xác hơn, chi phí thấp hơn, thiết thực hơn với người dân, doanh nghiệp. Phải giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lặp lại những thông tin Nhà nước đã có.
Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Sau sắp xếp, MTTQ và các đoàn thể phải thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung về cơ sở, cần có cơ chế tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi thường xuyên ý kiến của người dân, doanh nghiệp về chất lượng phục vụ của bộ máy mới, coi đây là một kênh giám sát xã hội quan trọng đối với hiệu quả vận hành của chính quyền cơ sở, tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tám, xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp. Phải coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khẩn trương hoàn thiện phương án xử lý từng cơ sở nhà, đất, tài sản công dôi dư. Tài sản còn sử dụng được phải được tận dụng hiệu quả. Tài sản không còn phù hợp cần chuyển đổi công năng, điều chuyển hoặc xử lý minh bạch, đúng quy định; ưu tiên phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội và các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Đối với hồ sơ, tài liệu, phải có kế hoạch bảo quản, số hóa và khai thác phù hợp; tuyệt đối không để thất lạc, hư hỏng, lãng phí hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp.
Thứ chín, đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. Phải tăng cường nắm tình hình từ cơ sở, kết hợp kiểm tra trực tiếp với giám sát dựa trên dữ liệu, phát hiện sớm, xử lý sớm các vấn đề, không để những khó khăn nhỏ tích tụ thành những vấn đề lớn. Cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi vận hành mô hình mới, bao gồm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên, số lượng vụ việc phát sinh được phát hiện sớm và xử lý sớm. Có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung khi đã làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch, có căn cứ chuyên môn và không vụ lợi. Đồng thời xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đổi mới để vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc né tránh trách nhiệm.
Thứ mười, đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng. Trước mắt, phải tập trung hoàn thiện phương án phân định trách nhiệm, xử lý dứt điểm các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đồng bộ, bảo đảm kế thừa, ổn định, liên tục, không để khoảng trống trong quản lý nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đời sống Nhân dân.
Chúng ta tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng người có năng lực nổi trội; trên cơ sở kết quả đánh giá, thực hiện nguyên tắc cán bộ có vào, có ra, có lên, có xuống; xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản trị mới, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Các đồng chí thân mến,
Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra.
Tôi đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện báo cáo, dự thảo kết luận và chương trình hành động. Mỗi nhiệm vụ phải rõ nội dung, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm. Đồng thời, phải rõ chỉ số đánh giá kết quả, rõ cơ chế theo dõi tiến độ và rõ chế độ báo cáo định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Những việc thuộc thẩm quyền của Trung ương phải được nghiên cứu, quyết định kịp thời. Những việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải được triển khai ngay, không để ách tắc, không để kéo dài, không để cơ sở phải chờ đợi. Những công việc đã được phân cấp cho cấp xã phải được hướng dẫn kịp thời, cụ thể, không để cơ sở phải chờ đợi, lúng túng trong tổ chức thực hiện.
Tinh thần nhất quán là: Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp- phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp. Tôi tin tưởng rằng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp sẽ tiếp tục được hoàn thiện, vận hành hiệu quả, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân.
Chúc các đồng chí sức khỏe, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới, quyết tâm đưa chủ trương cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại buổi lễ, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Nguyễn Hoàng Anh đã công bố Quyết định của Chủ tịch nước bổ nhiệm 5 Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước ngoài.
Theo quyết định, ông Trịnh Minh Mạnh, Trưởng ban Đào tạo đại học và sau đại học, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ấn Độ, kiêm nhiệm Cộng hòa Dân chủ Liên bang Nepal và Vương quốc Bhutan.
Bà Nguyễn Hương Trà, quyền Viện trưởng, Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vương quốc Bỉ, kiêm nhiệm Đại Công quốc Luxembourg và Đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên minh châu Âu.
Ông Doãn Khánh Tâm, Phó giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên.
Bà Châu Mai Anh, Phó cục trưởng Cục Lễ tân Nhà nước và Phiên dịch đối ngoại, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Liên bang Thụy Sĩ, kiêm nhiệm Công quốc Liechtenstein.
Ông Nguyễn Thành Lê, Phó viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao, được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Kazakhstan, kiêm nhiệm Cộng hòa Kyrgyzstan, Cộng hòa Tajikistan và Georgia.
Trao quyết định bổ nhiệm và giao nhiệm vụ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, các đại sứ phải nhận thức sâu sắc trọng trách của mình, phát huy bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, góp phần đưa quan hệ Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, bền vững và hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, đối ngoại càng phải gắn chặt với tiến trình phát triển, đối ngoại phải mở đường cho phát triển, góp phần hóa giải những thách thức, tranh thủ được những nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cùng với quốc phòng, an ninh phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả.
Để thực hiện yêu cầu nhiệm vụ, các đại sứ phải nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; giữ vững và làm sâu sắc thêm cục diện đối ngoại, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế.
Thúc đẩy quan hệ với các nước đi vào chiều sâu, nhất là các nước láng giềng, đối tác lớn, đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống; kiên trì xây dựng lòng tin, giữ đối thoại, thúc đẩy hợp tác và xử lý khéo léo các khác biệt.
Đồng thời, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Đối ngoại góp phần giữ nước từ khi chưa nguy, tạo dựng một môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, phải đưa ngoại giao kinh tế, khoa học, công nghệ và phục vụ phát triển vào vị trí trung tâm; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển khoa học, công nghệ và mở rộng thị trường.
Các cơ quan đại diện phải trở thành các "trạm rada" phát hiện cơ hội, là cầu nối với các trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ, đồng thời cũng là điểm tựa cho các doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Các đại sứ cần sớm xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng địa bàn, xác định rõ thế mạnh, nhu cầu, cơ hội hợp tác, nguồn lực và kết quả phải chuyển từ "hoạt động sang sản phẩm"; từ "tư duy quan hệ sang tạo ra giá trị phát triển".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, các đại sứ phải là người kể câu chuyện Việt Nam một cách thuyết phục, một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng kiên cường, một đất nước đổi mới mạnh mẽ, giàu bản sắc văn hóa, một Việt Nam sẵn sàng đóng góp vào các vấn đề chung của khu vực cũng như là của thế giới. Ngoại giao văn hóa, thông tin, đối ngoại mà công tác người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân phải được triển khai hiệu quả hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, các đại sứ phải xây dựng một tập thể thống nhất, kỷ luật, tận tụy, có văn hóa công vụ và có tinh thần phụng sự đất nước; phải biết tập hợp, điều phối lực lượng trong các cơ quan đại diện, phát huy sức mạnh tổng hợp, tránh chồng chéo, mọi hoạt động phục vụ lợi ích chung của quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các đại sứ sau khi nhận nhiệm vụ, khẩn trương cụ thể hóa các yêu cầu thành chương trình hành động của cơ quan mình, xác định rõ trọng tâm, tiến độ, trách nhiệm và hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng các đại sứ sẽ hoàn thành tốt trọng trách, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia, tranh thủ được nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tin Gốc: Thanh Niên

