Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước đòi hỏi Đại học (ĐH) Quốc gia Hà Nội phải nỗ lực cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn để thực sự xứng đáng với tầm vóc và sứ mệnh của một ĐH quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mà vận mệnh quốc gia ngày càng được quyết định bởi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người, ĐH Quốc gia Hà Nội càng phải vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, trở thành trụ cột học thuật hàng đầu, trung tâm sáng tạo lớn, lực lượng tiên phong của giáo dục ĐH VN; đồng thời là một gương mặt tiêu biểu, có uy tín của trí tuệ VN trên trường quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải vươn lên thành một ĐH tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình ĐH đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Đồng ý với mục tiêu ĐH Quốc gia Hà Nội đặt ra đến năm 2030 nằm trong nhóm 100 ĐH hàng đầu châu Á và đến 2035 thuộc nhóm 300 ĐH hàng đầu thế giới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị một số ngành mũi nhọn sẽ đứng vào nhóm 100 toàn cầu.
Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, ĐH Quốc gia Hà Nội cần có triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật khai phóng; khẩn trương hoàn thiện khu đô thị ĐH Hòa Lạc theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, kết nối hữu cơ với khu công nghệ cao Hòa Lạc, hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước; có lộ trình cụ thể, phân giao mục tiêu, nhiệm vụ cho từng thành viên, từng đơn vị, nhóm nghiên cứu, định hướng quản lý theo kết quả; đầu tư cho ĐH Quốc gia Hà Nội để xây dựng hạ tầng khoa học hiện đại, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước, quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội phải là nơi dám đi trước, dám thử nghiệm và mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải đi tiên phong trong thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng; cần trở thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia để nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ nền tảng. Các chương trình hành động phải được triển khai quyết liệt, làm đến cùng, đo được kết quả, rõ được hiệu quả; đưa thành tựu đào tạo, nghiên cứu trực tiếp phục vụ đất nước, thủ đô Hà Nội và các địa phương.
ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành trung tâm kết nối tri thức với phát triển, gắn chặt hơn nữa nhà trường với nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và xã hội; cần chủ động hình thành các chương trình nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo theo đặt hàng lớn của quốc gia; tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, Hà Nội, các địa phương, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và mạng lưới chuyên gia quốc tế.
“ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành “túi khôn” để nhà nước tìm đến khi cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược; là địa chỉ doanh nghiệp tìm đến để cùng phát triển công nghệ, nhân lực và mô hình kinh doanh mới; là nơi xã hội tìm thấy niềm tin vào sức mạnh của tri thức, khoa học và giáo dục VN”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn, ĐH Quốc gia Hà Nội phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của ngoại giao học thuật VN. Mỗi cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên cần ý thức sâu sắc rằng mình đang góp phần đại diện cho trí tuệ, văn hóa và phẩm giá VN trong mọi hoạt động học thuật, đối ngoại và giao lưu quốc tế. ĐH Quốc gia Hà Nội phải tổ chức thật tốt việc giáo dục chính trị – tư tưởng sâu rộng trong toàn thể cán bộ và sinh viên về truyền thống đáng tự hào, về vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh của người trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất Bộ Chính trị, Chính phủ những cơ chế, chính sách phát triển đột phá cho ĐH Quốc gia Hà Nội nói riêng và giáo dục ĐH VN nói chung.
Trong đó, đặc biệt chú trọng tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, quản trị, tài chính, nhân lực, tự chủ ĐH, tự do học thuật, đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược; từ đó giúp ĐH Quốc gia Hà Nội phát triển xứng tầm, đồng thời tạo động lực đổi mới mạnh mẽ toàn hệ thống giáo dục ĐH VN trong kỷ nguyên mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng ĐH Quốc gia Hà Nội sẽ tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trở thành biểu tượng của trí tuệ VN, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 6.4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua nghị quyết về việc bầu ông Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, làm Chủ tịch Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Trần Thanh Mẫn 64 tuổi, quê Cần Thơ, trình độ tiến sĩ kinh tế. Ông là Ủy viên dự khuyết T.Ư Đảng khóa X; Ủy viên T.Ư Đảng khóa XI, XII, XIII, XIV; Bí thư T.Ư Đảng khóa XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, XIV và là đại biểu Quốc hội các khóa XIII, XIV, XV, XVI.
Ông Trần Thanh Mẫn có nhiều năm hoạt động công tác Đoàn tại Hậu Giang, Cần Thơ.
Từ tháng 7.1994, ông làm Chánh văn phòng, sau đó là Phó chủ tịch, Chủ tịch UBND TP.Cần Thơ.
Từ tháng 1.2011, ông Trần Thanh Mẫn được bầu vào T.Ư Đảng khóa XI, giữ chức Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
Tới tháng 10.2015, ông được bầu làm Phó chủ tịch, rồi Phó chủ tịch - Tổng thư ký Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tháng 4.2021, ông Trần Thanh Mẫn được Quốc hội khóa XIV bầu làm Phó chủ tịch Quốc hội Quốc hội khóa XIV, giữ nhiệm vụ Phó chủ tịch thường trực Quốc hội.
Đến tháng 7.2021, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, ông Trần Thanh Mẫn tiếp tục được Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Phó chủ tịch thường trực Quốc hội.
Tháng 5.2024, ông Trần Thanh Mẫn được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa XV.
Nguồn: https://thanhnien.vn/chu-tich-quoc-hoi-tran-thanh-man-tai-dac-cu-185260405215532819.htm
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các cụ, các vị lão thành, các vị cao niên, đại diện các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, trí thức, văn nghệ sỹ, các vị đại biểu, các vị khách quý và bạn bè quốc tế,
Thưa toàn thể Đại hội và đồng bào trong và ngoài nước.
Hôm nay, tôi rất vui mừng tới dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đây là sự kiện chính trị - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra trong thời điểm đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với thế và lực mới, vận hội mới, đồng thời cũng đứng trước nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới rất lớn.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng Đại hội. Qua Đại hội, tôi gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Thưa Đại hội,
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần này diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 ghi dấu ấn đổi mới mạnh mẽ. Hệ thống chính trị đang vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI là dấu mốc mở đầu chặng đường phát triển mới của Mặt trận, với vị thế mới, mô hình tổ chức mới, yêu cầu nhiệm vụ mới. Đại hội cần xác định rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục là nơi hội tụ lòng dân, phản ánh ý dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của dân, kết nối sức dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Tôi rất đồng tình với chủ đề, phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động mà Đại hội đã đề ra. Chủ đề Đại hội thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, dân chủ, đổi mới, sáng tạo, phát triển; khẳng định vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh chân lý khi dân tộc ta đoàn kết, lòng dân quy tụ, ý chí toàn dân thống nhất, thì đất nước vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, làm nên những kỳ tích mang tính vĩnh cửu. Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh Việt Nam.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển ngày nay, mọi thắng lợi của dân tộc ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sức mạnh vô địch của Nhân dân. Đảng ta mạnh là vì gắn bó máu thịt với Nhân dân. Nhà nước ta vững vì dựa vào Nhân dân. Chế độ ta bền vì được Nhân dân tin tưởng, ủng hộ, bảo vệ và xây dựng.
Trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống tinh thần, mà còn là năng lực phát triển quốc gia; là sức mạnh để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đồng thuận xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đoàn kết trong giai đoạn mới là biết tôn trọng những khác biệt hợp pháp, chính đáng; giải quyết hài hòa lợi ích; lấy mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc làm điểm tương đồng; lấy khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm ngọn cờ quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước.
Trong thời gian qua, dù nhiệm kỳ được rút ngắn, nhưng Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã nỗ lực rất lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Mặt trận đã khẩn trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, chuẩn bị Đại hội lần thứ XI chu đáo, trách nhiệm; đồng thời từng bước vận hành theo mô hình mới, giữ vững hoạt động, bảo đảm ổn định, thông suốt.
Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp Nhân dân được đổi mới; góp phần tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện pháp luật; góp ý Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; tham gia sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các đạo luật quan trọng; tổ chức hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, vận động Nhân dân tham gia bầu cử, góp phần vào thành công của ngày hội lớn của non sông.
Công tác giám sát, phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân có bước chuyển biến. Các phong trào thi đua, cuộc vận động như xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, phong trào "Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát, cứu trợ thiên tai, chăm lo người yếu thế... đã thể hiện sinh động truyền thống nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết của dân tộc ta. Việc phối hợp cùng Chính phủ, các cấp, các ngành hoàn thành xóa hơn 334.000 căn nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước là dấu ấn rất có ý nghĩa; vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ với số tiền trên 4.200 tỉ đồng; vận động quyên góp giúp đỡ nhân dân Cu Ba anh em với số tiền 315 tỉ đồng...
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi ghi nhận, nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những kết quả quan trọng mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên, đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân đã đạt được trong thời gian qua.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác Mặt trận vẫn còn những hạn chế, bất cập. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân có lúc, có nơi chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội. Một số cuộc vận động, phong trào thi đua còn hình thức, hiệu quả chưa đồng đều. Công tác giám sát, phản biện xã hội có nơi còn lúng túng, chất lượng chưa cao; việc theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện có lúc chưa quyết liệt. Việc nắm tình hình Nhân dân, nhất là trên không gian mạng, trong các nhóm xã hội mới chưa bắt kịp tình hình. Chuyển đổi số trong công tác Mặt trận chưa đồng đều, còn mang tính hình thức và chưa thực sự hiệu quả.
Những hạn chế đó cần được nhìn thẳng, nói thật, đánh giá đúng và có giải pháp khắc phục căn cơ. Mặt trận không thể mạnh nếu xa dân; không thể đổi mới nếu chỉ là lời văn trong nghị quyết; không thể đại diện cho Nhân dân nếu không nghe được tiếng nói thật của Nhân dân và nói dân không hiểu; không thể giám sát, phản biện có chất lượng nếu thiếu bản lĩnh, thiếu dữ liệu, thiếu chuyên gia và thiếu cơ chế theo đến cùng các kiến nghị chính đáng.
Trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin nhấn mạnh 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để các đại biểu tham dự Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định.
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, phát triển, là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của công tác Mặt trận.
Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mọi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận đều phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Mặt trận phải lấy Nhân dân làm trung tâm trong mọi hoạt động; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện thực chất phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Hiệu quả công tác Mặt trận không chỉ đo bằng số cuộc họp, số văn bản, số phong trào, số lễ phát động, mà phải đo bằng niềm tin của Nhân dân, sự hài lòng của Nhân dân, mức độ tham gia của Nhân dân, khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, và kết quả cụ thể trong việc làm cho đời sống Nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn.
Mặt trận vừa phải đưa chủ trương đúng của Đảng, chính sách đúng của Nhà nước đến với Nhân dân, vừa phải đưa tiếng nói, nguyện vọng, sáng kiến, bức xúc chính đáng của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, đổi mới phương thức tập hợp, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Xã hội ta đang thay đổi nhanh; cơ cấu giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp, phương thức lao động, không gian sống, cách tiếp cận thông tin của Nhân dân ngày càng đa dạng. Bên cạnh khu dân cư truyền thống, còn có khu công nghiệp, khu nhà trọ công nhân, cộng đồng nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, không gian mạng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nhóm xã hội mới.
Vì vậy, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân cũng phải đổi mới. Không thể chỉ vận động bằng hội nghị, văn bản, khẩu hiệu; phải vận động bằng đối thoại, thuyết phục, lợi ích thiết thực, sự gương mẫu, kết quả cụ thể và khả năng giải quyết những vấn đề Nhân dân quan tâm. Mỗi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận cần chuyển mạnh từ phát động chung sang tổ chức thực hiện cụ thể; từ khẩu hiệu sang kết quả; từ hình thức sang thực chất; bảo đảm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn; đo được kết quả, đo được tác động đối với đời sống Nhân dân.
Mặt trận không làm thay Nhà nước, không làm thay các tổ chức thành viên, càng không được hành chính hóa hoạt động của mình. Mặt trận phải làm đúng vai trò nòng cốt chính trị: quy tụ, hiệp thương, điều phối, giám sát, phản biện, chăm lo, bảo vệ và phát huy sức mạnh Nhân dân. Trong mô hình tổ chức mới, tổ chức có thể tinh gọn hơn, nhưng sức tập hợp phải rộng hơn; bộ máy có thể ít tầng nấc hơn, nhưng hoạt động phải gần dân hơn.
Thứ ba, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Giám sát, phản biện xã hội là chức năng rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; là phương thức để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nâng cao chất lượng chính sách và củng cố niềm tin xã hội.
Giám sát phải chọn đúng vấn đề Nhân dân quan tâm, xã hội bức xúc, chính sách có tác động lớn đến đời sống người dân. Phản biện xã hội phải được thực hiện từ sớm, từ xa, ngay trong quá trình hình thành chủ trương, chính sách; không chỉ góp ý câu chữ, mà phải góp ý về mục tiêu chính sách, tác động xã hội, tính khả thi, nguồn lực thực hiện và lợi ích của Nhân dân.
Phản biện xã hội không phải để làm khó cơ quan nhà nước, mà để chính sách đúng hơn, sát dân hơn, minh bạch hơn, khả thi hơn, nhân văn hơn. Muốn vậy, Mặt trận phải nâng cao bản lĩnh, chất lượng và phương pháp giám sát, phản biện; huy động tốt hơn chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, trí thức, doanh nhân, người có uy tín; dựa trên dữ liệu, khảo sát xã hội và tiếng nói từ cơ sở. Đặc biệt, phải có cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện; không để kiến nghị của Mặt trận chỉ dừng lại ở báo cáo, không để ý kiến chính đáng của Nhân dân rơi vào im lặng.
Thứ tư, chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, củng cố đồng thuận xã hội từ cơ sở. Đại đoàn kết bền vững phải được xây trên nền tảng lợi ích thiết thực của Nhân dân. Khi người dân được chăm lo, được bảo vệ, được tôn trọng, được tham gia, được thụ hưởng, thì đoàn kết mới có gốc sâu, đồng thuận mới có nền chắc, niềm tin mới bền vững.
Mặt trận cần tiếp tục đổi mới các hoạt động chăm lo người nghèo, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người Việt Nam ở nước ngoài gặp khó khăn. Các chương trình an sinh phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng, có giám sát xã hội; không chỉ dừng ở hỗ trợ trước mắt, mà phải hướng tới sinh kế bền vững, kỹ năng, việc làm, giáo dục, y tế và khả năng tự vươn lên.
Mặt trận phải phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc; xây dựng các mô hình tự quản về an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, khuyến học, khuyến tài, chăm sóc người cao tuổi, bảo vệ trẻ em, giữ gìn bản sắc văn hóa. Đồng thuận xã hội không phải là sự im lặng hình thức, mà phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, lắng nghe, đối thoại, giải quyết hài hòa lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân.
Thứ năm, xây dựng Mặt trận hiện đại: tổ chức thông suốt, cán bộ gần dân, chuyển đổi số thực chất, có tầm nhìn dài hạn. Sau khi vận hành mô hình tổ chức mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần chủ động rà soát, tổng kết, đánh giá thực chất những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quan hệ giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên; kịp thời tham mưu, đề xuất hoàn thiện thể chế, bảo đảm hệ thống Mặt trận hoạt động thông suốt, hiệu quả, không chồng chéo, không hành chính hóa, không làm thay.
Công tác Mặt trận là công tác với con người, với lòng dân, với niềm tin xã hội. Cán bộ Mặt trận phải có bản lĩnh chính trị, có tâm với dân, có uy tín trong cộng đồng, có kỹ năng vận động, đối thoại, thuyết phục, phản biện, xử lý tình huống; không được xa dân, không thể chỉ làm việc qua báo cáo; phải đi đến nơi, nghe đến cùng, nói đúng sự thật, kiến nghị đúng chỗ, theo đến cùng kết quả.
Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức mới để Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn, giám sát việc giải quyết kiến nghị của dân minh bạch hơn. Cần vận hành hiệu quả các nền tảng số để Nhân dân có thể phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi; phát triển Cổng Mặt trận số 24/7, tổ chức "Tháng nghe dân nói", triển khai Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.
Đồng thời, Mặt trận cần coi nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng; tham mưu xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; làm rõ hơn cơ sở, nguyên tắc, phương thức và cơ chế phát huy sức mạnh Nhân dân, sức mạnh văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, vai trò của Mặt trận; thật sự tôn trọng, lắng nghe, phối hợp và tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Ý kiến giám sát, phản biện, kiến nghị của Mặt trận phải được coi là kênh quan trọng để hoàn thiện lãnh đạo, quản lý, điều hành. Cấp ủy, chính quyền phải có trách nhiệm tiếp thu, giải trình, phản hồi rõ ràng. Đồng thời, Mặt trận cũng phải nâng cao chất lượng kiến nghị; nói đúng, nói trúng, nói có căn cứ, nói vì lợi ích chung, nói trên tinh thần xây dựng và theo dõi đến cùng việc giải quyết.
Ngay sau Đại hội, đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả; làm sao để tinh thần Đại hội không chỉ nằm trong văn kiện, mà đi vào từng khu dân cư, từng tổ chức thành viên, từng phong trào, từng việc làm thiết thực vì Nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có truyền thống vẻ vang gần một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, với truyền thống vẻ vang đó, với tinh thần đổi mới của Đại hội, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng lòng ủng hộ của các tầng lớp Nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ tiếp tục có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn; xứng đáng là trung tâm tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh vô địch của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đoàn kết một lòng, chung sức, đồng lòng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI; góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Chúng ta hãy luôn khắc ghi lời dạy đó. Hãy làm cho đoàn kết trở thành sức mạnh. Hãy làm cho dân chủ trở thành động lực. Hãy làm cho niềm tin của Nhân dân trở thành nền tảng vững chắc của đất nước.
Xin chúc các quý vị đại biểu, các cụ, các vị và các đồng chí, bạn bè quốc tế mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.
Chúc Đại hội thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn./.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 19.5.2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ 20, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ 21. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.
Trước hết, tư tưởng "dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống nhân dân.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
Tin Gốc: Thanh Niên

