UBND TPHCM vừa ban hành quyết định quy chế thuyên chuyển nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Sở GD&ĐT, UBND các phường, xã, đặc khu trực thuộc.
Quy chế mới quy định rõ đối tượng áp dụng là nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Sở GD&ĐT, UBND xã, phường, đặc khu.
Các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; nhà giáo, nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục công lập có nguyện vọng thuyên chuyển.
Về nguyên tắc thuyên chuyển, UBND TP quy định, việc thuyên chuyển nhà giáo, nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý được thực hiện khi nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý giáo dục có nguyện vọng thuyên chuyển (đối với nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý thuyên chuyển để bổ nhiệm giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục thì thực hiện theo quy trình bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự từ nơi khác).
Việc thuyên chuyển nhà giáo được thực hiện khi nhà giáo có nhu cầu, phải được sự đồng ý của cơ sở giáo dục, cơ quan, đơn vị nơi nhà giáo chuyển đi và chuyển đến; đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục, cơ quan, đơn vị về vị trí việc làm.
UBND TPHCM quy định các trường hợp không được giải quyết thuyên chuyển: Nhà giáo đang trong thời gian bị xem xét, xử lý kỷ luật; đang bị kiểm tra, xác minh, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Nhà giáo chưa đủ 3 năm công tác tính từ ngày được tuyển dụng nhà giáo, trừ trường hợp tự nguyện thuyên chuyển công tác đến cơ sở giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, biển đảo và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
UBND TPHCM quy định, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện thuyên chuyển đổi với nhà giáo, nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý từ cơ sở giáo dục công lập này đến cơ sở giáo dục công lập khác thuộc thẩm quyền quản lý hoặc từ cơ sở giáo dục đến cơ quan, đơn vị khác thuộc thẩm quyền quản lý.
Trong khi đó, Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM có thẩm quyền quyết định đối với các trường hợp thuyên chuyển giữa các đơn vị thuộc Sở quản lý; giữa các địa bàn hành chính cấp xã khác nhau; giữa cơ sở giáo dục thuộc Sở và cơ sở giáo dục thuộc UBND cấp xã; hoặc giữa TPHCM với các địa phương khác.
UBND TPHCM quy định, thời điểm thuyên chuyển nhà giáo được thực hiện vào cuối năm học hoặc trước năm học mới để đảm bảo hoạt động dạy và học của nhà trường được ổn định. Trong trường hợp đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Hoàng Quân
Tin Gốc: Dân Trí

Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.

Các khách mời tại buổi giao lưu về phương pháp học IELTS - Ảnh: V.SAN
Tại buổi giao lưu trực tuyến "Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn?" chiều 5-5, các chuyên gia tiếng Anh đã đưa góc nhìn về câu chuyện trên.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc - Chủ tịch Hội nghiên cứu và Giảng dạy tiếng Anh TP.HCM cho biết: "Để có thể đánh giá một phương pháp học tiếng Anh hiệu quả cho trẻ, phụ huynh có thể dựa vào ba tiêu chí chính như phương pháp đó có phù hợp với lứa tuổi của trẻ hay không (học qua hình ảnh, trò chơi, hoạt động giao tiếp và những tình huống gần gũi…).
Trẻ có cơ hội được nghe nói, diễn đạt bằng tiếng Anh và cuối cùng là cuối cùng là trẻ có tự tin, tiến bộ và có thái độ tích cực hơn với việc học hay không?".
Lớp học đầy tiếng cười tại DOL English - Ảnh: V.SAN
Nói về lợi ích của việc chinh phục sớm tiếng Anh, tiến sĩ Nguyên Lộc cho biết đầu tiên là trẻ sẽ có thêm một "hệ quy chiếu", vốn sống đa dạng hơn để nhìn thế giới xung quanh. Điều này rất quan trọng cho phát triển tư duy ở trẻ nhỏ.
Còn theo NCS Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL English và đạt 9.0 IELTS, tốt nghiệp á khoa sư phạm Anh (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) thì nhất thiết có lộ trình nền trước khi trẻ học IELTS.
"Chẳng hạn ở DOL English thì trẻ tiểu học (lí tưởng là lớp 4, 5) sẽ được thi xếp lớp để vào chương trình Starters, Movers, Flyers trước khi chuyển tiếp qua IELTS ở đầu cấp hai. Chương trình có những điểm khác biệt rõ rệt như được thiết kế dựa trên phương pháp tư duy Linearthinking.
Học sinh không học kiến thức một cách rời rạc, mà được hướng dẫn để hệ thống hóa kiến thức theo một cách có logic", NCS Như Quỳnh nói.
Sau khi hoàn thành các cấp độ Starters, Movers, Flyers, trẻ có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh, các tình huống đời thường.
Theo NCS Như Quỳnh, khi hoàn thành các bước trên và chuyển lên giai đoạn IELTS THCS, trẻ sẽ bắt đầu tiếp cận những chủ đề rộng, mang tính học thuật hơn.
"Với phương pháp Linearthinking, trẻ không chỉ học tiếng Anh mà còn được bồi đắp thêm kiến thức xã hội, tư duy diễn đạt, tư duy phản biện và khả năng hiểu các vấn đề ở mức độ sâu hơn", bà cho biết.
Các gương mặt giáo viên đạt 9.0 IELTS tại DOL English - Ảnh: V.SAN.
Chia sẻ về chương trình học tiếng Anh cho trẻ tiểu học, cấp hai tại DOL English, bà Như Quỳnh cho biết đây là thành quả sau 4 năm nghiên cứu, biên soạn, phát triển của tập thể gần 100 người.
"Vì là người Việt nên chúng tôi hiểu rõ tâm lý, đặc điểm học tập và những lỗi sai phổ biến của người Việt, từ đó thiết kế nội dung gần gũi, phù hợp và hấp dẫn hơn với trẻ.
Điều này không chỉ giúp chương trình Kids và IELTS THCS hiệu quả về mặt học thuật mà còn khơi gợi được đam mê học tiếng Anh ở trẻ.
DOL cũng có hệ thống công nghệ hiện đại kết hợp Trí tuệ nhân tạo để trẻ có thể luyện mọi lúc, mọi nơi", thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh (8.5 IELTS, quản lý học thuật tại DOL English) phân tích.
Song song đó, NCS Như Quỳnh cho biết giáo viên ở DOL English phải có phát âm chuẩn vì trẻ nếu nói sai từ nhỏ sẽ rất khó sửa sau này.
Ngoài ra, nhằm mục đích tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian cho phụ huynh lẫn trẻ nhỏ, chương trình được thiết kế tinh gọn, học phí phải chăng (dưới 3 triệu đồng/ tháng).
Nhờ phương pháp Linearthinking, bé Trần Đình Hoàng Phúc (10 tuổi) đạt 8.0 IELTS dù học trường tiểu học công lập - Ảnh: V.SAN
"Tôi có tìm hiểu và thấy phương pháp Linearthinking ở DOL English hiệu quả cao, nhiều học sinh tiểu học, cấp hai không chỉ đạt điểm tiếng Anh cao mà các em cũng đồng thời rất hứng thú mỗi khi học ngoại ngữ, đây là điều mà tôi nghĩ bất kì phụ huynh nào cũng mong muốn có. Chính vì vậy tôi đã quyết định để con gái theo học tại đây", TS Nguyên Lộc chia sẻ.
Nhiều học sinh tiểu học, cấp hai đạt thành tích cao sau khóa học ở DOL English - Ảnh: V.SAN.
Bé Phạm Vũ Thiên Di - 12 tuổi, học sinh lớp 6 trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) – cho biết sau thời gian học chương trình IELTS ở DOL English thì vốn tiếng Anh của em cải thiện rõ.
Nói về lý do học IELTS từ sớm, bé Thiên Di cho biết muốn tập trung học giỏi tiếng Anh sớm để từ đó có thể dành thời gian cải thiện các kỹ năng khác, nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tiện lợi cho đi du lịch lẫn du học…
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: Cơ hội rất lớn cho giáo dục

Những gì ông sẽ nỗ lực ở vị trí "tư lệnh ngành"?
* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?
- Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.
Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.
Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?
- Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.
Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: "quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững".
Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định "Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân", "Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính".
Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ "...chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học".
Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được
Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.
* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí "đặt hàng" cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?
- Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua "đặt hàng" các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận "đặt hàng theo đầu vào".
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.
Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa "tài trợ" và "đặt hàng". Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng.
Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.
Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

