“Ngày xưa cứ nghĩ sạ lúa càng nhiều thì càng trúng, ruộng phải ngập nước mới yên tâm”, bà Hồ Thị Thúy Hằng ở xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp nhớ lại cách làm lúa quen thuộc của nông dân nhiều năm trước.
Những thói quen canh tác đó đang dần thay đổi khi bà tham gia dự án TRVC – chương trình canh tác lúa giảm phát thải, góp phần thực hiện Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong khuôn khổ mô hình này, gia đình bà Hằng đã tham gia bốn vụ trên diện tích 1,5 ha lúa, liên kết cùng Vinarice – đơn vị thuộc Vinaseed – hệ sinh thái Tập đoàn PAN, phụ trách tổ chức sản xuất và triển khai mô hình canh tác lúa giảm phát thải.
Theo bà Hằng, nông dân được hướng dẫn áp dụng quy trình “1 phải, 5 giảm”, trong đó “1 phải” là sử dụng giống xác nhận, còn “5 giảm” gồm giảm lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới và thất thoát sau thu hoạch. Cách làm này giúp hạ chi phí đầu vào và giảm phát thải trong sản xuất.
“Trước đây cứ thấy sâu bệnh là tăng thuốc, sạ dày cho chắc ăn. Giờ ruộng thoáng hơn nên sâu bệnh cũng ít hơn”, bà nói.
Nhờ áp dụng cách canh tác mới, chi phí sản xuất của gia đình bà Hằng giảm từ khoảng 30 triệu đồng xuống còn 25 triệu đồng mỗi ha, trong khi năng suất vẫn ổn định. Mỗi vụ, gia đình thu về khoảng 40-50 triệu đồng một ha tùy giá thị trường, lợi nhuận dao động 17-20 triệu đồng, có vụ đạt 20-30 triệu đồng.
Không chỉ thay đổi tập quán gieo sạ, nhiều hộ ở vùng này còn điều chỉnh cách quản lý nước trên đồng ruộng – yếu tố vốn quyết định lớn đến chi phí sản xuất.
Gia đình bà Nguyễn Thị Mới, xã Mỹ Quí, canh tác 5 ha lúa và đã tham gia mô hình TRVC hai vụ. Thay vì giữ ruộng ngập liên tục, nước được điều tiết theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, kết hợp rút khô xen kẽ.
“Hồi đầu nhìn ruộng khô cũng lo lắm, sợ lúa chết”, bà kể. Nhưng sau khi áp dụng, cây lúa khỏe hơn, ít sâu bệnh hơn và giảm chi phí điện bơm nước.
Theo bà Mới, lợi nhuận tăng thêm khoảng 2 triệu đồng mỗi ha, nhưng thay đổi lớn hơn nằm ở việc giảm phụ thuộc vào hóa chất và công chăm sóc.
Ở cấp hợp tác xã, ông Nguyễn Thành Nghiệp, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Mỹ Đông III, cho biết đơn vị đang triển khai mô hình trên khoảng 267 ha.
Việc sản xuất được tổ chức đồng bộ giúp giảm chi phí đầu vào 10-15%, trong khi năng suất vẫn duy trì ổn định quanh mức 6,5-6,7 tấn một ha.
Rơm rạ sau thu hoạch được thu gom thay vì đốt bỏ, vừa giảm ô nhiễm môi trường vừa tận dụng làm nguyên liệu trồng nấm, giúp tạo thêm nguồn thu phụ cho nông dân. Đồng thời, đầu ra lúa được doanh nghiệp bao tiêu, giúp nông dân giảm rủi ro giá.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Nguyễn Văn Bé Hai, Quyền Tổng giám đốc Vinarice, cho biết thách thức lớn nhất khi triển khai rộng mô hình là thay đổi tập quán canh tác đã hình thành lâu năm của nông dân.
Nhiều hộ vốn quen sử dụng giống và vật tư đầu vào để đảm bảo an toàn nên ban đầu lo ngại việc thay đổi quy trình sẽ ảnh hưởng năng suất.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng suất vẫn được duy trì ổn định trong khi chi phí giảm, qua đó cải thiện thu nhập cho nông dân.
Mô hình được vận hành theo cơ chế “trao thưởng theo kết quả”, trong đó mức giảm phát thải thực tế được quy đổi thành phần thưởng. Khoản này được tái đầu tư cho dự án, gồm 30% chia trực tiếp cho nông dân, 10% cho hợp tác xã và phần còn lại dành cho tập huấn, chuyển giao kỹ thuật.
Các mô hình giảm phát thải đang được triển khai trong khuôn khổ Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 theo Quyết định 1490 của Thủ tướng.
Đề án được triển khai tại 12 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hướng tới tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, giảm phát thải và nâng thu nhập cho nông dân.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2024-2025 đặt mục tiêu 180.000 ha. Tuy nhiên, sau hai năm triển khai, diện tích thực hiện đã đạt hơn 354.000 ha, vượt kế hoạch đề ra. Các mô hình áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững, giúp giảm mạnh lượng giống, phân đạm và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật so với truyền thống.
Theo số liệu từ các mô hình năm 2024, thu nhập của người trồng lúa trong mô hình tăng trung bình 13,4% trở lên so với canh tác truyền thống. Cùng với đó, Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam đã bước đầu xây dựng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”. Đến nay, diện tích lúa được cấp nhãn hiệu đạt 18.087 ha với sản lượng gạo tương ứng khoảng 75.060 tấn. Trong số này, 500 tấn gạo đã được xuất khẩu sang Nhật Bản – một trong những thị trường có yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm.
Ở tầng doanh nghiệp quy mô lớn, hiệu quả mô hình được mở rộng theo hướng chuỗi giá trị và thị trường xuất khẩu.
Bà Nguyễn Thị Trà My, Tổng giám đốc Tập đoàn PAN, cho biết tập đoàn đang triển khai mô hình thông qua Vinarice. Sau ba vụ, diện tích tham gia đạt khoảng 48.500 ha, chiếm gần 60% tổng diện tích dự án TRVC. Mỗi vụ có khoảng 5.500 hộ nông dân tham gia, tương đương 11.000 lượt hộ sau ba vụ triển khai. Theo bà, lợi nhuận của nông dân tăng 50-58%, vượt xa mức kỳ vọng 30% của dự án.
Song song sản xuất, doanh nghiệp đã hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín từ giống đến xuất khẩu. Nhờ truy xuất nguồn gốc, nhiều lô gạo đạt khoảng 1.300 USD một tấn, thậm chí một dòng gạo tím đặc sản đã xuất khẩu với giá 2.300 USD một tấn sang châu Âu.
“Có những lúc chúng tôi gần như phát khóc vì vui khi thấy bà con thay đổi cách làm và có thêm thu nhập”, bà My nói.
Nhu cầu tiêu thụ điện trong tháng 5 tăng cao hơn dự kiến
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 diễn ra ngày 3/6, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết tăng trưởng phụ tải tại miền Bắc đã vượt mức 28%, khiến hệ thống điện khu vực này tiến sát giới hạn vận hành.
Trong khi công suất tối đa mà hệ thống điện miền Bắc có thể đáp ứng khoảng 31GW thì hiện nay phụ tải đã lên tới 30,5GW. Đây là thách thức rất lớn đối với công tác điều hành cung ứng điện trong thời gian tới.
Đáng chú ý, dự báo từ nay đến cuối năm, đặc biệt trong 7 tháng còn lại, áp lực đối với hệ thống điện vẫn tiếp tục gia tăng khi nền kinh tế tăng trưởng cao, sản xuất công nghiệp tăng tốc và thời tiết được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp.
Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đang triển khai đồng bộ các giải pháp cả về phía cung và phía cầu nhằm bảo đảm cân bằng hệ thống điện quốc gia.
Khuyến khích doanh nghiệp dịch chuyển hoạt động tiêu thụ điện khỏi các khung giờ cao điểm
Về phía cầu, Bộ Công Thương đang nghiên cứu điều chỉnh, hoàn thiện các quy định liên quan đến chương trình điều chỉnh phụ tải điện nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện trong các thời điểm nhu cầu tiêu thụ tăng cao.
Các giải pháp này hướng tới việc khuyến khích doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch chuyển hoạt động tiêu thụ điện khỏi các khung giờ cao điểm, nhất là vào buổi tối.
Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, việc điều chỉnh phụ tải có thể tác động đến một số nhóm doanh nghiệp đang sản xuất trong giờ cao điểm, song đây là giải pháp cần thiết để tối ưu hóa nguồn điện hiện có, giảm nguy cơ quá tải hệ thống và bảo đảm cung ứng điện ổn định.
Bộ Công Thương cũng kiến nghị các bộ, ngành, địa phương tăng cường tuyên truyền, trao đổi với cộng đồng doanh nghiệp và các nhóm khách hàng sử dụng điện lớn nhằm tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai các giải pháp điều hành phụ tải.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng cho biết các chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ về bảo đảm cung ứng điện đã được cụ thể hóa bằng các kế hoạch hành động và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc.
Để chủ động ứng phó với các kịch bản tăng trưởng kinh tế và nhu cầu điện năng, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết Bộ Công Thương đã xây dựng các kịch bản điều hành.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, việc chuẩn bị các kịch bản từ sớm giúp nâng cao khả năng ứng phó trước những biến động của thời tiết, thị trường năng lượng, đồng thời tạo dư địa để hệ thống điện thích ứng với nhu cầu tiêu thụ điện trong giai đoạn cao điểm.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu sử dụng điện tiếp tục gia tăng, việc bảo đảm nguồn điện không chỉ là nhiệm vụ của ngành điện mà còn đòi hỏi sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân.
Sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, điều chỉnh phụ tải hợp lý và chủ động các phương án cung ứng sẽ là những giải pháp quan trọng góp phần giữ vững an ninh năng lượng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo dự thảo thông tư sửa đổi quy định lộ trình áp dụng tỉ lệ phối trộn, pha chế xăng E10 trên toàn quốc do Bộ Công Thương xây dựng, sẽ điều chỉnh thời gian sử dụng xăng sinh học từ ngày 30-4, tức là sớm hơn 1 tháng so với lộ trình cũ.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội), xăng sinh học E10 là loại nhiên liệu gồm khoảng 10% ethanol và 90% xăng khoáng.
Với tỉ lệ phối trộn ethanol ở mức 10%, đây là mức khá thấp nhưng đủ để cải thiện một số tính chất của nhiên liệu. Ethanol có chứa oxy, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hoàn thiện hơn, sạch hơn. Nhờ đó hiệu suất đốt cháy được cải thiện, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của động cơ.
Với một số ý kiến cho rằng ethanol có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng, nên khi pha trộn có thể làm giảm năng lượng của nhiên liệu, dẫn đến tăng tiêu hao. Tuy nhiên trên thực tế ông Tuyến cho rằng mức chênh lệch nhiệt trị này không lớn (chỉ khoảng vài phần trăm) và được bù đắp bởi quá trình cháy hiệu quả hơn trong động cơ.
Từ các nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy khi sử dụng xăng E10, công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu về cơ bản tương đương với xăng khoáng. Thậm chí trong một số trường hợp, mức tiêu thụ nhiên liệu còn có thể được cải thiện nhờ quá trình cháy tối ưu hơn.
Bên cạnh đó lợi ích của xăng E10 là giảm phát thải, ông Tuyến cho biết các chất độc hại như khí CO (carbon monoxide) và một số hợp chất hữu cơ chưa cháy hết được cắt giảm đáng kể, giúp bảo vệ môi trường trong khi chi phí sử dụng thấp hơn.
"Thực tiễn cho thấy loại nhiên liệu này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến độ bền động cơ và hoàn toàn phù hợp với các phương tiện đang lưu hành" - ông Tuyến khẳng định.
Theo TS Đào Duy Anh - Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), chương trình chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sinh học không mới. Từ năm 2012, Việt Nam đã xây dựng lộ trình phát triển xăng sinh học, trong đó có E5 và E10 và xăng E5 đã được triển khai trên toàn quốc từ năm 2018.
Để triển khai xăng sinh học trên toàn quốc, ông Duy Anh nói cần thường xuyên cập nhật yêu cầu về nhiên liệu phù hợp với sự phát triển của động cơ. Công nghệ động cơ xăng liên tục được cải tiến, kéo theo các tiêu chuẩn kỹ thuật về nhiên liệu cũng thay đổi theo thời gian.
Chẳng hạn từ ngày 1-1-2025, các dòng xe sản xuất, lắp ráp mới tại Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 5, do đó nhiên liệu sử dụng cũng phải tương thích. Việc lựa chọn và sử dụng xăng nền phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả vận hành và tuân thủ quy định.
Bộ cũng kịp thời gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ sản xuất, phối trộn, lưu thông đến phân phối. Gắn đó là đẩy mạnh truyền thông, đặc biệt là trước tâm lý e ngại của người tiêu dùng về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, xăng E10 không gây tác động tiêu cực đến hoạt động của xe khi các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành cũng như phát thải, không thay đổi đáng kể so với xăng khoáng. Do đó việc chuyển đổi sang xăng E10, bao gồm cả các loại tương đương RON95, về cơ bản không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của động cơ.
Tuy vậy ông Tuyến khuyến nghị người sử dụng vẫn cần tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo trì, bảo dưỡng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Xe nào khi sử dụng cũng đều có chu kỳ bảo dưỡng, nên khi sử dụng xăng E10 cần thực hiện các khuyến cáo này để bảo đảm chất lượng và tuổi thọ của xe.
Bộ Công Thương đang muốn đẩy sớm lộ trình bán xăng E10 - loại nhiên liệu sinh học pha 10% ethanol vào xăng khoáng - trên toàn quốc từ cuối tháng này. Tại tọa đàm ngày 17/4, PGS. TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng E10 phải tạo được lợi thế về giá để được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi.
Hiện Petrolimex đang bán xăng E10 giá 23.160 đồng một lít, chỉ thấp hơn RON 95 khoảng 600 đồng.
"Xăng E10 cần có mức giá thấp hơn và đủ lớn so với xăng khoáng để kích thích người tiêu dùng chuyển đổi", ông nói. Theo ông, khi mức chênh lệch hấp dẫn, người dân sẽ chủ động lựa chọn, hình thành thói quen tiêu dùng mới.
Để hạ giá thành, chuyên gia Nguyễn Thường Lạng cho rằng đề xuất chính sách cần được thiết kế đồng bộ. Ở góc độ người tiêu dùng, nhà điều hành có cơ chế điều tiết hoặc hỗ trợ giá trong giai đoạn đầu, như giảm các loại thuế bảo vệ môi trường, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng (VAT).
Ở góc độ doanh nghiệp, bài toán là hiệu quả kinh tế với hoạt động sản xuất, pha chế và phân phối. Theo đó, cơ quan quản lý có thể cân nhắc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu, sau đó giảm dần theo lộ trình khoảng 10 năm để tạo động lực đủ dài cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chi phí logistics - từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối - cần được hạ xuống, nhằm kéo giảm giá thành. Các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất cũng cần được triển khai để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư.
Một yếu tố khác được ông Lạng đề cập tới là cơ chế dự trữ và điều tiết thị trường. Theo ông, việc nâng năng lực dự trữ xăng dầu sẽ giúp ổn định nguồn cung trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời giảm áp lực điều hành trong ngắn hạn. Song song, nhà điều hành cần hoàn thiện hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ và có chính sách thương mại phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học. Các rào cản gia nhập thị trường cũng cần được tháo gỡ thông qua hỗ trợ về đất đai, hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Thực tế, từ tháng 8/2025, xăng E10 được Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) thí điểm bán tại 3 thành phố lớn gồm Hà Nội, TP HCM và Hải Phòng. Loại xăng này có khả năng giảm khí thải nhà kính, giúp bảo vệ môi trường.
Tuy vậy, trong thời gian đầu thí điểm, không ít người tiêu dùng vẫn dè dặt về chất lượng xăng E10. Theo ông Lê Trung Hưng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOil), sự e dè của người tiêu dùng hiện chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý khi tiếp cận một sản phẩm mới, không phải từ vấn đề chất lượng. Do vâỵ, khi niềm tin của người tiêu dùng dần được củng cố, việc triển khai đồng bộ xăng E10 trên toàn hệ thống sẽ thuận lợi hơn.
Ở khía cạnh này, PGS. TS Phạm Hữu Tuyến (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho biết về mặt kỹ thuật, xăng E10 không gây tác động tiêu cực đến hoạt động của các phương tiện giao thông. Tức là, khi sử dụng xăng E10 thay thế xăng khoáng truyền thống, các chỉ tiêu về công suất, hiệu suất vận hành, phát thải của phương tiện cơ bản không thay đổi đáng kể. Việc chuyển đổi sang xăng E10 không ảnh hưởng đến khả năng vận hành của động cơ.
Tương tự, Phó cục trưởng Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) Đào Duy Anh khẳng định xăng dầu là "máu" của nền kinh tế, do đó không có quốc gia nào đưa ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng. Theo ông, Bộ Công Thương đã khảo sát, đánh giá việc sử dụng nhiên liệu sinh học từ năm 2014. Việt Nam bắt đầu thí điểm xăng E5 cùng năm và triển khai trên toàn quốc từ 2018.
"Các doanh nghiệp đầu mối lớn như PVoil và Petrolimex đang thử nghiệm phân phối xăng E10 tại một số địa bàn. Trong quá trình triển khai, chưa ghi nhận phản hồi tiêu cực từ phía người tiêu dùng", ông nói. Ngoài ra, theo ông Đào Duy Anh, cơ quan quản lý cũng làm việc với nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để đánh giá tác động đến hiệu suất, tuổi thọ của các động cơ sử dụng E10.
"Tâm lý e ngại của người tiêu dùng, xuất phát từ thông tin chưa đầy đủ, chính xác, như lo ngại về ảnh hưởng đến động cơ hay mức tiêu hao nhiên liệu", ông nói, cho rằng nhà điều hành cần đẩy mạnh truyền thông minh bạch, khoa học để người dân hiểu đúng, từ đó tạo sự đồng thuận trong xã hội.