Trước tình ca, Thanh Tùng đã viết cho đất nước

Trước tình ca, Thanh Tùng đã viết cho đất nước

Ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneva được ký kết, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc. Trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt, hơn 32.000 học sinh miền Nam đã được đưa ra miền Bắc học tập. Trong số đó có một cậu bé 6 tuổi, không người thân bên cạnh, không cha mẹ đi cùng, một mình rời quê nhà Nha Trang với hành trang là niềm tin giản dị: Mình đi học vì một điều gì đó lớn hơn chính mình.

Cậu bé ấy là Nguyễn Thanh Tùng (nhạc sĩ Thanh Tùng 1948 – 2016).

Cụ Nguyễn Duy (100 tuổi) – ba nhạc sĩ Thanh Tùng, một chiến sĩ cách mạng, là liên lạc viên cho Tổng Bí thư Lê Duẩn từ năm 11 tuổi – nhớ lại:

“Lúc Tùng từ Nam ra miền Bắc học là 6 tuổi, đi có một mình. Sau đó tôi mới ra sau. 10 tuổi thì Tùng về ở với tôi tại số 3 Thụy Khuê”.

Ở lứa tuổi mà nhiều bạn bè cùng trang lứa còn chưa rời vòng tay gia đình, Thanh Tùng đã bước vào một hành trình đặc biệt.

Những năm đầu tiểu học ở miền Bắc không chỉ là quãng thời gian học tập mà còn là quá trình hình thành nhân cách.

Được nuôi dưỡng trong sự chăm sóc của thầy cô giáo và đồng bào, thế hệ học sinh miền Nam tập kết lớn lên với một ý thức rõ ràng về trách nhiệm công dân.

Ở Thanh Tùng, những giá trị đó không chỉ dừng lại ở nhận thức mà dần chuyển hóa thành cảm xúc, thành tư duy và sau này, thành âm nhạc.

Hạt mầm nghệ thuật của ông không nảy lên từ những khát vọng cá nhân thuần túy. Hạt mầm đó được nuôi dưỡng trong một môi trường giàu lý tưởng, nơi cái đẹp luôn gắn liền với cái đúng, và nghệ thuật gắn liền với trách nhiệm xã hội.

Cuối thập niên 1960, Thanh Tùng du học Triều Tiên – một phần trong chiến lược đào tạo nhân lực chất lượng cao của Nhà nước.

Ban đầu ông theo học ngành hàng hải, chuyên môn lái tàu. Ông Nguyễn Thế Vinh – một trong những người bạn trong hội du học sinh Triều Tiên của nhạc sĩ Thanh Tùng – kể dù học lái tàu nhưng Thanh Tùng “để mắt” đến khoa nhạc của trường. Ông thể hiện sự yêu thích đặc biệt, nhạc cụ nào ông cũng tìm hiểu và đàn hát rất vui vẻ.

Thấy cậu sinh viên hàng hải này quá có tiềm năng và tư chất nghệ sĩ, một thầy giáo của khoa nhạc đã chia sẻ câu chuyện này với cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên.

Biết Thanh Tùng từ thời học sinh đã hát hay, đàn giỏi, yêu thích nghệ thuật, nay lại có thêm “lời gợi mở” từ người có chuyên môn của nước bạn, tổ chức đã đồng ý cho ông chuyển sang học tại Nhạc viện Bình Nhưỡng, chuyên ngành sáng tác và chỉ huy dàn nhạc.

Đây là bước ngoặt quan trọng, không chỉ với cá nhân Thanh Tùng mà còn với hành trình của âm nhạc Việt Nam sau này.

Nhờ môi trường đào tạo bài bản, Thanh Tùng không chỉ tiếp cận với kỹ thuật âm nhạc hàn lâm mà còn hình thành tư duy cấu trúc, phối khí và tổ chức dàn nhạc – những yếu tố còn rất mới mẻ với âm nhạc Việt Nam thời điểm đó.

Trong nhiều buổi biểu diễn tại nước bạn, ông vẫn lựa chọn thể hiện các tác phẩm cách mạng Việt Nam, có khi trong bộ quân phục giải phóng. Có lẽ, với Thanh Tùng, âm nhạc không chỉ là nghệ thuật mà còn là một cách để thể hiện bản sắc và lý tưởng.

Tốt nghiệp trở về nước năm 1971, Thanh Tùng công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam II. Đây là giai đoạn ông âm thầm đóng góp vào đời sống âm nhạc bằng những công việc ít được công chúng biết đến, nhưng có ý nghĩa nền tảng.

Ông chuyển soạn hàng loạt ca khúc cách mạng thành nhạc không lời cho dàn nhạc giao hưởng. Những tác phẩm quen thuộc như: Con kênh xanh xanh, Cánh chim báo tin vui, Đi cắt lúa, Tiếng chày trên sóc Bom Bo… qua bàn tay của ông đã có một diện mạo mới, tinh tế hơn, giàu tính nhạc hơn nhưng vẫn giữ được sự gần gũi.

Khi khái niệm “hòa âm phối khí” còn xa lạ, nhạc sĩ Thanh Tùng đã góp phần định hình một chuẩn mực mới cho âm nhạc đại chúng. Ông đưa những yếu tố hàn lâm vào âm nhạc mà không làm mất đi tính đại chúng, một điều không dễ thực hiện.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thời đó đã nhận định rằng Thanh Tùng là người hòa âm bản Mẹ yêu con (Thanh Huyền thể hiện) hay nhất. Âm nhạc trong giai đoạn này thực sự trở thành một “vũ khí mềm” của Thanh Tùng, giúp ông góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của xã hội.

Sau năm 1975, Thanh Tùng vào Sài Gòn để tiếp tục một hành trình mới: Xây dựng nền tảng cho đời sống âm nhạc đô thị sau chiến tranh.

Ông là một trong những người đặt nền móng cho Dàn nhạc nhẹ Đài Truyền hình TP.HCM, đồng thời tham gia xây dựng nhiều đoàn văn nghệ tại các địa phương như: Lâm Đồng, Khánh Hòa, Quảng Nam, Hải Phòng…

Ở bất kỳ nơi nào, dấu ấn của Thanh Tùng cũng gắn liền với sự chuyên nghiệp, bài bản và hiệu quả. Có giai đoạn giới nghệ thuật gọi ông là “khóa sol vàng”, bởi những chương trình ông dàn dựng thường mang lại thành tích cao tại các hội diễn toàn quốc.

  Xác minh tài khoản đưa tin sai vụ Juky San chụp ảnh áo tắm ở Giếng Tiên

Phía sau những danh hiệu ấy là một quá trình lao động bền bỉ. Thanh Tùng không chỉ sáng tác mà còn tổ chức, đào tạo, và truyền lại kinh nghiệm cho các thế hệ sau. Vì vậy ca nhạc sĩ Thế Hiển, trong một cuộc trò chuyện với bạn nhạc, đã gọi Thanh Tùng là một “kiến trúc sư” thầm lặng của đời sống âm nhạc.

Sau một thời gian dài gắn bó với các hoạt động văn nghệ tập thể, Thanh Tùng bước vào một giai đoạn mới, nơi ông bắt đầu sáng tác những ca khúc mang dấu ấn cá nhân rõ nét.

Ca khúc đầu tay Cây sầu riêng trổ bông (cải lương – trình bày Lệ Thủy & Thanh Hải) cho thấy khả năng kết hợp giữa âm nhạc hiện đại và truyền thống. Từ đó ông tiếp tục viết nhiều ca khúc cho các phong trào địa phương, vừa mang tính cổ vũ, vừa giàu cảm xúc nghệ thuật.

Hàng loạt ca khúc ra đời trong giai đoạn này như: Hải Phòng thành phố tuổi thơ, Cô gái Tây Nguyên đi làm thủy lợi, Hãy đến cùng Trị An, Cây lúa Quảng Nam… Dù các khúc hát xây dựng này được sáng tác theo “đơn đặt hàng” nhưng lại không hề khô cứng, bởi đó đều là những nơi ông đã đến với không ít kỷ niệm.

Trong khi đó, ca sĩ Cẩm Vân lại nhớ về kỷ niệm cùng Hoàng hôn màu lá – một ca khúc viết tặng lực lượng Thanh niên xung phong của nhạc sĩ Thanh Tùng: “Tôi được nhạc sĩ tin tưởng chọn là ca sĩ đầu tiên thể hiện Hoàng hôn màu lá. Trong lòng khi đó thật sự rất vui và cũng rất làm lạ, bởi chưa từng nhận được một bài ca xây dựng nào mà câu từ lãng mạn, dễ thương như vậy.

“Ước mơ còn nhớ không, bát ngát lâm trường. Tiếng ca màu nắng hồng, vợi nỗi nhớ quê hương. Trái tim còn nhớ không, bát ngát lâm trường. Chiếc hôn màu lá non, chiều hoàng hôn”. Hát qua một lần là nhớ, là thương đến bây giờ”.

Những trải nghiệm trong giai đoạn này đã tích lũy cho Thanh Tùng một vốn sống và vốn nghề vững chắc. Để đến giữa thập niên 1980, ông bứt phá mạnh mẽ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống âm nhạc cũng chuyển mình. Và nhạc sĩ Thanh Tùng là một trong những người tiên phong định hình nhạc nhẹ Việt Nam.

Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng – người chuyển soạn gần 20 ca khúc nhạc pop của nhạc sĩ Thanh Tùng qua phong cách classic crossover (kết hợp dàn nhạc giao hưởng với ban nhạc hiện đại) cho dự án Legacy of Love – 10 năm tưởng nhớ nhạc sĩ Thanh Tùng – nhận định: “Nhạc sĩ Thanh Tùng là một trong những người tiên phong đưa nhạc nhẹ Việt Nam tiệm cận với phong cách quốc tế”.

Hàng loạt ca khúc ra đời trong giai đoạn này như: Lời tỏ tình mùa xuân, Giọt nắng bên thềm, Giọt sương trên mí mắt, Ngôi sao cô đơn, Chuyện tình của biển, Hát với chú ve con,… nhanh chóng chiếm được cảm tình của công chúng, trước khi ông cho ra đời những khúc hát riêng tư hơn, nhớ thương người vợ đã khuất: Một mình, Hoa tím ngoài sân, Lối cũ ta về, Hoa cúc vàng…

Trong dòng chảy của nhạc Việt ngày nay, những giai điệu của Thanh Tùng vẫn vang lên không chỉ như ký ức mà như một phần của hiện tại. Và ở đâu đó trong những giai điệu đó, người ta vẫn nghe thấy âm vang của mùa hè năm 1954 – nơi một lời chia tay đã mở ra con đường dấn thân, cũng là khởi đầu cho những thanh âm còn vang mãi đến hôm nay.

Tin Gốc: Tuổi Trẻ