Ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneva được ký kết, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc. Trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt, hơn 32.000 học sinh miền Nam đã được đưa ra miền Bắc học tập. Trong số đó có một cậu bé 6 tuổi, không người thân bên cạnh, không cha mẹ đi cùng, một mình rời quê nhà Nha Trang với hành trang là niềm tin giản dị: Mình đi học vì một điều gì đó lớn hơn chính mình.
Cậu bé ấy là Nguyễn Thanh Tùng (nhạc sĩ Thanh Tùng 1948 – 2016).
Cụ Nguyễn Duy (100 tuổi) – ba nhạc sĩ Thanh Tùng, một chiến sĩ cách mạng, là liên lạc viên cho Tổng Bí thư Lê Duẩn từ năm 11 tuổi – nhớ lại:
“Lúc Tùng từ Nam ra miền Bắc học là 6 tuổi, đi có một mình. Sau đó tôi mới ra sau. 10 tuổi thì Tùng về ở với tôi tại số 3 Thụy Khuê”.
Ở lứa tuổi mà nhiều bạn bè cùng trang lứa còn chưa rời vòng tay gia đình, Thanh Tùng đã bước vào một hành trình đặc biệt.
Những năm đầu tiểu học ở miền Bắc không chỉ là quãng thời gian học tập mà còn là quá trình hình thành nhân cách.
Được nuôi dưỡng trong sự chăm sóc của thầy cô giáo và đồng bào, thế hệ học sinh miền Nam tập kết lớn lên với một ý thức rõ ràng về trách nhiệm công dân.
Ở Thanh Tùng, những giá trị đó không chỉ dừng lại ở nhận thức mà dần chuyển hóa thành cảm xúc, thành tư duy và sau này, thành âm nhạc.
Hạt mầm nghệ thuật của ông không nảy lên từ những khát vọng cá nhân thuần túy. Hạt mầm đó được nuôi dưỡng trong một môi trường giàu lý tưởng, nơi cái đẹp luôn gắn liền với cái đúng, và nghệ thuật gắn liền với trách nhiệm xã hội.
Cuối thập niên 1960, Thanh Tùng du học Triều Tiên – một phần trong chiến lược đào tạo nhân lực chất lượng cao của Nhà nước.
Ban đầu ông theo học ngành hàng hải, chuyên môn lái tàu. Ông Nguyễn Thế Vinh – một trong những người bạn trong hội du học sinh Triều Tiên của nhạc sĩ Thanh Tùng – kể dù học lái tàu nhưng Thanh Tùng “để mắt” đến khoa nhạc của trường. Ông thể hiện sự yêu thích đặc biệt, nhạc cụ nào ông cũng tìm hiểu và đàn hát rất vui vẻ.
Thấy cậu sinh viên hàng hải này quá có tiềm năng và tư chất nghệ sĩ, một thầy giáo của khoa nhạc đã chia sẻ câu chuyện này với cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên.
Biết Thanh Tùng từ thời học sinh đã hát hay, đàn giỏi, yêu thích nghệ thuật, nay lại có thêm “lời gợi mở” từ người có chuyên môn của nước bạn, tổ chức đã đồng ý cho ông chuyển sang học tại Nhạc viện Bình Nhưỡng, chuyên ngành sáng tác và chỉ huy dàn nhạc.
Đây là bước ngoặt quan trọng, không chỉ với cá nhân Thanh Tùng mà còn với hành trình của âm nhạc Việt Nam sau này.
Nhờ môi trường đào tạo bài bản, Thanh Tùng không chỉ tiếp cận với kỹ thuật âm nhạc hàn lâm mà còn hình thành tư duy cấu trúc, phối khí và tổ chức dàn nhạc – những yếu tố còn rất mới mẻ với âm nhạc Việt Nam thời điểm đó.
Trong nhiều buổi biểu diễn tại nước bạn, ông vẫn lựa chọn thể hiện các tác phẩm cách mạng Việt Nam, có khi trong bộ quân phục giải phóng. Có lẽ, với Thanh Tùng, âm nhạc không chỉ là nghệ thuật mà còn là một cách để thể hiện bản sắc và lý tưởng.
Tốt nghiệp trở về nước năm 1971, Thanh Tùng công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam II. Đây là giai đoạn ông âm thầm đóng góp vào đời sống âm nhạc bằng những công việc ít được công chúng biết đến, nhưng có ý nghĩa nền tảng.
Ông chuyển soạn hàng loạt ca khúc cách mạng thành nhạc không lời cho dàn nhạc giao hưởng. Những tác phẩm quen thuộc như: Con kênh xanh xanh, Cánh chim báo tin vui, Đi cắt lúa, Tiếng chày trên sóc Bom Bo… qua bàn tay của ông đã có một diện mạo mới, tinh tế hơn, giàu tính nhạc hơn nhưng vẫn giữ được sự gần gũi.
Khi khái niệm “hòa âm phối khí” còn xa lạ, nhạc sĩ Thanh Tùng đã góp phần định hình một chuẩn mực mới cho âm nhạc đại chúng. Ông đưa những yếu tố hàn lâm vào âm nhạc mà không làm mất đi tính đại chúng, một điều không dễ thực hiện.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thời đó đã nhận định rằng Thanh Tùng là người hòa âm bản Mẹ yêu con (Thanh Huyền thể hiện) hay nhất. Âm nhạc trong giai đoạn này thực sự trở thành một “vũ khí mềm” của Thanh Tùng, giúp ông góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của xã hội.
Sau năm 1975, Thanh Tùng vào Sài Gòn để tiếp tục một hành trình mới: Xây dựng nền tảng cho đời sống âm nhạc đô thị sau chiến tranh.
Ông là một trong những người đặt nền móng cho Dàn nhạc nhẹ Đài Truyền hình TP.HCM, đồng thời tham gia xây dựng nhiều đoàn văn nghệ tại các địa phương như: Lâm Đồng, Khánh Hòa, Quảng Nam, Hải Phòng…
Ở bất kỳ nơi nào, dấu ấn của Thanh Tùng cũng gắn liền với sự chuyên nghiệp, bài bản và hiệu quả. Có giai đoạn giới nghệ thuật gọi ông là “khóa sol vàng”, bởi những chương trình ông dàn dựng thường mang lại thành tích cao tại các hội diễn toàn quốc.
Phía sau những danh hiệu ấy là một quá trình lao động bền bỉ. Thanh Tùng không chỉ sáng tác mà còn tổ chức, đào tạo, và truyền lại kinh nghiệm cho các thế hệ sau. Vì vậy ca nhạc sĩ Thế Hiển, trong một cuộc trò chuyện với bạn nhạc, đã gọi Thanh Tùng là một “kiến trúc sư” thầm lặng của đời sống âm nhạc.
Sau một thời gian dài gắn bó với các hoạt động văn nghệ tập thể, Thanh Tùng bước vào một giai đoạn mới, nơi ông bắt đầu sáng tác những ca khúc mang dấu ấn cá nhân rõ nét.
Ca khúc đầu tay Cây sầu riêng trổ bông (cải lương – trình bày Lệ Thủy & Thanh Hải) cho thấy khả năng kết hợp giữa âm nhạc hiện đại và truyền thống. Từ đó ông tiếp tục viết nhiều ca khúc cho các phong trào địa phương, vừa mang tính cổ vũ, vừa giàu cảm xúc nghệ thuật.
Hàng loạt ca khúc ra đời trong giai đoạn này như: Hải Phòng thành phố tuổi thơ, Cô gái Tây Nguyên đi làm thủy lợi, Hãy đến cùng Trị An, Cây lúa Quảng Nam… Dù các khúc hát xây dựng này được sáng tác theo “đơn đặt hàng” nhưng lại không hề khô cứng, bởi đó đều là những nơi ông đã đến với không ít kỷ niệm.
Trong khi đó, ca sĩ Cẩm Vân lại nhớ về kỷ niệm cùng Hoàng hôn màu lá – một ca khúc viết tặng lực lượng Thanh niên xung phong của nhạc sĩ Thanh Tùng: “Tôi được nhạc sĩ tin tưởng chọn là ca sĩ đầu tiên thể hiện Hoàng hôn màu lá. Trong lòng khi đó thật sự rất vui và cũng rất làm lạ, bởi chưa từng nhận được một bài ca xây dựng nào mà câu từ lãng mạn, dễ thương như vậy.
“Ước mơ còn nhớ không, bát ngát lâm trường. Tiếng ca màu nắng hồng, vợi nỗi nhớ quê hương. Trái tim còn nhớ không, bát ngát lâm trường. Chiếc hôn màu lá non, chiều hoàng hôn”. Hát qua một lần là nhớ, là thương đến bây giờ”.
Những trải nghiệm trong giai đoạn này đã tích lũy cho Thanh Tùng một vốn sống và vốn nghề vững chắc. Để đến giữa thập niên 1980, ông bứt phá mạnh mẽ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống âm nhạc cũng chuyển mình. Và nhạc sĩ Thanh Tùng là một trong những người tiên phong định hình nhạc nhẹ Việt Nam.
Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng – người chuyển soạn gần 20 ca khúc nhạc pop của nhạc sĩ Thanh Tùng qua phong cách classic crossover (kết hợp dàn nhạc giao hưởng với ban nhạc hiện đại) cho dự án Legacy of Love – 10 năm tưởng nhớ nhạc sĩ Thanh Tùng – nhận định: “Nhạc sĩ Thanh Tùng là một trong những người tiên phong đưa nhạc nhẹ Việt Nam tiệm cận với phong cách quốc tế”.
Hàng loạt ca khúc ra đời trong giai đoạn này như: Lời tỏ tình mùa xuân, Giọt nắng bên thềm, Giọt sương trên mí mắt, Ngôi sao cô đơn, Chuyện tình của biển, Hát với chú ve con,… nhanh chóng chiếm được cảm tình của công chúng, trước khi ông cho ra đời những khúc hát riêng tư hơn, nhớ thương người vợ đã khuất: Một mình, Hoa tím ngoài sân, Lối cũ ta về, Hoa cúc vàng…
Trong dòng chảy của nhạc Việt ngày nay, những giai điệu của Thanh Tùng vẫn vang lên không chỉ như ký ức mà như một phần của hiện tại. Và ở đâu đó trong những giai điệu đó, người ta vẫn nghe thấy âm vang của mùa hè năm 1954 – nơi một lời chia tay đã mở ra con đường dấn thân, cũng là khởi đầu cho những thanh âm còn vang mãi đến hôm nay.
Theo HK01, Lý Liên Kiệt gần đây gia nhập thị trường phim ngắn và vừa tham gia tác phẩm võ hiệp của Trung Quốc đại lục mang tên Nguyên lực giang hồ. Trong cuộc phỏng vấn mới đây, ngôi sao võ thuật tiết lộ ông không nhắm đến mục tiêu đóng vai chính mà hy vọng xây nên một "vũ trụ phim ngắn kungfu", tạo nền tảng để những người trẻ yêu thích võ hiệp có cơ hội thể hiện tài năng. Qua đó, nam nghệ sĩ muốn góp phần gìn giữ, trao truyền tinh hoa võ thuật Trung Hoa. Ông nói đây là ước mơ mình muốn ấp ủ từ lâu và việc tham gia thị trường phim ngắn nhằm hiện thực hóa ước mơ đó.
Lý Liên Kiệt cho rằng so với các dự án điện ảnh quy mô lớn, phim ngắn có ngưỡng tiếp cận thấp hơn, từ đó mang đến nhiều cơ hội cho những người trẻ yêu võ thuật thể hiện tài năng và được công chúng biết đến. Sao phim Hoàng Phi Hồng tuyên bố ông sẵn sàng đóng vai phụ trong các dự án mới, lui về làm nền cho thế hệ diễn viên trẻ, hết lòng hỗ trợ, tạo điều kiện để diễn viên trẻ phát triển, thực hiện ước mơ.
Từ tháng 1.2026, Lý Liên Kiệt đã đến Trùng Khánh dự khai máy dự án phim ngắn võ hiệp Nguyên lực giang hồ. Ông chia sẻ dù chỉ đóng vai phụ, bản thân đặt nhiều kỳ vọng vào tác phẩm cũng như ý nghĩa văn hóa mà nó mang lại.
Những năm qua, thị trường phim ngắn bùng nổ ở Trung Quốc với quy mô dự tính vượt ngưỡng 100 tỉ nhân dân tệ trong năm 2027. Ngày càng nhiều ngôi sao lớn của làng giải trí Hoa ngữ đẩy mạnh hoạt động ở thị trường giàu tiềm năng này. Trước Lý Liên Kiệt, nhiều nghệ sĩ: Lưu Hiểu Khánh, Lý Nhược Đồng, Diệp Tuyền… thi nhau gia nhập lĩnh vực này và gặt hái được thành công riêng.
Lý Liên Kiệt sinh năm 1963 tại Bắc Kinh nhưng sau đó đổi từ quốc tịch Trung Quốc sang Mỹ rồi Singapore. Ông là một trong những ngôi sao võ thuật đắt giá của màn ảnh Hoa ngữ, nổi đình đám qua các bộ phim: Thiếu Lâm Tự, Hoàng Phi Hồng, Phương Thế Ngọc, Anh hùng, Tinh võ anh hùng, Vua kungfu, Hoắc Nguyên Giáp, Kẻ độc tôn, Vũ khí tối thượng… Tài tử từng trải qua một cuộc hôn nhân trước khi cưới Hoa hậu châu Á Lợi Trí vào năm 1999. Họ có hai con gái Jane và Jada đều xinh đẹp, có học vấn đáng nể.
Những năm qua, Lý Liên Kiệt trải qua nhiều biến cố sức khỏe. Ông nhiều lần bác tin đồn qua đời, ghép tim để kéo dài tuổi thọ. Nghệ sĩ có khoảng thời gian gác lại công việc đóng phim, tập trung chăm sóc sức khỏe, chuyên tâm tu tập và đồng hành cùng con gái vượt qua chứng trầm cảm. Sau trải nghiệm kề cận cái chết, ông trân trọng cuộc sống và bình thản đón nhận sự vô thường. Tài tử kỳ cựu tình chia sẻ: ""Biết rõ rằng mình sẽ chết, liệu tôi có nên lo lắng về điều đó mỗi ngày cho đến lúc điều đó xảy đến, hay biết rằng điều đó sẽ xảy ra vào một ngày nào đó nên tôi trân trọng cách mình sống mỗi ngày? Tôi nghĩ rằng việc sống tốt mỗi ngày quan trọng hơn".
Lê Trần Thanh Tâm là diễn viên trẻ nhận được sự chú ý khi liên tục góp mặt trong các dự án phim truyền hình và điện ảnh thời gian gần đây. Cô sinh năm 2005 tại Thanh Hóa, hiện theo học tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội.
Sở hữu chiều cao 1,68m cùng gương mặt thanh tú, Thanh Tâm từng được bạn bè động viên theo đuổi nghệ thuật từ khi còn học phổ thông. Dù gia đình không có ai hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, cô vẫn quyết định đăng ký thi vào Trường Sân khấu - Điện ảnh. Nữ diễn viên trẻ gây bất ngờ khi đỗ thủ khoa đầu vào.
Ngay từ những năm đầu đại học, Thanh Tâm đã có cơ hội tham gia các dự án phim ngắn và phim truyền hình. Cô từng đảm nhận vai công chúa Tiên Dung trong phim điện ảnh cổ trang Huyền tình dạ trạch. Sau đó, nữ diễn viên tiếp tục góp mặt trong phim truyền hình Dưới ô cửa sáng đèn phát sóng trên VTV3.
Theo cô, việc được tiếp cận phim ảnh từ sớm giúp bản thân có thêm cơ hội cọ xát và định hình con đường nghệ thuật chuyên nghiệp.
Trên mạng xã hội, Thanh Tâm được nhiều khán giả chú ý nhờ hình ảnh nhẹ nhàng, nữ tính cùng nhan sắc mộc mạc, trong trẻo. Một số ý kiến nhận xét cô sở hữu đường nét gợi nhớ đến hình tượng các diễn viên Trung Quốc.
Tuy nhiên, thay vì tập trung khai thác ngoại hình, Thanh Tâm cho biết cô muốn theo đuổi diễn xuất một cách nghiêm túc và bền vững. Ngoài thời gian học trên lớp, nữ diễn viên thường tham gia đóng phim để học hỏi kinh nghiệm thực tế từ đạo diễn và các diễn viên đi trước.
“Mỗi ngày tôi đều cố gắng vừa học vừa quay phim để tích luỹ kinh nghiệm. Tôi luôn tận dụng mọi thời gian rảnh để hoàn thiện bản thân, học hỏi trong trường, ra phim trường học hỏi các anh chị. Tôi luôn trau dồi khả năng diễn xuất để mọi người công nhận chứ không ỉ lại vào ngoại hình”, diễn viên sinh năm 2005 chia sẻ.
Dịp tái xuất điện ảnh trong phim Một thời ta đã yêu, diễn viên nói về cuộc sống thường nhật, nhiệt huyết cho diễn xuất.
- Lý do anh nhận lời trở lại màn ảnh sau hai năm?
- Tôi thích kịch bản xoay quanh một chàng trai từng muốn sát hại người khác vì lòng ghen tỵ. Đó mới chỉ là suy nghĩ, song nỗi ân hận theo đuổi, ám ảnh anh suốt quãng đời còn lại, đến khi trở thành nhà văn nổi tiếng. Dù chỉ đóng vai phụ, tôi nhận lời vì muốn bản thân là một mảnh ghép trong câu chuyện ấy.
Nhân vật của tôi là ông Trọng, một cựu luật sư giã từ sự nghiệp thành đạt để về quê sống. Mặc dù sống cùng vợ con, ông lẻ loi, lạc lõng trong chính ngôi nhà vì không được người thân thấu hiểu. Ngoài đời, tôi cũng là một người cô độc.
- Anh đối diện nỗi cô độc đó như thế nào?
- Tôi không sợ, trái lại thèm được tận hưởng cảm giác này. Tôi thuộc kiểu người không thích hẹn hò. Những ngày dành cho công việc, tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người, đủ mọi tiếng ồn. Khi dành thời gian cho bản thân, tôi có xu hướng ở một mình để được lắng đọng. Do đó, tôi hiếm khi rủ bạn bè đến nhà chơi, vì sợ người ta phá rối sự yên tĩnh. Tôi quan niệm phải tự nếm trải nỗi cô đơn mới biết đồng cảm với người khác, từ đó thăng hoa hơn với vai diễn. Tôi không thích san sẻ niềm vui cá nhân, bởi có khi mình thấy vui, nhưng người khác không hiểu lại cho là lố bịch.
Cuộc sống của tôi diễn ra khá điều độ. Dịp cuối tuần, tôi dành trọn cho sân khấu Thiên Đăng. Tôi biết ơn sàn diễn đã mang lại thu nhập ổn định. Mỗi suất chúng tôi đều bán hết vé vì kịch nói vẫn có đối tượng khán giả riêng, công chúng vẫn thích xem diễn live.
Ba ngày đầu tuần, tôi cho phép bản thân nghỉ ngơi, nhất quyết không đụng đến công việc, để cơ thể xả bớt stress. Tôi đã bước vào giai đoạn sống chậm, không muốn theo guồng quay hối hả như trước. 10 năm nay, tôi có thói quen uống trà chiều, chọn một quán có góc view thật đẹp để ngắm nhìn thành phố. Thời gian đó giúp đầu óc tôi thư thả, đồng thời có thêm sáng tạo để viết kịch bản, ý tưởng dàn dựng sân khấu.
- Ở tuổi 65, anh cảm nhận phong độ sức khỏe ảnh hưởng lực diễn ra sao?
- Tôi từng nhiều lần gặp tai nạn sân khấu. Trong vở Cậu bé rừng xanh, tôi từng bị ngã từ trên cao xuống khi xiếc đu dây, bị chấn thương cột sống và điều trị trong ba tháng. Cũng trong series Ngày xửa ngày xưa, tôi bị ngã lần hai và giãn dây chằng. Sự cố đó tác động trực tiếp đến công việc của tôi, đặc biệt trong giai đoạn quay phim Ma da (2024). Ở những phân đoạn nhân vật vật lộn với ma quỷ, đầu gối tôi đau kinh khủng, sau này phải cân nhắc khi tham gia các dự án nhiều cảnh hành động.
- Là nghệ sĩ sân khấu, anh làm thế nào để tránh lỗi diễn cường điệu trên màn ảnh?
- Tôi học nhiều từ nghệ sĩ Lê Khanh - bạn diễn trong phim. Chị rất giỏi trong việc gia giảm, điều chỉnh kỹ thuật để cân bằng hai phong cách điện ảnh và sân khấu, giữ được sự tinh tế trong diễn xuất. Trên trường quay, tôi thường nhờ chị và đạo diễn Xuân Nghĩa nhắc nhở nếu thấy tôi bắt đầu diễn lố.
Ngoài ra, tôi tập dượt trước để ý thức được khi nào nét diễn bị "over". Ví dụ, nếu có cảnh lỡ hét lên quá mức hoặc trợn trừng mắt, tôi thường quay sang hỏi Lê Khanh rằng có phải tôi vừa mắc những lỗi như thế không và lập tức chỉnh sửa.
- Một số đồng nghiệp cùng trang lứa anh, như nghệ sĩ Lê Khanh, Hồng Đào, gần đây đều có phim "trăm tỷ". Anh nghĩ sao?
- Tôi mừng cho các đồng nghiệp khi liên tiếp có những vai diễn tạo dấu ấn trên màn ảnh. Một thời gian dài, phim Việt thường dành "đất" cho các gương mặt trẻ trung, tiềm năng, ít khi nào diễn viên gạo cội được đóng chính. Những năm gần đây, các đạo diễn có xu hướng chọn kịch bản tập trung nhiều ở nhân vật thuộc độ tuổi trung niên, nhờ đó các nghệ sĩ một thời rực rỡ được dịp trở lại, có công ăn việc làm. Ra rạp, tôi xúc động khi có khán giả trẻ ồ lên, nói: "Lâu lắm rồi mới thấy cô Hồng Đào".
Tôi chưa có dịp đóng những phim doanh thu cao, nhưng chỉ quan niệm "duyên ai nấy hưởng". Tôi biết mình có nhiều nhược điểm trong điện ảnh, ví dụ vóc dáng, khuôn mặt kén góc máy. Trong khi đó, nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ với tôi nhưng tài năng vượt trội hơn. Ngoài ra, tôi còn phải điều hành sân khấu kịch mỗi tuần. Nếu nhận các dự án phim có bối cảnh xa TP HCM, tôi phải bỏ lịch diễn, nên đành từ chối nhiều lời mời để không ảnh hưởng đến công việc của các anh chị em nghệ sĩ.
- Trong điện ảnh, anh làm việc với tâm thế khác trên sân khấu như thế nào?
- Khác với kịch nói, trong phim ảnh, việc sáng tạo thêm sẽ làm ảnh hưởng đến công việc biên tập, dựng phim. Tôi quan niệm phải chuyên nghiệp, kịch bản, phân cảnh ra sao thì diễn y như vậy. Ngày trước, mỗi khi đóng phim, tôi rất buồn khi bị đạo diễn cắt đi nhiều phân cảnh. Như phim Ma da, tôi bị cắt toàn bộ phân đoạn dốc hết sức để thể hiện. Tôi từng nghĩ nếu biết vai diễn chỉ mờ nhạt như vậy, tôi đã không nhận lời.
Nhưng rồi, tôi nhận ra chỉ cần hoàn thành tốt vai trò của diễn viên là đủ, bởi có những điều bản thân không có quyền quyết định. Tôi thông cảm hơn với nhà sản xuất, vì có thể phim dài quá, họ phải bớt thời lượng để có thêm suất chiếu. May mắn, với Một thời ta đã yêu, tôi chỉ bị cắt những câu thoại thừa, giữ lại gần như nguyên vẹn các phân cảnh.
Thành Lộc sinh trong gia đình có truyền thống nghệ thuật. Cha anh là Nghệ sĩ Nhân dân Thành Tôn, mẹ là nghệ sĩ hát bội Huỳnh Mai, anh trai Bạch Long, chị gái Bạch Lê đều là những nghệ sĩ cải lương nổi tiếng. Anh được biết đến qua loạt vở kịch Dạ cổ hoài lang, Cậu đồng, Ngôi nhà không có đàn ông, Hợp đồng mãnh thú, Tấm Cám, series kịch thiếu nhi Ngày xửa ngày xưa. Nghệ sĩ còn góp mặt trong các phim truyền hình, điện ảnh, như Mùi ngò gai, Chàng trai năm ấy, Tấm Cám chuyện chưa kể, Ngôi nhà bươm bướm, Công tử Bạc Liêu, làm giám khảo Vietnam Got's Talent 2012.
Tháng 5/2023, sau 26 năm hợp tác, Thành Lộc rời Idecaf vì "không còn chung quan điểm". Sau đó, anh đồng thành lập sân khấu Thiên Đăng, thu hút nhiều nghệ sĩ hợp tác.