Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 8/4 công bố sửa đổi một số điều của Thông tư 29 về dạy thêm, học thêm.
Cụ thể, thời lượng dạy thêm tối đa trong trường vẫn là 2 tiết/tuần/môn, áp dụng với ba nhóm học sinh chưa đạt, ôn thi học sinh giỏi và cuối cấp (miễn phí). Tuy nhiên, các trường được dạy vượt ngưỡng này nếu học sinh có nhu cầu. Khi đó, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét, dựa trên đề nghị của hiệu trưởng.
Điểm mới nữa là Bộ yêu cầu các trung tâm dạy thêm công khai, cập nhật thường xuyên môn học, thời lượng, địa điểm, hình thức, danh sách học sinh và học phí. Trong quy định hiện hành, yếu tố “thường xuyên cập nhật” không được đề cập.
Giáo viên dạy ngoài trường cũng phải báo cáo hiệu trưởng các thông tin tương tự, kèm mối quan hệ với người tổ chức kinh doanh dạy thêm.
Ngoài ra, các xã, phường và trường học phải công khai số điện thoại đường dây nóng trên website hoặc niêm yết tại trụ sở, để tiếp nhận phản ánh của người dân về dạy thêm sai quy định.
Các sửa đổi có hiệu lực từ 15/5.
Thông tư 29 gây tranh cãi suốt một năm qua. Nhiều chuyên gia đánh giá nó giúp giảm hiện tượng dạy thêm tràn lan, phụ huynh cũng không phải e dè khi không cho con học thêm giáo viên ở trường. Tuy nhiên, phụ huynh phải gánh chi phí tăng 2-4 lần so với học thêm trong trường, dù cùng thời lượng, sĩ số lớp.
Tiếp xúc cử tri ở Hà Nội hồi đầu tháng 3, ông Hoàng Minh Sơn, Quyền Bộ trưởng Giáo dục, khẳng định “đấu tranh với những hiện tượng chưa lành mạnh” trong dạy thêm, học thêm, song sẽ tiếp thu các góc nhìn khác. Ông và Bộ sẽ nghiên cứu thấu đáo để vừa đảm bảo quyền được học tập của học sinh; vừa tạo sự công bằng, hạn chế thấp nhất vấn đề tiêu cực.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/bo-giao-duc-sua-thong-tu-29-ve-day-them-hoc-them-nhu-the-nao-5060026.html

Theo thống kê của Sở GD-ĐT, dự kiến số HS tốt nghiệp THCS năm học 2025 - 2026 là 169.080 em, tăng 42.734 HS so với năm học trước. Trong đó khu vực 1 (TP.HCM cũ) tăng 27.106 HS, khu vực 2 (Bình Dương) tăng 8.419 HS và khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu) tăng 7.209 HS.
Hiện nay khoảng 170 trường THPT công lập đã đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 - 2027 dự kiến với Sở GD-ĐT xấp xỉ 103.739 HS. Như vậy, nếu toàn bộ số HS lớp 9 đăng ký dự thi lớp 10 công lập, tỷ lệ HS trúng tuyển lớp 10 sẽ chiếm khoảng 61%. Cụ thể, các trường THPT ở khu vực TP.HCM và Bà Rịa-Vũng Tàu cũ có thể tuyển khoảng 66% số HS lớp 9, còn các trường ở khu vực Bình Dương cũ chỉ đạt khoảng 44%...
Một lãnh đạo Sở GD-ĐT chia sẻ: "Nhằm tạo điều kiện ưu tiên chỗ học cho con em trên địa bàn, đảm bảo an sinh xã hội, Sở mong muốn tăng tỷ lệ chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 công lập năm học 2026 - 2027 so với số HS lớp 9 tốt nghiệp lên ít nhất là 70% (tăng thêm khoảng 14.000 HS) để giảm số lượng HS không trúng tuyển từ 65.000 xuống còn 51.000. Những HS này sẽ theo học các trường THPT tư thục, trường trung cấp hoặc hệ GDTX, tùy năng lực, định hướng và điều kiện của HS".
Do đó, Sở GD-ĐT đã chỉ đạo khẩn các cơ sở giáo dục trực thuộc tiếp tục rà soát tiêu chuẩn, tiêu chí về điều kiện cơ sở vật chất, đề xuất nhu cầu mua sắm, sửa chữa, đánh giá lại khả năng tiếp nhận, dựa vào số HS lớp 9 theo khu vực; từ đó đánh giá và giao chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 công lập đạt 118.356 chỉ tiêu (chiếm tỷ lệ 70% so với HS lớp 9).
Trên cơ sở đề xuất của Sở GD-ĐT, Sở Tài chính TP.HCM đã có văn bản gửi UBND TP.HCM liên quan đến 2 cơ sở nhà đất tại số 1 Lê Thị Riêng (P.Thới An) và số 70A Thoại Ngọc Hầu (P.Tân Phú), là trụ sở UBND Q.12 và UBND Q.Tân Phú cũ, chuyển công năng thành trường học.
Theo Sở Tài chính, cơ sở tại số 1 Lê Thị Riêng đã được giao UBND P.Thới An quản lý từ cuối năm 2025, có diện tích hơn 36.600 m². Hiện chỉ còn một số đơn vị sử dụng khoảng 946 m² làm nơi làm việc, phần diện tích còn lại đang để trống.
Còn cơ sở tại số 70A Thoại Ngọc Hầu được giao UBND P.Tân Phú quản lý với diện tích hơn 13.000 m² đất, hơn 13.600 m² sàn. Nơi này đang bố trí trụ sở làm việc của Đảng ủy, HĐND, các đoàn thể và trung tâm hành chính công phường.
Trước đó, ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, cho biết thời gian qua sở này đã chủ động trao đổi với các phường, xã, đặc khu về việc sử dụng những trụ sở dôi dư làm trường lớp. Hiện có 20 địa phương đề xuất các trụ sở dôi dư làm các điểm trường, góp phần giảm áp lực gia tăng HS tại các địa bàn.
Ông Hiếu thông tin P.Thới An sau sắp xếp có dân cư rất đông, có 4 trường THCS nhưng lại không có trường THPT nên áp lực rất lớn. Do đó Sở đã gửi văn bản tới Sở Tài chính và UBND TP.HCM xin tiếp nhận trụ sở tại số 1 Lê Thị Riêng dự kiến làm trường liên cấp (tiểu học - THCS - THPT), còn cơ sở tại số 70A Thoại Ngọc Hầu làm trường THPT.
Sở GD-ĐT tiếp nhận, phối hợp lập dự án đầu tư, đảm bảo đưa công trình vào sử dụng phục vụ năm học 2026 - 2027.
Tin Gốc: Thanh Niên

Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
"Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói", ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
"Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ", ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
"Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng", ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,...
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho "lý thuyết vạn vật" có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
"Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm", Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
"Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học", ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Tin Gốc: Vnexpress

Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.

