Tại buổi làm việc với ngành nội vụ ngày 8-7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển tư duy từ “bằng cấp” sang “nghề nghiệp”, đào tạo theo chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra.
Chỉ đạo này đặt ra yêu cầu căn bản: người lao động phải được đánh giá bằng năng lực thực thi, khả năng thích ứng và giá trị tạo ra, thay vì chủ yếu dựa vào văn bằng.
Một nghịch lý kéo dài trên thị trường lao động là số người có bằng đại học, sau đại học ngày càng tăng, nhưng doanh nghiệp và cơ quan nhà nước vẫn thiếu người thạo việc, có khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Sự gia tăng về số lượng văn bằng chưa bảo đảm năng lực lao động được nâng lên tương ứng, trong khi quá trình đào tạo nhiều nơi vẫn nặng về thi cử, tích lũy tín chỉ và hoàn thiện hồ sơ.
Chuyển từ tư duy “bằng cấp” sang “nghề nghiệp” vì thế không chỉ là điều chỉnh tiêu chí tuyển dụng, mà đòi hỏi thay đổi đồng bộ từ giáo dục, sử dụng lao động đến cơ chế đánh giá và đãi ngộ con người.
Truyền thống hiếu học là một giá trị tốt đẹp nhưng khi tuyển dụng, xếp lương và bổ nhiệm còn nặng về hồ sơ, hiếu học dễ biến thành cuộc đua bằng cấp.
Từ phổ thông đến đại học, không ít người tập trung vào điểm số, tín chỉ và tấm bằng, trong khi tư duy phản biện, kỹ năng thực hành, hợp tác và giải quyết vấn đề chưa được phát triển tương xứng.
Vấn đề không nằm ở bản thân văn bằng, bởi văn bằng vẫn cần để chứng nhận một quá trình đào tạo. Đáng lo là chủ nghĩa bằng cấp: dùng văn bằng thay cho đánh giá năng lực và kết quả công việc.
Khi một văn bằng bổ sung đem lại lợi thế hành chính lớn hơn thành tích thực tế, con người sẽ đầu tư vào hồ sơ nhiều hơn năng lực, gây lãng phí nguồn lực và khiến người có tay nghề nhưng thiếu văn bằng phù hợp khó được trọng dụng.
“Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” thể hiện tinh thần thực học, thực nghiệp: giá trị nghề nghiệp của con người được tạo nên từ khả năng làm chủ một lĩnh vực và tạo ra sản phẩm có ích.
Tuy nhiên “nhất nghệ” không có nghĩa là chỉ biết một thao tác hoặc tự giới hạn trong một nghề cố định. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, chữ “tinh” phải bao gồm chuyên môn sâu, kỹ năng thực hành, tư duy hệ thống, năng lực sử dụng công nghệ và khả năng tự học.
Người làm kỹ thuật không chỉ cần biết vận hành máy móc mà còn phải đọc dữ liệu, nhận diện rủi ro và cải tiến quy trình.
Công chức không chỉ thuộc quy định mà phải hiểu vấn đề của người dân, biết phân tích chính sách và chịu trách nhiệm về kết quả xử lý. Giảng viên không thể chỉ truyền đạt kiến thức mà còn phải biết tổ chức hoạt động học tập, đánh giá năng lực và gắn đào tạo với thực tiễn.
Chuyển từ bằng cấp sang nghề nghiệp không phải chuyển từ đại học sang học nghề, càng không phải coi kỹ năng chỉ thuộc về giáo dục nghề nghiệp.
Từ giáo dục nghề nghiệp, đại học đến sau đại học, tất cả đều phải trả lời được những câu hỏi căn bản: Người học biết gì, làm được gì, tạo ra giá trị gì và có khả năng tiếp tục phát triển ra sao?
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phát triển nhân lực không thể chỉ dừng ở việc cấp văn bằng hay đáp ứng những nhu cầu tuyển dụng trước mắt. Cần hình thành một hệ sinh thái kỹ năng, trong đó chuẩn năng lực được cập nhật thường xuyên, việc học gắn với môi trường làm việc và người lao động có cơ hội nâng cao kỹ năng suốt đời.
Singapore là một ví dụ rõ nét. Chương trình SkillsFuture không xem tấm bằng là điểm kết thúc của quá trình học tập, mà tạo điều kiện để người lao động liên tục nâng cao kỹ năng và chuyển đổi nghề nghiệp.
Các khung kỹ năng mô tả vị trí việc làm, năng lực cần có và lộ trình phát triển trong hàng chục lĩnh vực. Nhiều chương trình kết hợp học tập có hướng dẫn, đào tạo tại nơi làm việc và thực hiện dự án thực tế.
Đức tổ chức đào tạo kép tại hai môi trường là trường nghề và doanh nghiệp. Phần Lan đánh giá kỹ năng thông qua những nhiệm vụ thực tế và các bài trình diễn năng lực tại nơi làm việc. Điểm chung không phải là xem nhẹ kiến thức, mà yêu cầu người học biết vận dụng kiến thức để thực hiện công việc.
OECD gọi đây là cách tiếp cận “skills-first”: coi kỹ năng có thể chứng minh là chỉ báo quan trọng về năng lực, trong khi văn bằng giữ vai trò bổ trợ và bảo đảm chất lượng, thay vì trở thành rào cản duy nhất trong tuyển dụng và phát triển nhân lực.
Bài học đối với Việt Nam là không thể chỉ sửa chương trình hay nói hoài “học đi đôi với hành”. Cần xây dựng chuẩn năng lực rõ ràng; tăng học tập qua công việc, dự án và tình huống thực; đánh giá bằng sản phẩm và kết quả thực hiện; đồng thời tuyển dụng, trả lương và thăng tiến dựa trên năng lực có thể kiểm chứng.
Chuyển từ tư duy nặng về bằng cấp sang nghề nghiệp không phải phủ nhận văn bằng, mà đòi hỏi văn bằng phải trở thành bằng chứng đáng tin cậy về năng lực được đào tạo.
Giá trị của người lao động tiếp tục được khẳng định qua khả năng hành nghề, sản phẩm tạo ra và trách nhiệm đối với kết quả công việc. Đó cũng là ý nghĩa hiện đại của “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
Mới đây, tại buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định kỳ thi lớp 10 hiện nay "căng thẳng hơn cả thi đại học (ĐH)". Nhận định này phản ánh đúng thực trạng áp lực mà học sinh (HS), phụ huynh và xã hội đang phải đối mặt.
Bản chất tuyển sinh lớp 10 hiện nay là một cuộc "sàng lọc" bằng giải pháp hành chính khi nhiều địa phương thiếu trường lớp và giáo viên (GV). Để giảm số HS vào trường công, các địa phương buộc phải tổ chức thi tuyển với mức cạnh tranh rất cao. Điều này đi ngược mục tiêu phổ cập giáo dục trung học mà VN hướng tới vào năm 2035, tức mọi HS sau THCS đều có cơ hội tiếp tục học THPT, trung học nghề hoặc giáo dục thường xuyên.
Một HS đã hoàn thành giáo dục bắt buộc THCS phải được tiếp tục học tập bình thường. Thế nhưng tại Hà Nội hay TP.HCM, có nơi tỷ lệ chọi vào lớp 10 ở một số trường khá cao khiến có HS không vào được trường công không phải vì học yếu mà vì thiếu chỗ học.
Năm học 2026-2027, Hà Nội chỉ có khoảng 55% HS tốt nghiệp THCS được vào THPT công lập, giảm mạnh so với các năm trước. Theo số liệu HS đăng ký nguyện vọng 1 vào lớp 10 các trường THPT công lập năm học 2026-2027 do Sở GD-ĐT TP.HCM công bố, có khoảng 79,4% sẽ trúng tuyển vào trường công.
Điều đó cho thấy áp lực tuyển sinh lớp 10 vẫn đặc biệt gay gắt, phản ánh nghịch lý: chủ trương phổ cập đến hết lớp 12 đã rõ nhưng hạ tầng và đội ngũ GV vẫn chưa theo kịp.
Trong nhiều năm, VN tự hào về thành tựu phổ cập giáo dục THCS và hướng đến mục tiêu phổ cập giáo dục hết phổ thông. Nhưng ngay sau lớp 9, một cuộc cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến mục tiêu phổ cập bị đứt gãy giữa chừng.
Ở bản chất sâu xa, tuyển sinh lớp 10 đại trà hiện nay không phải là đánh giá năng lực HS, mà là cơ chế phân bổ sự thiếu hụt nguồn lực giáo dục. Khi số lượng trường lớp công lập không đủ, kỳ thi trở thành "van điều tiết" để giảm áp lực cho hệ thống.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất đáng chú ý khi nhấn mạnh: "Thi cử để đánh giá chất lượng dạy và học, không phải để loại các cháu ra khỏi trường học". Đây không chỉ là góc nhìn nhân văn, mà còn là tư duy giáo dục tiến bộ của nhiều quốc gia phát triển.
Ở phần lớn các nước có nền giáo dục tiên tiến, giáo dục THPT gần như đã được phổ cập. HS có thể khác nhau về định hướng con đường học tập, nghề nghiệp và chương trình học, nhưng đều không bị loại khỏi hệ thống giáo dục và đào tạo chỉ vì thiếu chỗ học.
Một mâu thuẫn khác nằm ở chủ trương phân luồng sau THCS. Về mục tiêu cũng như khoa học giáo dục, việc phân luồng là cần thiết. Một quốc gia hiện đại không thể chỉ đào tạo cử nhân ĐH hay kỹ sư mà cần cả công nhân kỹ thuật, kỹ sư thực hành, chuyên gia công nghệ, nhân lực dịch vụ và lao động sáng tạo.
Nhưng ở VN hiện nay, phân luồng chưa thực sự dựa trên sự tự nguyện và hấp dẫn nghề nghiệp. Nhiều HS vào giáo dục nghề nghiệp không phải vì yêu thích kỹ thuật hay có khả năng thực hành rõ ràng, mà vì không đậu trường THPT công lập hay không có điều kiện kinh tế để học trường tư thục. Đây là khác biệt lớn giữa VN và các nước tiên tiến, việc học các trường nghề là tự nguyện, đào tạo có chất lượng và học viên vẫn có nhiều cơ hội phát triển lâu dài.
Khi học nghề bị xem như "lựa chọn thứ hai", phân luồng sẽ khó thành công. Phụ huynh vẫn tìm mọi cách để con vào THPT rồi ĐH bởi bằng ĐH hiện vẫn có ưu thế rõ rệt trên thị trường lao động. Trong khi đó, nhiều ngành nghề kỹ thuật dù xã hội thiếu nhân lực nhưng thu nhập chưa tương xứng, cơ hội thăng tiến còn hạn chế và hình ảnh xã hội chưa đủ hấp dẫn.
Do đó, nếu không thay đổi cấu trúc thị trường lao động và nâng vị thế giáo dục nghề nghiệp, HS và phụ huynh chủ yếu cũng chỉ chọn con đường vào lớp 10 công lập.
Nghịch lý của giáo dục VN là càng kêu gọi giảm áp lực thì HS càng học thêm nhiều hơn. Kỳ thi lớp 10 khiến nhiều HS lớp 9 sống trong căng thẳng kéo dài, học thêm liên tục. Với nhiều gia đình, năm lớp 9 trở thành "năm bản lề" đầy áp lực.
Nguyên nhân bởi phía sau kỳ thi là nỗi lo rất thực tế: nếu không vào được trường công, chi phí học trường tư sẽ tăng cao hoặc HS phải đi học xa nhà, khó bảo đảm việc học lâu dài. Vì vậy, tuyển sinh lớp 10 hiện nay không chỉ là áp lực giáo dục mà còn là gánh nặng kinh tế đối với nhiều gia đình.
Muốn giảm áp lực thi lớp 10, không chỉ thay đổi đề thi hay quy chế tuyển sinh mà cần xem giáo dục phổ thông là quyền học tập phải được bảo đảm cho mọi HS. Tuy nhiên, giảm áp lực không đồng nghĩa buông lỏng chất lượng. Nhiều địa phương từng xét tuyển học bạ thay cho thi tuyển để giảm căng thẳng, nhưng cách làm này cũng bộc lộ hạn chế khi động lực học tập giảm, dễ phát sinh tiêu cực và chất lượng đầu vào THPT đi xuống. Thực tế đó khiến một số tỉnh như Đắk Lắk và Quảng Nam (cũ) phải khôi phục thi tuyển lớp 10 sau nhiều năm xét tuyển.
Vì vậy, giải pháp không phải bỏ thi hoàn toàn hay duy trì thi cử quá nặng nề, mà cần cơ chế đánh giá cân bằng hơn, kết hợp học bạ với đánh giá năng lực để vừa giảm áp lực vừa bảo đảm chất lượng thực chất.
Gốc rễ của áp lực tuyển sinh lớp 10 nằm ở 3 vấn đề lớn: thiếu trường lớp và GV, bất bình đẳng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, và thị trường lao động chưa hợp lý; vì vậy cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ.
Trước hết, VN cần thực sự hướng đến phổ cập THPT và tương đương bằng cách đầu tư mạnh cho trường lớp, đặc biệt ở các đô thị tăng dân số nhanh. Chính quyền phải chủ động dự báo quy mô HS, không để tình trạng thiếu trường kéo dài. Đồng thời phải thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các trường để giảm tâm lý chạy đua vào trường top.
Đổi mới giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo và tạo cơ hội học lên cao hơn. Khi con đường nghề nghiệp đủ hấp dẫn, áp lực dồn vào THPT sẽ giảm tự nhiên.
Sáng 27.6, hơn 23.000 học sinh tại tỉnh Gia Lai bước vào môn thi đầu tiên của kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 - 2027.
Tại điểm thi Trường THPT Quốc học Quy Nhơn, từ sáng sớm, lực lượng công an cùng các đội hình Tiếp sức mùa thi của Đoàn Thanh niên đã có mặt để hỗ trợ thí sinh và phụ huynh.
Do thời tiết nắng nóng, nhiều thí sinh mang theo quạt cầm tay, nước uống để giữ sức trong thời gian chờ làm thủ tục và dự thi. Bên ngoài cổng trường, nhiều phụ huynh vẫn nán lại, dõi theo con em. Nhiều người chọn cách trú dưới các bóng mát để chờ đợi con em.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 - 2027 của tỉnh Gia Lai có hơn 23.000 thí sinh đăng ký dự thi tại 45 hội đồng coi thi với 48 điểm thi và 999 phòng thi.
Theo phương án tuyển sinh của tỉnh, học sinh khu vực phía Đông dự thi tuyển, trong khi học sinh khu vực phía Tây thực hiện xét tuyển. Riêng Trường THPT chuyên Hùng Vương (phường Diên Hồng) tổ chức tuyển sinh bằng hình thức thi tuyển theo quy định.
Theo lịch thi, sáng 27.6, thí sinh làm bài thi môn ngữ văn trong thời gian 120 phút; buổi chiều thi môn tiếng Anh trong 60 phút. Ngày 28.6, buổi sáng thí sinh thi môn toán (120 phút), buổi chiều các thí sinh đăng ký vào trường chuyên tiếp tục dự thi các môn chuyên với thời gian làm bài 150 phút.
Kết quả khảo sát do Trường Phổ thông Năng khiếu, ĐHQG TPHCM thực hiện trong tháng 4 và 5, với gần 98% học sinh toàn trường tham gia, cho thấy 45,6% học sinh xem thiếu trải nghiệm thực tế là khó khăn lớn nhất trong quá trình hướng nghiệp, 31,1% phân vân lựa chọn ngành nghề.
Khảo sát cũng ghi nhận 88,9% phụ huynh rất quan tâm đến việc hướng nghiệp cho con nhưng còn thiếu công cụ và nguồn tin cậy để đồng hành.
Theo TS Bùi Thị Hồng Hạnh, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Năng khiếu, học sinh của trường có nền tảng học thuật tốt và không thiếu thông tin. Các em cơ bản đều hiểu bản thân, biết mình yêu thích điều gì, song sự hiểu mình và hiểu nghề vẫn chưa kết nối được với nhau.
Ở góc độ phụ huynh, bà Hạnh cho biết ngay cả bản thân là người làm trong lĩnh vực giáo dục cũng cần được trang bị thêm công cụ và kiến thức để có thể hỗ trợ con hướng nghiệp một cách bài bản.
Từ kết quả khảo sát, nhà trường phối hợp xây dựng mô hình hướng nghiệp đa tầng và lần đầu triển khai trong năm học 2026-2027.
Chương trình hướng đến mục tiêu giúp học sinh đi từ "hiểu mình" đến "kết nối bản thân với ngành nghề và hành động phù hợp". Đồng thời có một cấu phần riêng nhằm cung cấp thông tin, phương pháp và kênh trao đổi tin cậy để cha mẹ đồng hành cùng con lựa chọn nghề nghiệp.
Theo TS Bùi Thị Hồng Hạnh, mô hình hướng nghiệp được thiết kế theo nhiều tầng, trong đó tầng phổ quát dành cho toàn bộ học sinh, các tầng tiếp theo sẽ được cá nhân hóa theo nhu cầu của từng nhóm, không cào bằng. Trong đó, 100% học sinh khối 10 sẽ được tham gia khám phá bản thân ngay từ năm đầu cấp. Học sinh lớp 11 và lớp 12 được hỗ trợ thu hẹp lựa chọn, kiểm chứng định hướng nghề nghiệp.
"Khi được hỗ trợ bài bản, chuyên sâu về hướng nghiệp theo từng nhóm nhu cầu, tôi tin tài năng của học sinh năng khiếu sẽ có thêm điều kiện để tỏa sáng và đóng góp nhiều hơn cho xã hội", bà Hạnh chia sẻ.
Bà Phoenix Ho, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc chuyên môn Hướng nghiệp Sông An, cho rằng hướng nghiệp cho học sinh giỏi luôn là một bài toán khó.
Theo bà, nhiều học sinh tài năng mới 16 tuổi nhưng đã tự đặt áp lực phải tìm được một câu trả lời "không được phép sai" về hình dung bản thân trong 10 năm tới.
"Nhiều học sinh hiểu bản thân khá rõ, điều các em cần là môi trường để cọ xát thực tế với các ngành nghề trước khi đưa ra lựa chọn. Hướng nghiệp cũng như chọn màu vẽ, chỉ khi tô lên giấy mới biết màu sắc hiện ra như thế nào và các màu hòa trộn với nhau ra sao. Điều quan trọng là phải để các em tự trải nghiệm, tự khám phá", bà Phoenix Ho nói.
Trường Phổ thông Năng khiếu trực thuộc ĐHQG TPHCM, là 1 trong 5 trường chuyên của TPHCM. Trường có nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng và phát triển học sinh có năng lực học tập nổi trội. Hiện trường có 2 cơ sở tại phường An Đông và phường Đông Hòa, TPHCM.