Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới vừa được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành đặt ra yêu cầu rất lớn cho TP.HCM sau sáp nhập tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế, tiên phong về mô hình phát triển, thể chế và quản trị đô thị.
Nhưng theo TS Phạm Thái Sơn – giảng viên Trường đại học Việt Đức – thì để hiện thực hóa mục tiêu ấy, điều người dân cảm nhận rõ nhất phải là chất lượng sống.
* Ông nhìn nhận như thế nào về tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 09 đặt ra cho TP.HCM?
– Nghị quyết 09 không chỉ nói về tăng trưởng kinh tế hay vai trò đầu tàu của TP.HCM, mà sâu xa hơn là định hướng xây dựng một đô thị có năng lực cạnh tranh khu vực và sức hút toàn cầu.
Nghị quyết nhấn mạnh TP.HCM phải tiên phong về mô hình phát triển, thể chế và quản trị hiện đại. Nhưng khi đi vào thực tiễn, người dân sẽ không cảm nhận điều đó bằng các khái niệm lớn, mà bằng những trải nghiệm rất cụ thể như đi làm mất bao lâu, có mua nổi nhà không, có không gian công cộng để sử dụng không, môi trường sống có ô nhiễm không.
Đó mới là những chỉ dấu thật sự của một thành phố sống tốt. Nếu TP.HCM muốn giữ được vai trò đầu tàu, muốn cạnh tranh với các đô thị lớn trong khu vực, thì không thể chỉ nói đến đầu tư hay tăng trưởng, mà phải tạo ra chất lượng sống đủ tốt để thu hút và giữ chân người tài, đặc biệt là tầng lớp sáng tạo.
* Vì sao ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “tầng lớp sáng tạo”?
– Vì đây là lực lượng tạo ra giá trị gia tăng chính cho kinh tế đô thị hiện đại. Trên thế giới, các thành phố cạnh tranh nhau không chỉ bằng ưu đãi đầu tư mà còn bằng môi trường sống, văn hóa, khả năng sáng tạo và mức độ cởi mở. Người có trình độ cao thuộc tầng lớp sáng tạo ngày càng có nhiều lựa chọn nơi sinh sống và làm việc.
Họ sẽ chọn nơi có giao thông thuận tiện, khu ở chất lượng cao, không gian công cộng hấp dẫn, môi trường làm việc cởi mở, cơ hội phát triển nghề nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh, đa dạng về văn hóa, di sản và trải nghiệm.
Do đó, nhiệm vụ cụ thể hóa Nghị quyết 09 không thể chỉ dừng ở cải thiện thể chế hay đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, mà phải là xây dựng được một hệ sinh thái đô thị sống tốt.
* Theo ông, TP.HCM cần thay đổi gì trong quy hoạch đô thị để hiện thực hóa mục tiêu đó?
– Điều đầu tiên là phải hoàn thiện với chất lượng cao quy hoạch tổng thể thành phố. Quy hoạch cần đóng vai trò nền tảng cho liên kết vùng, phát triển TOD (Transit-Oriented- Development – mô hình phát triển đô thị lấy giao thông công cộng làm trung tâm), tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bao trùm về xã hội.
Nhưng vấn đề lớn hiện nay là chúng ta thường tập trung lập quy hoạch mà chưa chú trọng đầy đủ đến quá trình triển khai cũng như cơ chế giám sát và đánh giá triển khai quy hoạch.
TP.HCM nên đi đầu xây dựng một khung giám sát và đánh giá quy hoạch với các chỉ số định lượng và mục tiêu định tính rõ ràng. Đây là thứ hiện nay hệ thống quy hoạch Việt Nam còn thiếu.
Nếu không có công cụ giám sát hiệu quả, quy hoạch rất dễ trở thành câu chuyện trên giấy và tác động của quy hoạch không thể được đánh giá cụ thể, thực chứng, từ đó không thể ra được định hướng điều chỉnh phù hợp khi cần.
Ngoài ra, sau sáp nhập, thành phố cũng cần cơ chế quy hoạch liên phường, liên xã để giải quyết các vấn đề hạ tầng và phát triển liên vùng cấp cơ sở. Đây là điểm rất quan trọng nhưng hiện còn thiếu nền tảng pháp lý rõ ràng.
* Ông cũng đề cập khá mạnh đến vai trò cộng đồng trong quy hoạch đô thị?
– Đúng vậy. Tôi cho rằng TP.HCM cần tạo cơ chế để người dân và cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình quy hoạch và phát triển đô thị.
Người dân không thể chỉ là đối tượng bị tác động, mà phải trở thành một bên tham gia xuyên suốt trong các dự án phát triển đô thị, cùng đóng góp, chia sẻ trách nhiệm và lợi ích với Nhà nước và doanh nghiệp, nhất là với các dự án cần huy động nguồn lực đất đai mà họ đang có quyền sử dụng hợp pháp. Điều này giúp tăng tính khả thi khi triển khai quy hoạch.
Bên cạnh đó, TP.HCM cũng nên mạnh dạn thí điểm thuê tư vấn chuyên môn độc lập đánh giá chất lượng hồ sơ quy hoạch, thiết kế không gian và thiết kế công trình, nhất là ở cấp cơ sở. Chính quyền giữ vai trò phê duyệt dựa trên đánh giá chuyên môn, thay vì ôm toàn bộ quy trình như hiện nay.
Sáng nay 6.7, lễ triển khai tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được tổ chức tại công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP.HCM.
Sau nhiều ngày tìm kiếm tại công viên Lê Thị Riêng, lực lượng chức năng thu thập 7 hài cốt liệt sĩ cùng nhiều di vật, trong đó một trường hợp được xác định danh tính.
Thiếu tướng Trần Chí Tâm, Phó chính ủy Quân khu 7, cho biết công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng được triển khai trên cơ sở quá trình khảo sát, xác minh kỹ lưỡng.
Theo thiếu tướng Trần Chí Tâm, từ ngày 14.6 - 30.6, các lực lượng đã phối hợp thực hiện khảo sát bằng ra đa xuyên đất, phân tích địa tầng tại khu vực nghi có rãnh mộ. Sau khi có kết quả, đơn vị tổ chức hội nghị triển khai và từ ngày 23.6 bắt đầu đào khảo sát.
"Chúng tôi mở rãnh khảo sát rộng khoảng 3 m, dài khoảng 10 m, sâu khoảng 3 m. Sau khi đào, hút cạn nước và mở rộng hai bên rãnh, lực lượng tìm kiếm phát hiện các hài cốt liệt sĩ nằm xếp lớp lên nhau. Chúng tôi đã báo cáo, xin ý kiến Ban Chỉ đạo quốc gia và tiến hành quy tập theo quy định", thiếu tướng Trần Chí Tâm cho biết.
Trong đợt đầu, lực lượng chức năng phát hiện 5 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 3 hài cốt tương đối nguyên vẹn, 2 hài cốt còn lại bị phân hủy nhiều. Đặc biệt, trong số này có một hài cốt xác định được danh tính là liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, chiến sĩ Giải phóng quân, giữ chức Tiểu đội phó, hy sinh trong trận đánh năm 1968.
Thiếu tướng Trần Chí Tâm cho biết thêm, qua rà soát, giải mã phiên hiệu đơn vị, lực lượng chức năng xác định liệt sĩ Huỳnh Văn Quên thuộc đơn vị của Long An, tham gia trận đánh khu vực cầu Chữ Y trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Ngay sau đó, Quân khu 7 đã phối hợp Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh và các địa phương liên quan để rà soát hồ sơ, tìm quê quán, thân nhân liệt sĩ.
"Chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp các địa phương, cơ quan báo chí, truyền hình để thực hiện hành trình tìm lại danh tính cho các liệt sĩ được phát hiện tại đây", thiếu tướng Trần Chí Tâm nói.
Theo thiếu tướng Trần Chí Tâm, đến sáng 6.7, lực lượng chức năng đã quy tập được 7 hài cốt liệt sĩ; 2 hài cốt khác đang tiếp tục được xử lý, xác minh. Qua khảo sát thực tế, lực lượng tìm kiếm nhận định phía dưới khu vực này vẫn còn nhiều hài cốt liệt sĩ.
Cùng với hài cốt, các lực lượng còn phát hiện nhiều di vật, trong đó có hộp tiếp đạn, nhiều viên đạn, cưa tay và một số giấy tờ liên quan đến đơn vị.
Đáng chú ý, một hài cốt liệt sĩ còn giữ được quyết định điều động của đơn vị KB ở miền Nam, thể hiện người này là Trung đội phó thuộc lực lượng Giải phóng quân miền Nam. Một di vật giấy khác cũng được tìm thấy nhưng chữ đã mờ, hiện đang nhờ các cơ quan chuyên môn, bảo tàng hỗ trợ phục chế để phục vụ việc xác định danh tính liệt sĩ.
Chia sẻ cảm xúc khi trực tiếp chứng kiến thời điểm phát hiện hài cốt liệt sĩ, thiếu tướng Trần Chí Tâm nói ông rất xúc động.
"Ngày đầu tiên triển khai, chúng tôi rất lo lắng. Đến ngày thứ hai, khi đang chủ trì cuộc họp ở đơn vị, tôi nhận được tin báo từ lực lượng tìm kiếm. Tôi cho dừng cuộc họp và trực tiếp xuống hiện trường. Khi nhìn thấy các di vật đi cùng hài cốt, túi đựng, vũ khí, trang bị của bộ đội, chúng tôi có đủ cơ sở để khẳng định đây là hài cốt liệt sĩ thuộc lực lượng Giải phóng quân miền Nam. Lúc đó, tôi rất xúc động, rơi nước mắt", thiếu tướng Trần Chí Tâm chia sẻ.
Thiếu tướng Trần Chí Tâm cho rằng kết quả bước đầu cho thấy thông tin về các rãnh mộ tại khu vực công viên Lê Thị Riêng là có cơ sở. Hiện lực lượng chức năng đang tiếp tục mở rộng tìm kiếm để xác định các rãnh mộ còn lại.
"Chúng tôi tin tưởng thời gian tới sẽ tiếp tục tìm được các rãnh mộ còn lại, để quy tập đầy đủ hài cốt liệt sĩ, đưa các anh về nơi an nghỉ trang trọng, đúng với ý nghĩa của Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ", thiếu tướng Trần Chí Tâm nhấn mạnh.
Giữa trưa hè, khu vườn cau rộng hơn 5 ha của ông Hà Văn Dũng (60 tuổi, xã Giao An) phủ kín màu xanh. Những hàng cau cao, thân thẳng, tán gọn tạo khoảng không thoáng. Xen trên thân cây là các cụm cốt toái bổ bám dày, phát triển tự nhiên.
Hơn 15 năm trước, ông Dũng bắt đầu trồng cau khi nhận thấy cây phù hợp thổ nhưỡng đồi núi, chịu hạn, ít công chăm sóc. Năm 2006, ông chuyển hơn 1 ha đất sang trồng khoảng 1.200 cây. Sau 5 năm, cau cho thu hoạch, đầu ra ổn định, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Từ diện tích ban đầu, ông mở rộng lên hơn 5 ha với khoảng 13.000 cây. Ngoài bán quả, ông tận dụng mo cau, hạt cau và ươm giống để tăng thêm thu nhập. Nhờ đa dạng nguồn thu, mỗi năm vườn cau mang về tiền tỷ cho gia đình.
Tuy nhiên theo ông, phần thân cau chiếm diện tích lớn trong vườn gần như chưa được khai thác. Từ đó, ông tìm cách tận dụng để nâng giá trị.
Trong những lần lên rừng thu mua dược liệu, ông chú ý đến cốt toái bổ, loài cây thường mọc bám trên đá hoặc thân cây lớn. Đây là vị thuốc trong Đông y, dùng hỗ trợ xương khớp, được thị trường tiêu thụ ổn định. Nguồn trong tự nhiên ngày càng giảm do khai thác nhiều.
Năm 2010, ông bắt đầu thử nghiệm đưa cốt toái bổ về trồng trên thân cau. Do đặc tính sống bám, cây không cần đất nhưng giai đoạn đầu khó thích nghi. Ông phải điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng và thời điểm trồng qua nhiều năm mới ổn định.
Sau khoảng 5 năm, cây phát triển tốt, bắt đầu cho thu hoạch phần thân rễ. Thay vì bán đại trà, ông giữ lại phần lớn để nhân giống, từng bước mở rộng diện tích.
Đến nay, vườn cau có gần 1.000 bụi cốt toái bổ phân bố trên nhiều thân cây. Việc tận dụng thân cau làm giá thể giúp tiết kiệm đất, giảm chi phí và tạo điều kiện sinh trưởng gần với tự nhiên.
Giá cốt toái bổ hiện dao động 35.000-50.000 đồng mỗi kg. Theo tính toán, nếu khai thác thương mại, nguồn thu có thể đạt khoảng 200 triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, ông Dũng vẫn ưu tiên nhân giống để phát triển lâu dài.
Mô hình kết hợp này giúp tăng giá trị trên cùng diện tích, đồng thời giảm phụ thuộc vào thị trường cau vốn biến động. Việc trồng dược liệu trong vườn cũng góp phần hạn chế khai thác từ rừng tự nhiên, nơi nguồn cốt toái bổ đang suy giảm.
Chính quyền địa phương đánh giá mô hình cau - dược liệu tận dụng tốt tài nguyên sẵn có. Trong bối cảnh dược liệu ngoài tự nhiên ngày càng khan hiếm, đây có thể là hướng phát triển nếu được hỗ trợ kỹ thuật.
Hiện ông Dũng tiếp tục mở rộng diện tích trồng cốt toái bổ, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm cho người dân. Ngoài cau và dược liệu, ông còn trồng thêm cây ăn quả, nuôi ong lấy mật, hướng tới mô hình kinh tế tổng hợp và phát triển du lịch sinh thái.
Chiều 29/6, UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức lễ phát động Chiến dịch 90 ngày đêm khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí toàn dân năm 2026.
Tây Ninh là một trong những địa phương triển khai sớm chủ trương khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân.
Theo kế hoạch, trong năm 2026, tỉnh dự kiến khám sàng lọc miễn phí cho khoảng 2,13 triệu người trong tổng số 3,2 triệu dân, đồng thời lập và cập nhật hồ sơ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời.
Đối với hơn 1,05 triệu người còn lại, tỉnh sẽ tổ chức khám sức khỏe hoặc khám sàng lọc miễn phí theo khả năng cân đối ngân sách và các nguồn huy động hợp pháp khác.
Chiến dịch được triển khai tại 96 xã, phường nhằm thực hiện chủ trương của Nghị quyết số 72 năm 2025 của Bộ Chính trị về từng bước khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho toàn dân. Đây cũng là bước cụ thể hóa định hướng chuyển từ chữa bệnh sang phòng bệnh, lấy y tế cơ sở làm nền tảng và người dân làm trung tâm.
Phát biểu tại lễ phát động, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Hẳn nhấn mạnh, hiệu quả của chiến dịch không chỉ được đánh giá qua số lượng người dân được khám mà còn ở chất lượng khám, độ chính xác của dữ liệu sức khỏe, khả năng theo dõi sau khám và mức độ hài lòng của người dân.
Ông yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung triển khai đồng bộ, bảo đảm đúng tiến độ, không hình thức, không bỏ sót đối tượng.
UBND các xã, phường và các cơ quan, đơn vị liên quan phải xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ địa điểm, thời gian, lực lượng thực hiện và phương án huy động người dân tham gia. Việc tổ chức khám cần tạo thuận lợi cho người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn và người dân ở vùng sâu, vùng xa.