Đài Khí tượng thủy văn Nam bộ cho biết, nắng nóng đang gia tăng trên khắp khu vực Nam bộ do áp cao cận nhiệt đới có trụ vắt qua nam Trung bộ và Nam bộ hoạt động ổn định. Thêm vào đó, cường độ gió trên vùng biển Nam bộ hoạt động yếu khiến cho trời quang mây và cường độ nắng nóng thêm gay gắt. Khoảng ngày 8 – 9.4, áp thấp nóng phía tây hoạt động động mạnh trở lại và phát triển về phía đông nam; khiến nắng nóng càng thêm gay gắt.
Trong hai ngày cuối tuần, mức nhiệt cao nhất tại TP.HCM và các tỉnh miền Đông phổ biến 36 – 37 độ C, từ đầu tuần sau (ngày 6.2) có thể tăng thêm 1 độ lên 37 – 38 độ C. Nắng nóng cũng mở rộng sang các tỉnh miền Tây, một số nơi xuất hiện nắng nóng gay gắt đặc biệt khu vực giáp biên giới tây nam như Đồng Tháp, An Giang có thể xuất hiện mức nhiệt cao nhất đến 37 độ C; còn Vĩnh Long và Cần Thơ cũng ghi nhận mức nhiệt cao nhất từ đầu mùa khô là 36 độ C.
Trên phạm vi cả nước, từ ngày 6.4, khu vực tây Bắc bộ và đồng bằng Bắc bộ xuất hiện nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt. Từ ngày 7.4 nắng nóng có khả năng mở rộng ra các tỉnh phía đông Bắc bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 37 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 45 – 55%.
Nhiệt độ khí tượng nêu trên thường thấp hơn nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời từ 2 – 4. độ C, thậm chí có thể cao hơn; nguyên nhân do phụ thuộc vào các điều kiện mặt đệm như bê tông, đường nhựa.
Do ảnh hưởng của nắng nóng và nắng nóng gay gắt kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao. Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao.
Nguồn: https://thanhnien.vn/tuan-sau-tphcm-se-nong-nhu-chao-lua-185260405145202433.htm

Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập cá nhân (dự thảo nghị định).
Theo bộ này, trong quá trình lấy ý kiến dự thảo nghị định, có ý kiến đề nghị quy định hướng dẫn thu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng như nội dung tại luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 giao Chính phủ quy định.
Cụ thể, theo khoản 10 điều 3 luật Thuế thu nhập cá nhân 2025: "Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng".
Bộ Tài chính đánh giá, quy định này đảm bảo Chính phủ có cơ sở pháp lý quyết định việc thu thuế và các nội dung cụ thể như ngưỡng chịu thuế, điều chỉnh thuế suất khi các điều kiện về quản lý thị trường vàng đáp ứng yêu cầu của công tác thu và quản lý thu.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án thành lập sàn giao dịch vàng để báo cáo Chính phủ. Sau khi đề án được thông qua, các bộ, ngành mới có căn cứ hoàn thiện các quy định có liên quan đến việc quản lý thị trường vàng.
Do vậy, tại dự thảo nghị định chưa quy định chi tiết về việc thu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng.
Trước đó, trong quá trình xây dựng dự thảo luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, Bộ Tài chính từng đưa ra đề xuất bổ sung quy định thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng vào diện chịu thuế, với mức thuế suất dự kiến là 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Cuối cùng nội dung này không chính thức được đưa vào luật nhưng cũng nhận về không ít góp ý.
Nhiều chuyên gia đồng tình cần đánh thuế với chuyển nhượng vàng miếng, song cho rằng thuế nên được thiết kế trên tinh thần hài hòa, điều tiết đúng đối tượng đầu cơ.
Chuyên gia thuế Nguyễn Ngọc Tú, giảng viên Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, nhấn mạnh: "Bộ Tài chính cần tính toán để khi đánh thuế phải phân biệt rõ ràng giữa đối tượng kinh doanh, đầu cơ vàng với người dân tích lũy tiết kiệm bằng vàng, bán đi để trang trải cuộc sống.
Ví dụ như trường hợp người dân có ít vàng tích trữ, bán đi để chữa bệnh, hoặc bố mẹ bán vàng để góp tiền mua nhà cho con; người dân được thừa kế vàng từ cha mẹ rồi bán vàng nhằm chi dùng cho mục đích khác, bản chất không phải kinh doanh vàng...".
Bên cạnh vấn đề về thuế với chuyển nhượng vàng miếng, tại luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đã bổ sung quy định về thuế thu nhập cá nhân với các khoản thu nhập khác.
Dự thảo nghị định quy định chi tiết các khoản thu nhập khác, bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn"; thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon của cá nhân sở hữu chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các bon; thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá theo quy định của pháp luật, thuế được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 5%.
Trong đó, thu nhập tính thuế là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh.
Với thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá: thu nhập tính thuế là phần vượt trên 20 triệu đồng của giá chuyển nhượng (bao gồm cả xe gắn với biển số trúng đấu giá) trừ (-) đi giá trị còn lại của xe theo giá tính lệ phí trước bạ tại thời điểm chuyển nhượng.
Với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số: thuế thu nhập được xác định bằng giá chuyển nhượng nhân (x) với thuế suất 0,1%.
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số bao gồm: tài sản ảo, tài sản mã hóa và các tài sản số khác theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Để thống nhất với hiệu lực thi hành của luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, dự thảo nghị định quy định đồng bộ hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026.
Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (trừ quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa áp dụng từ ngày 1.7.2026).
Tin Gốc: Thanh Niên

Tư duy mở cửa với dòng vốn ngoại ở Việt Nam thực ra không phải đến sau Đổi mới mới hình thành, mà đã được thai nghén từ rất sớm. Ngay từ năm 1977, trong bối cảnh đất nước vừa thống nhất nhưng còn bộn bề khó khăn, Chính phủ đã ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài theo Nghị định 115 như một bước thử nghiệm ban đầu.
Tuy nhiên, khi điều kiện quốc tế chưa thuận lợi, cách tiếp cận còn dè dặt, thậm chí khắt khe, dòng vốn ngoại gần như chưa thể hiện diện trong suốt gần một thập kỷ sau đó. Bước sang những năm 1980, tình hình càng trở nên ngặt nghèo khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng sâu sắc, lạm phát năm 1986 vọt lên gần 800%, trong khi đất nước vẫn chịu bao vây, cấm vận và các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài dần thu hẹp.
Nhớ lại giai đoạn đầy gian khó mà thử thách ấy, ông Nguyễn Văn Toàn – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, chính trong thế "bức bách" đó, nhu cầu đổi mới tư duy và tìm kiếm nguồn lực từ bên ngoài trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đại hội VI năm 1986 đã mở ra bước ngoặt lịch sử, khai sinh công cuộc Đổi mới, và ngay sau đó, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ra đời, bất chấp nhiều tranh luận, đã đặt nền móng cho việc thu hút FDI.
"Không chỉ là một khung khổ pháp lý, đạo luật này còn là tuyên ngôn mạnh mẽ về quyết tâm mở cửa, hội nhập của nền kinh tế. Từ đây, Việt Nam từng bước thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài, lấy lại đà tăng trưởng, mở rộng quy mô, nâng cao vị thế trên trường quốc tế và tạo nền tảng cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những thập niên sau", ông Toàn chia sẻ.
Từ nền tảng tư duy và thể chế được khai mở từ cuối thập niên 1980, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã trải qua nhiều "làn sóng", phản ánh rõ nhịp độ mở cửa và năng lực hấp thụ của nền kinh tế.
Giai đoạn 1988–1990 là bước khởi động. Cột mốc năm 1991 khi vốn đăng ký vượt 1 tỷ USD không chỉ là con số, mà là tín hiệu đầu tiên cho thấy niềm tin của nhà đầu tư quốc tế bắt đầu hình thành.
Niềm tin đó nhanh chóng được củng cố trong thập niên 1990. Giai đoạn 1991–2000, Việt Nam thu hút hơn 45 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 20 tỷ USD được giải ngân. FDI khi đó không chỉ bổ sung vốn, mà trực tiếp kéo tăng trưởng, góp phần duy trì tốc độ GDP bình quân trên 7,5%/năm. Quan trọng hơn, dòng vốn này bắt đầu định hình nền tảng công nghiệp: những dự án của PouChen, Feng Tay hay Honda đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành chế biến chế tạo.
Bước sang giai đoạn 2001–2010, FDI tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô lẫn vai trò. Tổng vốn đăng ký đạt gần 169 tỷ USD, gấp hơn 3 lần giai đoạn trước. Khu vực FDI trở thành một trong những trụ cột khi đóng góp gần 19% GDP, hơn 45% sản xuất công nghiệp và trên một nửa kim ngạch xuất khẩu. Sự xuất hiện của các dự án tỷ USD như Intel hay Posco cho thấy Việt Nam đã bước vào "tầm ngắm" của các tập đoàn công nghệ và công nghiệp toàn cầu.
Giai đoạn 2011–2020 đánh dấu sự chuyển pha từ tăng trưởng "nóng" sang ổn định và đi vào chiều sâu. Khu vực FDI chiếm khoảng 20% GDP, hơn một nửa sản xuất công nghiệp và gần 80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Việt Nam từng bước trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tỉ trọng đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo tăng lên gần 50%, phản ánh quá trình "leo thang" trong chuỗi giá trị, đặc biệt ở lĩnh vực điện tử.
Từ năm 2021 đến nay, trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam nổi lên như một điểm đến chiến lược của làn sóng đầu tư mới, đặc biệt trong công nghệ cao và bán dẫn. Hàng loạt tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Foxconn hay Nvidia mở rộng hiện diện, củng cố vai trò của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Sau gần 4 thập kỷ, FDI đã trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế. Từ chỗ chỉ đóng góp 27% xuất khẩu năm 1995, khu vực này hiện chiếm gần 3/4 tổng kim ngạch. Nhưng vượt lên trên các con số, thành tựu lớn nhất là sự hình thành niềm tin, khi Việt Nam chứng minh được mình là một điểm đến ổn định, còn nhà đầu tư quốc tế trở thành một phần trong cấu trúc tăng trưởng dài hạn.
Nhìn lại chặng đường đã qua, ông Nguyễn Văn Toàn cho rằng, phía sau những con số tăng trưởng ấn tượng vẫn có những "khoảng lặng" đáng suy ngẫm, những cơ hội đã đi qua nhưng chưa được tận dụng trọn vẹn.
Cơ hội đầu tiên xuất hiện ngay trong giai đoạn khởi đầu thu hút FDI, khi mô hình liên doanh còn phổ biến. Khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải bắt tay với doanh nghiệp Việt Nam để "hiểu" thị trường bản địa. Lẽ ra, đây là thời điểm vàng để học hỏi công nghệ, quản trị và từng bước nâng cấp năng lực.
Nhưng thực tế, chúng ta chưa đủ tâm thế và nội lực để đi cùng họ một cách bình đẳng. Khi môi trường đầu tư dần minh bạch, rào cản được gỡ bỏ, nhà đầu tư chuyển sang mô hình 100% vốn nước ngoài và cánh cửa học hỏi cũng dần khép lại.
Cơ hội thứ hai đến vào thời điểm gia nhập WTO (2007–2008), khi dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam ồ ạt như vũ bão. Đỉnh điểm là năm 2008, ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tổng số vốn FDI đăng ký lên đến gần 72 tỷ USD – con số kỷ lục cho đến tận hiện tại. Nhưng đằng sau "đỉnh cao" ấy lại là một nghịch lý: vốn đăng ký tăng vọt, còn vốn thực hiện lại không theo kịp. Điểm nghẽn không nằm ở dòng vốn, mà nằm ở khả năng hấp thụ. Nội lực yếu khiến nền kinh tế không thể chuyển hóa cơ hội thành giá trị thực.
Hai cơ hội bị bỏ lỡ, xét đến cùng, đều quy về một nguyên nhân: nội lực chưa đủ mạnh.
Trong một thời gian dài, Việt Nam thu hút FDI với mục tiêu rất rõ ràng là bù đắp thiếu vốn, tận dụng lao động dồi dào, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng. Dòng vốn ngoại đã hoàn thành tốt vai trò đó, trở thành "đòn bẩy" đưa nền kinh tế thoát khỏi trì trệ và hội nhập nhanh vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhưng khi đã qua giai đoạn "cần vốn bằng mọi giá", cách tiếp cận buộc phải thay đổi. Từ năm 2019, đặc biệt sau Nghị quyết 50, chiến lược thu hút FDI chính thức chuyển trục: từ số lượng sang chất lượng.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế vẫn còn đáng kể. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở sự đứt gãy liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Một minh chứng rõ ràng là khi các tập đoàn công nghệ tìm kiếm nhà cung ứng nội địa, hàng trăm doanh nghiệp tham gia nhưng số đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật cao gần như không đáng kể. Phần lớn vẫn dừng ở những khâu đơn giản như bao bì, đóng gói.
Hệ quả là tỉ lệ nội địa hóa thấp, chỉ quanh mức 20–25% trong khối FDI; toàn nền kinh tế cũng mới đạt khoảng 36,6%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng cấp 1, cấp 2 chỉ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn dự án FDI vẫn tập trung ở khâu gia công, lắp ráp khi giá trị gia tăng thấp và khả năng lan tỏa công nghệ hạn chế.
Điều đáng nói, trong khi FDI đóng góp tới gần 70% kim ngạch xuất khẩu và hơn một nửa sản xuất công nghiệp, thì phần giá trị thực sự "ở lại" trong nền kinh tế lại không tương xứng. Sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI khiến bài toán tự chủ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục biến động.
Ở chiều ngược lại, những hạn chế về thể chế và thực thi cũng đang bộc lộ rõ. Môi trường kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, thủ tục sau khi có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư còn phức tạp, năng lực thẩm định các dự án công nghệ cao tại một số địa phương còn hạn chế. Các cơ chế ưu đãi vẫn mang tính dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa đủ mạnh để thúc đẩy liên kết thực chất giữa FDI và doanh nghiệp nội địa.
"Sau gần 4 thập kỷ "trải thảm đỏ", bài toán không còn là thu hút thêm bao nhiêu vốn, mà là giữ lại được bao nhiêu giá trị. Và câu trả lời, một lần nữa, quay về điểm cốt lõi: phải xây dựng được những doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để đứng cùng, chứ không chỉ đứng cạnh dòng vốn ngoại. Khi đó, FDI mới thực sự trở thành động lực nội sinh, thay vì chỉ là động lực tăng trưởng bên ngoài", ông Nguyễn Văn Toàn nói.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với tham vọng rõ ràng: đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026–2030. Trong cấu trúc động lực đó, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là "chìa khóa", còn FDI tiếp tục là nguồn lực quan trọng cần được huy động có chọn lọc.
Định hướng này đã được cụ thể hóa trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026–2030, với hàng loạt giải pháp nhằm "nâng cấp" chất lượng FDI: khuyến khích nhà đầu tư tái đầu tư lợi nhuận tại Việt Nam, vận hành hiệu quả Quỹ Hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy các dự án công nghệ cao và, quan trọng hơn, tạo liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa trong chuỗi cung ứng. Mục tiêu cuối cùng không phải là dòng vốn lớn hơn, mà là giá trị giữ lại nhiều hơn.
Trong bối cảnh đó, câu chuyện công nghệ trở thành điểm tựa chiến lược. Bài học không mới nhưng vẫn còn nguyên giá trị: không nên tự làm lại những gì thế giới đã làm tốt, mà phải biết "đứng trên vai người khổng lồ". Hợp tác, chuyển giao, mua lại và phát triển công nghệ trên nền tảng sẵn có là con đường ngắn hơn để thu hẹp khoảng cách. Một số doanh nghiệp Việt đã đi theo hướng này, bắt đầu từ những phân khúc ngách để tích lũy năng lực, thay vì dàn trải tham vọng.
Nhưng công nghệ chỉ phát huy khi đi cùng một bộ máy thực thi đủ mạnh. Nếu thể chế là "đường ray", thì đội ngũ thực thi chính là "đầu tàu". Khi chính sách đúng nhưng triển khai chậm hoặc méo mó, lợi thế sẽ bị bào mòn. Vì vậy, cải cách không chỉ dừng ở tinh giản, mà phải nâng chất: đãi ngộ tương xứng, môi trường chuyên nghiệp và cơ chế minh bạch để giữ chân người giỏi.
Song song, một nền kinh tế mở không thể chỉ dựa vào dòng vốn đi vào. Đầu tư ra nước ngoài (OFDI) cần trở thành "chân thứ hai", giúp doanh nghiệp Việt mở rộng không gian phát triển, tiếp cận công nghệ và thị trường mới. Khi doanh nghiệp đủ sức "ra biển lớn", nền kinh tế mới có thể tiến tới tự chủ và tăng khả năng chống chịu.
Tất cả dẫn tới một yêu cầu mang tính bước ngoặt: chuyển từ "trải thảm đỏ" sang "trải thảm thông minh". Không chỉ mời gọi, mà phải chủ động thiết kế hệ sinh thái để chọn lọc và khai thác hiệu quả FDI.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ NN-MT) vừa có những điều chỉnh, cập nhật trong Chương trình giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tại Cà Mau. Theo đó, phạm vi giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ, sau khi điều chỉnh, cập nhật có 14 đối tượng được giám sát, bao gồm tôm sú; tôm thẻ chân trắng; tôm bạc thẻ; tôm chì; cá tra; cá diêu hồng; cá trê (trê vàng, trê phi); cá nàng hai; cá chẽm; cá chốt; cá lóc; cá rô phi; cá rô đồng và lươn. Việc bổ sung, cập nhật như nêu trên xuất phát từ phản ánh của doanh nghiệp và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu tỉnh Cà Mau (CASEP).
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, CASEP phản ánh các loại thủy sản như tôm sú, tôm bạc thẻ, tôm chì và tôm thẻ chân trắng là những đối tượng nuôi phổ biến của địa phương, nhưng không có trong danh sách kiểm soát của chương trình giám sát dư lượng, chất độc hại năm 2026. Điều này, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) và các thị trường tương đương, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo giải thích của cơ quan quản lý, xuất phát từ thay đổi của chính quyền hai cấp, trong quá trình tổng hợp, cấp cơ sở ở tỉnh Cà Mau khi lập kế hoạch hàng năm, thống kê bị thiếu một số địa danh và vùng nuôi, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu thu mua từ các địa bàn nêu trên khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường EU và các thị trường tương đương, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
Để tháo gỡ vướng mắc, NAFIQPM đã cập nhật, bổ sung các đối tượng giám sát như nêu ở trên, trong đó, bao gồm tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm bạc thẻ và tôm chì trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Như vậy, đến nay, vướng mắc này cơ bản đã được giải quyết.

