Những người có bụng to, mỡ bụng nhiều có thể gặp tình trạng cơ bắp nhỏ lại là vì những nguyên nhân sau:
Không phải loại mỡ nào trong cơ thể cũng giống nhau. Mỡ dưới da thường ít gây hại hơn, trong khi mỡ nội tạng lại có khả năng tiết ra nhiều chất gây viêm. Tình trạng viêm mức độ thấp nhưng kéo dài sẽ làm tăng quá trình phân hủy protein cơ, đồng thời làm giảm khả năng tái tạo và phục hồi của cơ bắp, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Các chuyên gia cho rằng viêm mạn tính là một trong những cơ chế quan trọng nhất giải thích vì sao người béo bụng dễ bị mất cơ. Ngoài ra, tình trạng viêm kéo dài còn khiến cơ thể dễ mệt mỏi, giảm sức bền và làm người bệnh ngại vận động, từ đó càng đẩy nhanh quá trình suy giảm cơ.
Cơ bắp là nơi sử dụng phần lớn lượng đường glucose trong cơ thể. Tuy nhiên, ở người nhiều mỡ bụng, lượng mỡ nội tạng dư thừa có thể làm tăng nguy cơ kháng insulin.
Khi xảy ra kháng insulin, các tế bào cơ trở nên kém nhạy với hoóc môn insulin, khiến glucose và các a xít amin khó đi vào cơ hơn. Đây đều là những chất cần thiết để duy trì và phát triển cơ bắp.
Hậu quả là quá trình tổng hợp protein cơ bị suy giảm, trong khi quá trình phân hủy cơ lại tăng lên. Điều này giải thích vì sao nhiều người béo bụng dù ăn khá nhiều nhưng vẫn cảm thấy cơ thể yếu đi hoặc khối cơ giảm dần theo thời gian.
Ngoài tích tụ quanh các cơ quan nội tạng, mỡ còn có thể tích tụ trong mô cơ. Hiện tượng này được gọi là tích mỡ trong cơ. Khi lượng mỡ xen vào giữa các sợi cơ tăng lên, chất lượng của cơ bắp sẽ giảm. Dù khối lượng cơ có thể chưa giảm nhiều nhưng sức mạnh và khả năng hoạt động của cơ đã suy yếu.
Người bị tích mỡ trong cơ thường dễ mỏi khi vận động, phục hồi chậm sau tập luyện và dễ bị kháng insulin. Cụ thể, một nghiên cứu đăng trên chuyên san Exercise and Sport Sciences Reviews cho thấy tích tụ nhiều mỡ trong cơ có thể làm giảm sức mạnh cơ, suy giảm khả năng vận động và tăng nguy cơ tàn tật ở người lớn tuổi. Đây cũng là dấu hiệu quan trọng của quá trình lão hóa cơ và suy giảm chức năng thể chất.
Tích tụ nhiều mỡ thường đi kèm với các thay đổi nội tiết. Ở nam giới, lượng mỡ bụng cao có thể liên quan đến suy giảm testosterone, hoóc môn rất quan trọng giúp duy trì khối lượng và sức mạnh cơ bắp. Khi testosterone giảm, quá trình tổng hợp cơ cũng suy yếu, theo Verywell Health.
Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng nguy kịch, kết quả chẩn đoán hình ảnh ghi nhận ông bị chấn thương sọ não, vỡ khung chậu phải và gãy nhiều xương sườn. Trong đó, các mảnh xương sườn di lệch đã đâm thủng nhu mô phổi, gây tràn khí, tràn máu màng phổi và xẹp phổi. Vùng mặt bệnh nhân cũng bị tổn thương nặng do gãy xương gò má và cung tiếp bên phải.
Ngay khi tiếp nhận, hội đồng chuyên môn hội chẩn đa chuyên khoa để xây dựng chiến lược cấp cứu toàn diện. Các bác sĩ ưu tiên xử lý những tổn thương đe dọa tính mạng trước, nhằm ổn định thể trạng để chuẩn bị cho ca đại phẫu phục hồi hàm mặt.
Khi các chỉ số sinh tồn nằm trong tầm kiểm soát, khoa Răng Hàm Mặt tiến hành đánh giá chuyên sâu. Lúc này, khuôn mặt bệnh nhân đã mất cân đối, hạn chế khả năng há miệng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng ăn nhai do gãy phức hợp gò má - hàm trên bên phải.
PGS.TS Nguyễn Xuân Thực, Phó Trưởng khoa Răng Hàm Mặt, nhận định gãy phức hợp gò má là tổn thương thường gặp sau va chạm mạnh. Nếu bác sĩ không can thiệp kịp thời và đúng kỹ thuật, người bệnh dễ gánh chịu di chứng biến dạng khuôn mặt vĩnh viễn. Đối với ca bệnh đa chấn thương này, việc chọn đúng thời điểm mổ quyết định trực tiếp đến độ an toàn và khả năng phục hồi thẩm mỹ.
Êkíp phẫu thuật đã sử dụng hệ thống nẹp vít hợp kim để nắn chỉnh các mảnh xương gãy về đúng vị trí giải phẫu. Việc cố định này giúp tái lập cấu trúc xương gò má - cung tiếp, từ đó phục hồi hình thể khuôn mặt và chức năng cơ bản cho bệnh nhân.
Sau ca mổ, sức khỏe người bệnh tiến triển thuận lợi. Khuôn mặt dần cân đối trở lại, khớp cắn ổn định và chức năng há miệng cải thiện rõ rệt. Hiện bệnh nhân tiếp tục tập phục hồi chức năng theo phác đồ để sớm trở lại sinh hoạt bình thường.
Theo PGS Thực, thành công của ca bệnh khẳng định vai trò của việc phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa. Việc đánh giá toàn diện, lựa chọn thời điểm can thiệp chính xác đã giúp người bệnh vượt qua cơn nguy kịch và đạt hiệu quả phục hồi tối ưu.
Ngày 2/6, TS.BS Trương Quang Khanh, Trưởng khoa Nhịp tim, Bệnh viện Thống Nhất cho biết nơi này vừa thực hiện thành công ba trường hợp điều trị rung nhĩ bằng năng lượng từ xung điện (PFA). Mỗi ca can thiệp diễn ra thuận lợi trong chưa đầy 30 phút, giúp người bệnh phục hồi tốt. Đây là bệnh viện thứ hai tại Việt Nam thực hiện kỹ thuật này, sau vài ngày so với Viện Tim mạch Việt Nam (Bệnh viện Bạch Mai).
Rung nhĩ là dạng rối loạn nhịp tim phổ biến, khiến tim đập hỗn loạn, làm tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và giảm chất lượng sống. Với nhiều bệnh nhân, đây là bệnh lý kéo dài, phải dùng thuốc chống đông hoặc can thiệp để kiểm soát nhịp tim.
Triệt đốt rung nhĩ hiện nay có ba kỹ thuật, gồm đốt bằng sóng cao tần (RF) kết hợp hệ thống lập bản đồ 3D; đốt bằng bóng áp lạnh; đốt bằng năng lượng từ xung điện (PFA). Trong đó, đốt bằng sóng cao tần có thời gian dài nhất, tốn khoảng 2-3 giờ song chi phí thấp nhất, khoảng hơn 100 triệu đồng, hiện đã được bảo hiểm y tế chi trả. Đốt bằng bóng lạnh có chi phí cao hơn, khoảng 250 triệu đồng, kéo dài khoảng 1h30 phút.
Còn công nghệ PFA sử dụng các xung điện cường độ cao trong thời gian cực ngắn để tác động chọn lọc lên vùng cơ tim gây rối loạn nhịp mà không dùng nhiệt. Nhờ vậy, phương pháp này giúp hạn chế tổn thương ngoài tim và rút ngắn đáng kể thời gian can thiệp, song chi phí còn khá cao với khoảng 350 triệu đồng, chưa được bảo hiểm thanh toán.
PGS.TS.BS Lê Đình Thanh, Giám đốc Bệnh viện Thống Nhất, cho biết bệnh viện đã cử bốn bác sĩ sang đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Đại học Juntendo (Nhật Bản) trước khi triển khai kỹ thuật. Các bác sĩ được trực tiếp thực hành trên bệnh nhân và nhận chứng nhận hoàn thành chương trình.
Theo PGS.TS Hayashi Hidemori, Trưởng khoa Sinh học và Y học Tim mạch, Trường Sau Đại học Y khoa, Bệnh viện Juntendo, nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy PFA có tỷ lệ cô lập tĩnh mạch phổi cao, thời gian thủ thuật ngắn hơn và hồ sơ an toàn đầy hứa hẹn so với phương pháp triệt đốt bằng nhiệt truyền thống.
Các chuyên gia kỳ vọng việc triển khai thành công kỹ thuật này sẽ mở thêm cơ hội điều trị hiện đại cho người mắc rung nhĩ tại Việt Nam, đồng thời cho thấy năng lực tiếp cận và làm chủ kỹ thuật chuyên sâu của đội ngũ bác sĩ trong nước.
Ngày 15-6, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TP.HCM) cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa phối hợp chẩn đoán thành công một trường hợp bé gái 12 tuổi mắc hội chứng người hóa đá (Fibrodysplasia Ossificans Progressiva - FOP).
Việc xác định đúng bệnh đã giúp bệnh nhi tránh được một cuộc phẫu thuật chưa cần thiết, đồng thời hạn chế nguy cơ bệnh diễn tiến nặng hơn.
Trước đó bệnh nhi nhập viện vì tình trạng cứng khớp và hạn chế vận động kéo dài sau một lần té ngã nhẹ khi tập đi xe đạp.
Triệu chứng xuất hiện ban đầu bao gồm sưng khu trú, tê, khó chịu vùng mông trái gây cứng khớp và hạn chế vận động.
Trong gần 2 năm sau đó, tình trạng này lan rộng với cứng khớp tiến triển ở cột sống, cổ và hai vai, khiến bé đi lại khó khăn, hạn chế nghiêm trọng các sinh hoạt hằng ngày.
Điều đặc biệt là bệnh nhi không có dị tật ngón chân cái - dấu hiệu kinh điển xuất hiện ở phần lớn bệnh nhân mắc hội chứng người hóa đá. Chính vì vậy việc chẩn đoán gặp nhiều thách thức và bé từng được chỉ định phẫu thuật nhằm cải thiện vận động khớp háng.
Khi được chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, các bác sĩ đã đánh giá toàn diện bằng hình ảnh học và xét nghiệm di truyền. Kết quả phát hiện đột biến gây bệnh trên gene ACVR1, qua đó xác định chính xác chẩn đoán hội chứng người hóa đá thể không điển hình.
Từ kết quả này, ê kíp điều trị quyết định không thực hiện phẫu thuật đã lên kế hoạch trước đó.
Đối với bệnh nhân FOP, các can thiệp gây tổn thương mô mềm như phẫu thuật, sinh thiết hay tiêm vào vùng tổn thương có thể kích hoạt phản ứng viêm và thúc đẩy quá trình hóa xương, làm bệnh nặng hơn.