Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, ngày 2-7 tại Đà Nẵng, Việt Nam và Mỹ đã phối hợp tổ chức trọng thể lễ trao trả hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) lần thứ 173.
Tham dự buổi lễ, về phía Việt Nam có Ban giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an.
Về phía Mỹ có Trung tướng Joel Bryant Vowell – phó tư lệnh Lục quân Mỹ tại Thái Bình Dương, ông Marc Knapper – nguyên Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Christopher Phelps – giám đốc phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Cơ quan kiểm kê tù binh và người mất tích (thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ), Văn phòng Tùy viên quốc phòng và Văn phòng MIA Mỹ tại Hà Nội, một số cựu chiến binh và công dân Mỹ tại Đà Nẵng.
Tại buổi lễ, Việt Nam đã bàn giao cho Mỹ 1 hòm đựng hài cốt.
Đây là kết quả của nỗ lực tìm kiếm chung mới đây của hoạt động khai quật hỗn hợp Việt Nam – Mỹ tại xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị
Trước đó vào hôm 30-6, số mẫu hài cốt này đã được các chuyên gia pháp y của Việt Nam, Mỹ giám định. Sơ bộ kết luận cho thấy có thể liên quan tới quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam.
Số mẫu hài cốt này sẽ được chuyển đến phòng thí nghiệm pháp y tại Hawaii để phân tích và xác định danh tính.
Sự kiện trao trả lần này mang dấu ấn đặc biệt với sự hiện diện của lãnh đạo cấp cao trong Quân đội Mỹ, thể hiện sự coi trọng của Chính phủ nước này đối với công tác tìm kiếm người mất tích, đồng thời ghi nhận và đánh giá cao thiện chí, nỗ lực nhân đạo của Việt Nam.
Hôm 23-6, Quyền Bộ trưởng Hải quân Mỹ Hùng Cao đã đến thăm hiện trường MIA tại xã Trường Ninh, tỉnh Quảng Trị, nhân dịp tham dự Chương trình Đối tác Thái Bình Dương – bạn bè Thái Bình Dương.
Chia sẻ với báo chí, ông Hùng Cao cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã hỗ trợ Mỹ trong công tác tìm kiếm quân nhân mất tích.
Ông cho rằng những thành tựu đạt được trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh là minh chứng rõ nét cho tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai giữa hai nước trong nhiều thập niên qua, giúp hàn gắn và chữa lành vết thương do chiến tranh để lại.
Quyền Bộ trưởng Hải quân đồng thời khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục duy trì cam kết lâu dài đối với các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh tại Việt Nam.
"Bộ trưởng Hải quân John C. Phelan sẽ rời chính quyền, hiệu lực ngay lập tức. Chúng tôi cảm ơn Phelan vì những đóng góp của ông cho Lầu Năm Góc và Hải quân Mỹ", phát ngôn viên Lầu Năm Góc Sean Parnell thông báo ngày 22/4.
Ông Parnell không nêu lý do cụ thể dẫn đến thay đổi đột ngột này. Một cấp phó của Phelan sẽ làm quyền Bộ trưởng Hải quân.
Bộ trưởng Hải quân là quan chức dân sự đứng đầu Bộ Hải quân Mỹ. Vị trí này chịu trách nhiệm về hành chính, nhân sự, ngân sách và mua sắm, không điều hành tác chiến trực tiếp.
CNN dẫn các nguồn thạo tin cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth và ông Phelan đã căng thẳng suốt nhiều tháng.
Ông Hegseth cho rằng ông Phelan chậm trễ triển khai các cải cách về đóng tàu, đồng thời không hài lòng với việc Bộ trưởng Hải quân có hành động "vượt cấp" là liên lạc trực tiếp với Tổng thống Donald Trump, theo các nguồn tin. Trong khi đó, Thứ trưởng Quốc phòng Steve Feinberg cũng muốn quản lý hoạt động đóng tàu và mua sắm hải quân, những công việc thuộc thẩm quyền của Phelan.
Phelan không có kinh nghiệm trong quân đội hay từng theo học trường quân sự. Ông tốt nghiệp đại học SMU ở Texas vào năm 1986 và có bằng thạc sĩ của Trường Kinh doanh Harvard. Danh tiếng của Phelan gắn liền với ngành đầu tư tài chính và sưu tầm nghệ thuật.
Tổng thống Trump đề cử Phelan làm Bộ trưởng Hải quân hồi tháng 11/2024, mô tả ông có "thành tích rất thuyết phục" và khẳng định ứng viên này là "hiện thân của sự táo bạo và tài năng kiểu Mỹ". Thượng viện phê chuẩn vị trí của Phelan vào tháng 10/2025.
Nắng nóng đã gây gián đoạn giao thông và xuất hiện những dấu hiệu cho thấy động vật hoang dã cũng như các điểm du lịch đang chịu áp lực lớn từ thời tiết cực đoan.
Đợt nắng nóng ngày 21/6, thời điểm hạ chí ở Bắc bán cầu và thường đánh dấu sự khởi đầu của ba tháng nóng nhất trong năm, làm dấy lên lo ngại rằng các điều kiện thời tiết nghiêm trọng sẽ đến sớm và kéo dài hơn thường lệ.
Sau nhiều ngày nhiệt độ vượt quá 35°C, giới chức Italy đã ban bố cảnh báo đỏ trong ngày 21/6 tại 8 thành phố, bao gồm Bologna, Florence, Milan và Turin.
Tại Rome, những người hành hương ở Quảng trường Thánh Peter phải dùng ô và dù để che chắn khỏi ánh nắng gay gắt khi Giáo hoàng chủ trì buổi cầu nguyện truyền thống.
Đợt tăng nhiệt hiện nay được thúc đẩy bởi một khối không khí nóng di chuyển từ sa mạc Sahara lên phía bắc, dưới tác động của một hệ thống áp cao mạnh được gọi là “áp cao châu Phi”.
Các nhà khí tượng cho biết hệ thống này đang tạo ra hiện tượng gọi là “vòm nhiệt”, giữ không khí nóng mắc kẹt phía trên Tây Âu và Trung Âu, khiến nhiệt độ tích tụ và tăng dần qua từng ngày.
Tại Madrid, Tây Ban Nha, người dân và du khách sử dụng quạt cầm tay và liên tục uống đồ uống lạnh khi tham quan khu chợ trời nổi tiếng El Rastro.
Cơ quan Khí tượng Tây Ban Nha (AEMET) đã ban hành các cảnh báo màu đỏ và màu cam tại nhiều khu vực, cảnh báo nhiệt độ có thể vượt 39-40°C trên phần lớn bán đảo Iberia và đảo Mallorca. Cơ quan này dự báo đợt nắng nóng sẽ kéo dài ít nhất tới giữa tuần.
Nắng nóng cực đoan đã bắt đầu ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng. Phát biểu tại ga Gare Montparnasse ở Paris, Giám đốc SNCF Jean Castex cho biết mạng lưới đường sắt của Pháp đang chịu tác động nghiêm trọng do nhiệt độ cao có nguy cơ làm hư hỏng đường dây điện phía trên và khiến đường ray giãn nở.
Ông cho biết 3.500 nhân viên đã được huy động để giám sát hệ thống, trong khi 2.000 người khác sẵn sàng thực hiện các sửa chữa khẩn cấp. Ông khuyến cáo các hành khách dễ bị tổn thương về sức khỏe nên hoãn việc đi lại.
SNCF đã hủy 71 chuyến tàu liên tỉnh trên các tuyến trọng điểm cho đến hết ngày 22/6.
Tại Đức, nơi nhiệt độ đã lên tới 38°C, Cơ quan Khí tượng Đức (DWD) cảnh báo nguy cơ dông bão nghiêm trọng ở các khu vực phía đông, bao gồm cả Berlin.
Các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã cũng cho biết áp lực đang gia tăng. Một trung tâm gần thành phố Namur của Bỉ cho biết đã tiếp nhận khoảng 150 động vật bị ảnh hưởng bởi nắng nóng chỉ trong vài ngày gần đây. Các trung tâm cứu hộ trên khắp Bỉ hiện đều đang trong tình trạng quá tải.
Các chuyên gia nhận định tình trạng này phản ánh một xu hướng rộng lớn, khi các đợt nắng nóng tại châu Âu ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn và khắc nghiệt hơn do tác động của biến đổi khí hậu.
Việc Mỹ phóng thành công tàu Orion thuộc sứ mệnh Artemis 2 mới đây đã chấm dứt hơn nửa thế kỷ vắng bóng con người trên quỹ đạo mặt trăng kể từ sứ mạng Apollo 17 năm 1972. Dù công nghệ máy tính hiện nay mạnh gấp hàng vạn lần, nhưng những rào cản về chính trị, sự đứt gãy tri thức và triết lý an toàn khắt khe đã khiến hành trình trở lại này kéo dài kỷ lục.
Rào cản lớn nhất đối với việc quay lại mặt trăng không xuất phát từ công nghệ mà từ sự thiếu nhất quán trong chính sách quốc gia của Mỹ. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chương trình Apollo được thúc đẩy bởi ý chí chính trị tuyệt đối với ngân sách đỉnh điểm chiếm tới 4,41% tổng chi tiêu liên bang vào năm 1966. Tuy nhiên, sau khi đạt được mục tiêu đưa người đặt chân lên mặt trăng, sự quan tâm của giới chính trị sụt giảm khiến ngân sách Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) hiện nay chỉ còn chiếm chưa đầy 0,5% chi tiêu chính phủ.
Đáng chú ý trong suốt nửa thế kỷ qua, NASA luôn chịu áp lực trước những thay đổi liên tục giữa các đời tổng thống. Theo đó, dự án của chính quyền này thường bị người kế nhiệm hủy bỏ để thay thế bằng mục tiêu mới, gây lãng phí hàng chục tỉ USD. Điển hình là chương trình Constellation của Tổng thống George W. Bush đã bị người kế nhiệm Barack Obama khai tử vào năm 2010 để chuyển hướng sang các tiểu hành tinh, trước khi mục tiêu mặt trăng được khôi phục lại dưới thời ông Donald Trump và tiếp tục dưới thời ông Joe Biden.
Một nghịch lý trớ trêu là dù người Mỹ vẫn có thể sử dụng lại các tên lửa đã từng đưa người lên mặt trăng thành công năm xưa, nhưng việc chế tạo lại nó trong thế kỷ 21 là điều không hợp thời và tốn kém. Có ước tính cho rằng khoảng 75% các nhà cung cấp linh kiện từ thập niên 1960 đã ngừng hoạt động, khiến hệ sinh thái sản xuất cũ gần như tan rã hoàn toàn. Các vật liệu cũ đã lỗi thời và không còn được sản xuất, trong khi việc thay thế bằng vật liệu hiện đại đòi hỏi quy trình kiểm nghiệm lại từ đầu.
Bên cạnh đó, kỹ nghệ thủ công trong quá trình sản xuất cũng bị mai một theo thời gian. Tên lửa thời Apollo là những kiệt tác được lắp ráp bởi những thợ hàn bậc thầy từ thời Thế chiến 2, những người sở hữu kỹ năng khó có thể mô tả hoàn toàn trong văn bản kỹ thuật. Khi những chuyên gia này nghỉ hưu, các "bí kíp" thực tế đã bị mất đi, buộc các kỹ sư hiện đại phải "nghiên cứu ngược" từ các động cơ trong bảo tàng để tái thiết lập quy trình sản xuất.
Khác với thời đại Apollo là một "cuộc chạy nước rút" đầy mạo hiểm để giành chiến thắng nhất thời, chương trình Artemis hướng tới sự an toàn tuyệt đối. Sau những thảm họa kinh hoàng của các tàu con thoi Challenger và Columbia, NASA không còn chấp nhận những rủi ro cực lớn như trước. Mọi hệ thống hiện nay đều phải trải qua các quy trình kiểm tra gắt gao, ưu tiên tính mạng phi hành gia hơn là áp lực về thời gian hay tốc độ.
Cuối cùng, mục tiêu của Artemis tập trung vào việc xây dựng căn cứ bền vững trên mặt trăng và trạm dừng cho các hành trình tiến tới sao Hỏa sau này. Với mục tiêu đó, bước đầu là tìm cách khai thác băng tại cực Nam của mặt trăng để tạo ra khí oxy và nhiên liệu tên lửa. Đây là một bài toán phức tạp hơn gấp bội so với những chuyến viếng thăm ngắn ngủi trong quá khứ. Bởi thế, sự kiện phóng tàu lên quỹ đạo mặt trăng mới đây có thể xem như một bước dạo đầu cho rất nhiều thử thách mà con người phải vượt qua được trong tương lai để thực hiện được giấc mơ làm chủ trong không gian sâu.