Vụ khởi tố đầu tiên về phần mềm lậu: Làm sao chấm dứt nạn xài ‘chùa’?

Vụ khởi tố đầu tiên về phần mềm lậu: Làm sao chấm dứt nạn xài 'chùa'?

Vừa qua Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo điều 225 Bộ luật Hình sự, đồng thời tổ chức khám xét khẩn cấp 5 địa điểm tại Hà Nội, Phú Thọ là các công ty cung cấp máy tính và cài đặt phần mềm.

Đây là vụ án đầu tiên trên phạm vi cả nước bị khởi tố liên quan đến hành vi sử dụng trái phép phần mềm máy tính có bản quyền.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, thành viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng việc sử dụng phần mềm máy tính không có bản quyền tại Việt Nam vẫn còn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là hệ điều hành Windows, bộ ứng dụng Microsoft Office…

Bà nêu rõ Việt Nam đã có tương đối đầy đủ các quy định về bảo hộ quyền tác giả với phần mềm máy tính, từ xử phạt hành chính đến trách nhiệm hình sự. Song vấn đề lớn nhất nằm ở hiệu quả thực thi và khả năng tuân thủ của thị trường.

Trong một thời gian dài, nhiều tổ chức, cá nhân đánh giá rằng khả năng bị phát hiện hoặc xử lý là rất thấp, trong khi chi phí mua bản quyền phần mềm lại tương đối cao so với khả năng tài chính. Khi cán cân lợi ích được đặt như vậy thì hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền dễ trở thành lựa chọn phổ biến.

Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận các giải pháp phần mềm hợp pháp với chi phí phù hợp. Với một số lĩnh vực chuyên môn như thiết kế kỹ thuật, kiến trúc, cơ khí hay đồ họa, chi phí bản quyền phần mềm có thể chiếm tỉ trọng đáng kể.

Cùng với đó văn hóa tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự hình thành đầy đủ trong xã hội. Nhiều người sẵn sàng bỏ tiền mua thiết bị phần cứng nhưng lại cho rằng phần mềm có thể sử dụng miễn phí.

Đại biểu Tú Anh chỉ ra hiện đang có sự phân tán trong hệ thống thực thi. Thẩm quyền xử lý vi phạm bản quyền phần mềm hiện trải rộng qua nhiều đầu mối nhưng phối hợp giữa các lực lượng chưa thực sự nhịp nhàng.

“Vụ án Công an tỉnh Phú Thọ khởi tố vừa qua có ý nghĩa lớn, là tín hiệu chính sách quan trọng. Điều này cho thấy các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không còn chỉ tồn tại trên giấy mà đang được thực thi bằng các công cụ pháp lý mạnh hơn thay vì chỉ hành chính”, bà Tú Anh nhấn mạnh.

Song bà cho rằng mục tiêu cuối cùng không phải xử lý được bao nhiêu vụ án mà cần làm thay đổi hành vi của thị trường theo hướng tuân thủ pháp luật. Để làm được điều đó, cần triển khai đồng thời nhiều giải pháp. Trước hết, khu vực Nhà nước phải thực sự đi đầu trong việc sử dụng phần mềm hợp pháp. Các cơ quan công quyền cần được kiểm tra, đánh giá định kỳ về tình trạng sử dụng phần mềm có bản quyền hoặc phần mềm nguồn mở hợp pháp. Nhà nước phải là chủ thể nêu gương trước khi yêu cầu doanh nghiệp và người dân thực hiện.

Thêm vào đó cần giảm chi phí tuân thủ bằng cách thúc đẩy mạnh hơn việc sử dụng phần mềm nguồn mở và phát triển các sản phẩm phần mềm trong nước. Đối với nhiều nhu cầu văn phòng thông thường, các giải pháp nguồn mở hiện nay đã đáp ứng tương đối tốt yêu cầu sử dụng. Đây là hướng đi mà nhiều quốc gia đã lựa chọn để vừa bảo đảm tuân thủ bản quyền, vừa nâng cao tính tự chủ về công nghệ.

Một giải pháp được bà Tú Anh nêu thêm là cần có lộ trình phù hợp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc tăng cường thực thi pháp luật là cần thiết, nhưng cần nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ chuyển đổi, các mô hình cấp phép linh hoạt hoặc các chương trình hợp tác giúp doanh nghiệp tiếp cận phần mềm hợp pháp với chi phí phù hợp.

Đại biểu Trịnh Xuân An, ủy viên chuyên trách của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, đề xuất 5 nội dung nhằm giải quyết vấn đề này. Trong đó, ông nhấn mạnh cần có cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức, hỗ trợ chuyển đổi, tăng cường thực thi pháp luật.

Đầu tiên, theo ông cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ theo hướng đồng bộ với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt các hiệp định thương mại thế hệ mới như WTO, TRIPS Agreement, CPTPP và EVFTA.

  Galaxy S26 tăng sức mạnh chỉnh sửa ảnh bằng AI

Pháp luật cần quy định rõ hơn trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp trong quản lý tài sản số, sử dụng phần mềm hợp pháp, đồng thời hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong môi trường số. Quan trọng hơn, cần bảo đảm tính dự báo, minh bạch để doanh nghiệp có thời gian chuyển đổi, tránh tạo cú sốc trong quá trình thực thi.

Thứ hai, cần thay đổi tư duy từ “chống phần mềm lậu” sang “thúc đẩy sử dụng phần mềm hợp pháp”. Với một nước đang phát triển, giải pháp chỉ dựa vào xử phạt sẽ khó mang lại hiệu quả bền vững.

Nhà nước có thể khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ cung cấp các gói bản quyền phù hợp với khả năng chi trả của doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, trường học và người dân. Đồng thời, đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong khu vực công, giáo dục và nghiên cứu khoa học…

Thứ ba, cần coi đây là một nội dung của chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa quy trình mà còn phải xây dựng văn hóa số và đạo đức số.

Các trường học, đại học, viện nghiên cứu cần đưa nội dung tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ vào chương trình đào tạo. Nếu sinh viên từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã quen với việc sử dụng phần mềm crack sẽ rất khó hình thành môi trường đổi mới sáng tạo lành mạnh trong tương lai.

Thứ tư, theo ông An, cần phát huy vai trò của các mạng lưới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp, trường đại học, khu công nghệ cao cần trở thành những hạt nhân lan tỏa văn hóa sử dụng tài sản trí tuệ hợp pháp. Việt Nam đang hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, không thể kỳ vọng doanh nghiệp Việt Nam được bảo vệ bản quyền phần mềm, sáng chế hay dữ liệu ở nước ngoài nếu trong nước vẫn tồn tại tâm lý dễ dãi với việc vi phạm bản quyền.

Và cuối cùng, ông cho rằng cần tăng cường thực thi pháp luật nhưng theo lộ trình hợp lý. Trọng tâm trước mắt nên hướng vào các hành vi có tính thương mại, tổ chức hoặc thu lợi bất chính quy mô lớn, các doanh nghiệp cố tình sử dụng phần mềm lậu trong hoạt động kinh doanh, các đối tượng chuyên crack, phân phối và kinh doanh phần mềm vi phạm bản quyền.

Với người sử dụng cá nhân, cần ưu tiên tuyên truyền, cảnh báo để họ nhận biết được đâu là phần mềm lậu, cần tránh không nên sử dụng và hỗ trợ chuyển đổi trước khi áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn.

Tin Gốc: Tuổi Trẻ