Ngày 12/5, TAND Khu vực 5 TP HCM xét xử vụ án ly hôn, yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật và tranh chấp tài sản trị giá ước tính hơn 1.200 tỷ đồng giữa bác sĩ 54 tuổi – chủ chuỗi phòng khám nha khoa thẩm mỹ, với bà Ngọc Anh, 48 tuổi.
Vụ án được tòa thụ lý từ tháng 3/2015 nhưng kéo dài suốt 10 năm do các bên nhiều lần thay đổi yêu cầu khởi kiện, phát sinh phản tố và cần thu thập thêm nhiều tài liệu, chứng cứ.
Người chồng nộp đơn ly hôn
Hồ sơ vụ án và diễn tiến phiên tòa thể hiện, người chồng là bác sĩ nha khoa, còn bà Ngọc Anh là kỹ sư, tổ chức đám cưới vào tháng 10/2001.
Sau hơn 10 năm chung sống, tháng 3/2015, người chồng nộp đơn xin ly hôn tại TAND quận Bình Thạnh (nay là TAND Khu vực 5) với lý do “không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được”. Về tài sản, ông cho biết hai bên tự thỏa thuận. Con chung khi đó có nguyện vọng sống với mẹ, hiện đã trưởng thành.
Tại các bản khai sau đó, người chồng xác nhận từ cuối năm 2014 phát sinh mâu thuẫn do ông có quan hệ với người phụ nữ khác, tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn nên ly thân. Ông muốn ly hôn để “chấm dứt đau khổ” cho vợ.
Trong khi đó, bà Ngọc Anh nói vẫn còn tình cảm nên muốn hàn gắn. Trường hợp buộc phải ly hôn, bà đề nghị tòa giải quyết luôn phần tài sản chung.
Hòa giải không thành, người chồng giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Đến năm 2016, người vợ có yêu cầu phản tố, đề nghị chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, song chưa thu thập đủ các tài liệu về tài sản.
Sau nhiều năm xác minh, thu thập chứng cứ, đến năm 2024, người chồng thay đổi yêu cầu khởi kiện từ ly hôn sang đề nghị “hủy hôn nhân trái pháp luật”.
Ông chỉ ra giấy chứng nhận kết hôn có nhiều dấu hiệu bất thường như: vợ chồng ký nhầm vào vị trí của nhau, cả hai ký khi chưa có thông tin giấy tờ tùy thân nộp cho cán bộ tư pháp và chữ ký trong sổ hộ tịch không phải của ông. Việc ký này diễn ra tại nhà do gia đình vợ mang giấy tờ về đưa.
Ông cho hay sau khi nghi ngờ quan hệ huyết thống với con gái, ông đi giám định ADN nhiều lần và kết quả cho thấy mình không phải cha ruột. Ông nhận ra đã sống trong “cuộc hôn nhân ngoài mong muốn” suốt nhiều năm.
Người vợ: Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện
Bà Ngọc Anh không đồng ý, cho rằng cuộc hôn nhân được xác lập hợp pháp, không có chuyện lừa dối vì ông là bác sĩ, có trình độ nhận thức, không ai ép buộc.
Theo trình bày của bà, hai người quen nhau từ năm 1996 khi còn là sinh viên nghèo khó tại TP HCM và duy trì tình cảm trong nhiều năm. Quan hệ giữa họ không được cha mẹ đồng thuận với lý do cả hai có nhiều điểm khác biệt. Họ từng nhiều lần chia tay rồi quay lại.
Bà thừa nhận khoảng thời gian chia tay đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn. Ông biết rõ sự việc không cùng huyết thống với con gái nhưng chấp nhận và đồng ý cho cháu bé mang họ của mình.
Hai người tổ chức lễ cưới vào tháng 11/2001 tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) và TP HCM với sự chứng kiến của gia đình, bạn bè hai bên.
Theo bà, việc đăng ký kết hôn sau hai năm là để ông có thêm thời gian suy nghĩ trước khi quyết định gắn bó lâu dài. Bà khẳng định thủ tục thực hiện đúng quy định tại phường, có cán bộ tư pháp hướng dẫn và hoàn toàn tự nguyện.
Người vợ cho rằng cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc, cùng gây dựng và phát triển hệ thống nha khoa thẩm mỹ. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2010 khi kinh tế khá giả hơn, mâu thuẫn bắt đầu phát sinh.
Bà cũng cho biết trong nhiều tài liệu, biên bản làm việc tại tòa từ năm 2015 đến 2024, ông đều xác nhận hôn nhân là tự nguyện và vẫn sử dụng giấy chứng nhận kết hôn trong các giao dịch, bao gồm mua bán nhà đất đứng tên hai vợ chồng.
Đến năm 2024 khi bà yêu cầu chia toàn bộ tài sản và yêu cầu tòa thu thập chứng cứ về 4 đứa con ngoài giá thú của ông với người phụ nữ khác trong thời kỳ hôn nhân thì ông chuyển sang yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật
Trình bày trước HĐXX, người chồng giữ nguyên quan điểm như trước, yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật và không đồng ý chia tài sản chung vì cho rằng quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Tuy nhiên, ông đồng ý chia cho vợ 20% giá trị tài sản để “đổi lấy sự bình yên” và muốn nhanh chóng kết thúc vụ ly hôn.
Gây chú ý tại tòa bởi vẻ đẹp sang trọng, người vợ nhẹ nhàng nói nhưng dứt khoát rằng cũng giữ nguyên yêu cầu phản tố, đề nghị được ly hôn và chia khối tài sản trị giá hơn 1.200 tỷ đồng.
Theo trình bày của bà Ngọc Anh và người đại diện, tài sản tranh chấp gồm nhiều bất động sản tại TP HCM và các tỉnh thành; hàng chục tỷ đồng tiền gửi trong các ngân hàng cùng lãi phát sinh từ năm 2014 đến nay; giá trị doanh nghiệp sở hữu chuỗi nha khoa thẩm mỹ và phần lợi nhuận phát sinh trong hơn 10 năm qua cùng nhiều bất động sản bà mới truy vết được và nộp chứng cứ trong phần thủ tục…
Sau nhiều giờ xét xử và tranh cãi gay gắt, phiên tòa đã kết thúc phần tranh luận. Đại diện VKS chưa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án do phiên làm việc đã kéo dài đến tối, với nhiều yêu cầu và tình tiết phức tạp…
Sau khi hội ý, HĐXX cho biết sẽ tuyên án vào 15/5, sau khi đại diện VKS phát biểu quan điểm vụ án.
Chiều 2/7, Nguyễn Thị Thu Hường, 37 tuổi và hai người cung cấp hàng cho Hường là Ngô Quốc Phú, 30 tuổi và Tô Lan Phương, 45 tuổi, bị TAND khu vực 2, Hà Nội, xét xử về tội Trốn thuế.
HĐXX đánh giá hành vi của các bị cáo ảnh hưởng xấu môi trường kinh doanh, gây thất thoát về thuế đặc biệt lớn. Song xét nhân thân tốt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên phạt Hường 3 tỷ đồng, Phú 500 triệu đồng và Phương 150 triệu đồng.
Hường là "bà trùm" đồ hiệu second-hand nổi tiếng mạng xã hội nhiều năm chuyên kinh doanh đồ xa xỉ đã qua sử dụng của các hãng Versace, Louis Vuitton, Cartier, Hermes, song không đăng ký kinh doanh.
Hường yêu cầu khách mua hàng không ghi tên hàng hóa vào nội dung chuyển khoản mà chỉ để lại tên và số điện thoại, chuyển tiền vào tài khoản của chồng. Khi sắp bị thanh tra, Hường nhờ người xóa sạch dữ liệu trên máy tính bán hàng để tiêu hủy bằng chứng.
Tổng doanh thu sau 5 năm, đến tháng 6/2025 là 835 tỷ đồng không khai báo, dẫn đến số tiền trốn thuế 12,5 tỷ đồng, nhà chức trách cáo buộc.
Xin được phạt bằng tiền, không chịu án tù
Thừa nhận hành vi tại tòa, Hường nói ban đầu chỉ mua đồ "si" về sử dụng cá nhân, sau đó bắt đầu bán. Khi triển khai, Hường khai "không biết" là phải đăng ký kinh doanh, nộp thuế.
"Bị cáo chỉ nghĩ là mua của người này bán lại cho người khác hưởng chênh lệch, nghĩ không phải kinh doanh nên không phải kê khai thuế", Hường khai.
Bị cáo nói nhân viên chỉ thuê theo giờ, đóng gói đơn hàng, không có nhiệm vụ tìm khách. Người mua đều là tệp khách quen của Hường, tương tác qua Fanpage "Hycloset new things by hy" trên Facebook. Quá trình kinh doanh "chưa biết phải làm thế nào", bị cáo đã tìm hiểu có phải thành lập hộ kinh doanh, có phải đóng thuế không nhưng chưa kịp làm.
Hường hiện được tại ngoại, đang tiếp tục kinh doanh và cho hay đã kê khai thuế. Bị cáo xin được phạt tiền thay vì phạt tù để tiếp tục công việc này, đóng góp cho xã hội, đã nhận thức sâu sắc được sai phạm.
Tương tự, hai người cung cấp hàng cho Hường cũng cho rằng "nhận thức hạn chế", không biết kinh doanh hình thức này phải đóng thu, nên không thực hiện. Bị cáo Phương cho biết chỉ là nội trợ, kinh doanh "kiếm thêm". Song VKS xác định doanh thu Phương giấu ước tính hơn 10 tỷ đồng.
Trước việc các bị cáo đều nói "không biết", HĐXX phân tích 3 người đều trên 18 tuổi, nhận thức pháp luật đầy đủ, buộc phải biết và tìm hiểu trước khi làm bất cứ việc gì.
"Không thể làm sai hàng bao năm rồi bảo không biết. Không ai có nghĩa vụ đến tận nhà bảo các bị cáo phải làm gì. Kinh doanh đương nhiên phải tìm hiểu luật", tòa phân tích.
Đại diện VKS xét các tình tiết hậu quả đã được khắc phục, đề nghị tòa chấp nhận cho các bị cáo nộp tiền phạt, thay vì phạt tù. Cụ thể, Hường 2,5-2,7 tỷ đồng, Phú 500-550 triệu, Phương 150-200 triệu đồng. Các bị cáo đều tự bào chữa, không thuê luật sư bảo vệ.
Ông bà tôi có bốn người con, trong đó có bố tôi là con út. Bố tôi mất năm 2020, còn ông vừa qua đời, không có di chúc dù để lại nhiều tài sản, đất đai.
Các bác đang bảo tôi không có quyền thừa kế tài sản gì, do theo luật, bố mẹ mất thì các con được hưởng. Còn bố tôi mất rồi thì coi như "hết phần". Như vậy có đúng không?
Xin luật sư tư vấn và cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Do ông bạn mất không để lại di chúc nên di sản của ông sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 về những trường hợp thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật thì "hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết".
Khi đó, bố bạn sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng với những người thừa kế cùng hàng. Tuy nhiên, bố bạn đã mất trước thời điểm ông mất nên sẽ áp dụng chế định thừa kế thế vị.
Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thừa kế thế vị như sau:
"Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống".
Như vậy, bạn là người thừa kế thế vị hợp pháp của bố bạn; bạn sẽ được hưởng phần di sản mà bố bạn được nhận từ ông.
Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh, là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.