Chỉ hơn một năm sau khi chính thức gia nhập thị trường xe máy điện tại Việt Nam, Honda đã liên tục điều chỉnh chính sách bán hàng dành cho mẫu xe máy điện “tiên phong” ICON e:. Nếu ở giai đoạn đầu mở bán (tháng 4.2025), mẫu xe này từng gây chú ý bởi mức giá khá cao so với nhóm khách hàng mục tiêu, đến nay chi phí sở hữu thực tế đã giảm mạnh nhờ hàng loạt chương trình ưu đãi từ hãng.
Cụ thể, theo chương trình khuyến mãi mới nhất Honda Việt Nam áp dụng từ giữa tháng 5 đến hết tháng 7.2026, khách mua Honda ICON e: được hỗ trợ trực tiếp 5 triệu đồng tiền mặt, đi kèm gói trả góp với lãi suất từ 0,55%/tháng. Với mức ưu đãi này, giá thực tế của mẫu xe điện phổ thông của Honda hiện chỉ còn quanh mức 16 triệu đồng, thấp hơn đáng kể so với thời điểm mới ra mắt.
Sở dĩ có mức giá thực tế này là bởi, trước đó hồi đầu tháng 4.2026, hãng xe máy Nhật đã điều chỉnh giảm giá bán niêm yết của ICON e:. Cụ thể, mức giảm lên đến gần 6 triệu đồng, áp dụng cho toàn bộ phiên bản đưa giá ICON e: từ khoảng 26 – 27 triệu đồng xuống còn hơn khởi điểm chỉ 20 triệu đồng. Đồng thời, Honda cũng thay đổi chính sách liên quan đến pin nhằm giảm áp lực chi phí ban đầu cho người dùng.
Nếu cộng dồn cả hai đợt điều chỉnh, mức tiền thực tế người dùng cần bỏ ra để tiếp cận Honda ICON e: hiện đã giảm rất sâu so với giai đoạn đầu mở bán. Trong bối cảnh thị trường xe máy điện cạnh tranh ngày càng quyết liệt, động thái liên tục “xuống nước” của Honda được xem là tín hiệu cho thấy hãng xe Nhật Bản đang phải thay đổi cách tiếp cận với phân khúc xe máy điện phổ thông.
Thực tế, dù sở hữu lợi thế thương hiệu và hệ thống đại lý rộng khắp, Honda ICON e: vẫn gặp không ít rào cản khi bước vào thị trường xe máy điện Việt Nam. Mẫu xe này được định vị hướng đến nhóm khách hàng học sinh, sinh viên hoặc người dùng đô thị cần phương tiện di chuyển ngắn. Tuy nhiên, ở thời điểm ra mắt, mức giá của ICON e: bị đánh giá là chưa thực sự hấp dẫn nếu đặt cạnh nhiều đối thủ đang có mặt trên thị trường.
Không chỉ vấn đề giá bán, mô hình thuê pin cũng là yếu tố khiến không ít người dùng cân nhắc. Trong nhiều năm qua, phần lớn khách hàng Việt đã quen với việc “mua đứt” xe và pin thay vì trả thêm chi phí hàng tháng. Điều này khiến tâm lý e ngại phát sinh chi phí dài hạn vẫn tồn tại, đặc biệt ở nhóm khách hàng trẻ hoặc phụ huynh mua xe cho con đi học.
Trong khi đó, thị trường xe máy điện phổ thông hiện không còn là “sân chơi thử nghiệm” như vài năm trước. Nhiều thương hiệu đã đẩy mạnh cạnh tranh bằng giá bán dễ tiếp cận hơn, đi kèm chính sách bán pin trực tiếp hoặc ưu đãi mạnh tay. Điều này tạo áp lực không nhỏ lên các hãng xe mới tham gia cuộc đua, kể cả những thương hiệu lớn như Honda.
Bên cạnh đó, người dùng xe máy điện tại Việt Nam cũng ngày càng thực dụng hơn. Ngoài thương hiệu, khách hàng bắt đầu quan tâm nhiều đến tổng chi phí sử dụng, khả năng thay pin cũng như mức độ thuận tiện trong quá trình sạc. Đây là lý do khiến nhiều hãng xe phải liên tục tung ưu đãi nhằm kích cầu, thay vì chỉ cạnh tranh bằng công nghệ hoặc thiết kế.
Ở góc độ thị trường, việc Honda liên tiếp điều chỉnh giá bán và chính sách cho ICON e: cho thấy hãng xe Nhật Bản dường như đang ưu tiên mở rộng tệp khách hàng hơn là duy trì biên lợi nhuận trong giai đoạn đầu. Đây cũng là chiến lược từng được nhiều thương hiệu xe điện áp dụng nhằm nhanh chóng tăng độ phủ sản phẩm trước khi thị trường bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hơn.
Honda ICON e: sử dụng động cơ điện công suất 1,5 kW. Xe có thể đạt tốc độ tối đa khoảng 48 km/giờ và có thể di chuyển hơn 70 km sau mỗi lần sạc đầy theo công bố của nhà sản xuất. Mẫu xe này dùng pin lithium-ion, hỗ trợ sạc đầy trong khoảng 8 giờ, đồng thời được trang bị một số tiện ích như cổng sạc USB, cốp chứa đồ và hệ thống phanh CBS.
Trong số các mẫu xe được Suzuki khuyến mãi tháng 5, Jimny là cái tên nhận mức cao nhất, 120 triệu đồng. Khuyến mãi này bao gồm 100% lệ phí trước bạ và gói bảo dưỡng xe 6,5 năm có thể quy đổi sang tiền mặt.
Ngoài mức khuyến mãi trên của hãng, Suzuki Jimny còn được đại lý giảm giá thêm 30-50 triệu đồng, tùy mức độ tồn kho và chính sách bán hàng từng nơi. Với mức giảm cao nhất 180 triệu đồng, giá Jimny giao dịch thực tế khoảng 609 triệu đồng, tương đương giá bản thấp của các mẫu CUV cỡ B.
Theo các nhân viên bán hàng, mức khuyến mãi kỷ lục của Suzuki Jimny do đời xe sâu (2024) và thanh khoản chậm. Jimny định vị ở phân khúc cỡ A nhưng giá bán gần bằng các bản thấp của xe cỡ C.
Jimny có thế mạnh off-road, thiết kế vuông vức, cá tính, nhập khẩu Nhật nhưng giá cao và nội thất không chiều chuộng nhu cầu khách số đông. Jimny như một mẫu xe chơi dành cho khách mạnh về tài chính. Vì thế, sản phẩm này không đóng góp nhiều vào doanh số Suzuki bằng các mẫu đa dụng hơn, giá rẻ hơn như XL7 hay Fronx.
Hồi ra mắt năm 2024, Suzuki Jimny từng có thời gian đội giá do nhu cầu lớn ở giai đoạn đầu mở bán. Sau đó, nhu cầu của xe vơi bớt và giá xe dần hạ nhiệt trước khi được khuyến mãi sâu để đẩy hàng. Trong dải sản phẩm của Suzuki, hiện chỉ có Jimny tồn xe sản xuất (VIN) 2024.
Doanh số năm 2024 (bán từ tháng 4) của Jimny đạt 437 xe. Sang 2025, con số giảm xuống 271 xe. Sau 4 tháng đầu 2025, lượng bán của mẫu xe nhập Nhật đạt 82 xe.
Suzuki Jimny bán ra một phiên bản tại Việt Nam, giá 789 triệu đồng. Động cơ loại 1.5 công suất 102 mã lực, mô-men xoắn cực đại 130 Nm, hộp số tự động 4 cấp, dẫn động 2 cầu. Người dùng có thể tùy chỉnh chế độ lái như một cầu nhanh (2H), hai cầu nhanh (4H), hai cầu chậm (4L).
Ngành ôtô Đông Nam Á 5 năm trở lại đây có nhiều biến chuyển khi Indonesia dần bắt kịp Thái Lan về năng lực sản xuất xe hàng năm. Trong khi nhờ sự xuất hiện của VinFast, Việt Nam tăng mạnh lượng xe nội địa nhưng so với các quốc gia nhóm đầu, khoảng cách còn khá lớn.
Thái Lan dẫn đầu về số lượng thương hiệu ôtô (16) đặt nhà máy sản xuất, hoặc tự đầu tư hoặc liên kết với đối tác địa phương. Hàng chục năm qua, nơi đây được xem là "Detroit của châu Á" khi hàng chục hãng ngoại quốc đến đây xây cứ điểm sản xuất và chuyển xe đến bán ở các thị trường khác.
Sở hữu ngành sản xuất nội địa phát triển nhất khu vực nhưng Thái Lan dần suy yếu trong khoảng 5 năm trở lại đây khi những bất ổn về kinh tế khiến doanh số xe mới nội địa sụt giảm. Bên cạnh đó, chiến lược thúc đẩy xe điện của Chính phủ một mặt giúp nước này tăng trưởng nhanh về sức mua, thu hút hàng loạt thương hiệu Trung Quốc, nhưng mặt khác cũng ảnh hưởng mạnh đến các hãng xe Nhật Bản vốn chiếm số lượng lớn nhất thị trường và bán chủ yếu các dòng xe động cơ đốt trong, hybrid.
Với sự cạnh tranh ngày càng lớn, nhiều tập đoàn ôtô cơ cấu lại hoạt động sản xuất để tối ưu chi phí. Những Subaru, Suzuki ngưng nhà máy tại Thái Lan, chuyển sản xuất về Nhật Bản hoặc Indonesia.
Năm 2025, Indonesia xuất xưởng hơn 1,1 triệu xe, kém con số của Thái Lan (hơn 1,4 triệu xe) khoảng hơn 300.000 xe. Đây là chênh lệch thuộc hàng thấp nhất giữa hai quốc gia sở hữu năng lực sản xuất xe mạnh nhất khu vực trong khoảng 10 năm qua.
Indonesia đang là "thỏi nam châm" thu hút hàng loạt hãng xe từ Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc đến đặt nhà máy sản xuất xe điện nhờ trữ lượng nickel, một nguyên liệu quan trọng để sản xuất pin. VinFast, hãng xe Việt Nam cũng đã vận hành nhà máy tại quốc gia này từ cuối 2025. Đến nay, Indonesia có khoảng 15 hãng đặt nhà máy sản xuất, lắp ráp ôtô.
Việt Nam có khoảng 14 hãng tự đầu tư hoặc liên doanh đối tác xây dựng nhà máy. Năm 2025, số lượng xe xuất xưởng hơn 480.000 xe, khiêm tốn hơn nhiều Thái Lan hay Indonesia.
Hiện ngoài VinFast, thị trường chưa có hãng nào sản xuất xe thuần điện tại dải đất hình chữ S. Wuling, thông qua đối tác TMT, dừng ở mức lắp ráp xe điện. Xe hybrid lắp ráp có Honda tiên phong với mẫu CR-V.
Malaysia cũng là quốc gia sở hữu ngành sản xuất nội địa phát triển. Hai thương hiệu nội địa Perodua và Proton dẫn đầu thị phần tại đây. Giống Việt Nam, xe sản xuất ở Malaysia chủ yếu cho nhu cầu trong nước. Các quốc gia như Philippines, Singapore và Campuchia cũng có nhà máy lắp ráp ôtô nhưng quy mô còn nhỏ.
Đại diện các cơ quan của Bộ Xây dựng cho biết như vậy khi trao đổi với báo chí chiều 13-5, liên quan đến việc Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải (Công ty Sơn Hải) đề xuất quy định bắt buộc bảo hành công trình tối thiểu 10 năm nhưng không giữ tiền bảo hành.
Theo ông Lê Quyết Tiến - Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), pháp luật hiện hành đã quy định rõ thời gian và mức tiền bảo hành tối thiểu. Tuy nhiên Bộ Xây dựng khuyến khích các nhà thầu tự nguyện kéo dài thời gian bảo hành nếu có thỏa thuận với chủ đầu tư.
Theo ông Tiến, các quy định hiện nay được xây dựng dựa trên nghiên cứu thực tế và thông lệ quốc tế. Nếu muốn nâng thời gian bảo hành thành quy định bắt buộc thì cần đánh giá kỹ theo từng loại công trình, mức độ ảnh hưởng tới nhà thầu cũng như trách nhiệm giữa cơ quan quản lý và đơn vị thi công.
Ông Ngô Lâm - Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam - cho biết công tác bảo trì được thực hiện ngay khi công trình đưa vào khai thác và thuộc trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành. Đối với đường bộ, việc bảo trì gồm bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất theo quy định pháp luật.
Nguồn kinh phí bảo trì do đơn vị quản lý đường chi trả. Với dự án đầu tư công, ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí; với dự án BOT, nhà đầu tư sử dụng nguồn tiền được xác lập trong phương án tài chính dự án để thực hiện.
Trong khi đó tiền bảo hành là khoản chủ đầu tư giữ lại hoặc yêu cầu nhà thầu bảo lãnh ngân hàng nhằm khắc phục các hư hỏng do lỗi thi công trong thời gian bảo hành. Khi hết thời hạn mà công trình không phát sinh sự cố, khoản tiền này sẽ được hoàn trả cho nhà thầu, không được sử dụng cho bảo trì.
Ông Lê Quyết Tiến giải thích thêm không thể sử dụng tiền bảo hành cho bảo trì vì hai khoản này có nguyên tắc chi khác nhau. Khi xảy ra thiên tai làm hỏng đường cũng không được dùng tiền bảo hành để khắc phục, mà dùng tiền bảo trì. Trong thời gian bảo hành vẫn dùng kinh phí bảo trì sửa chữa nhỏ mặt đường, hộ lan, vạch sơn… Cho nên nói kéo dài thời gian bảo hành sẽ giảm tiền bảo trì là không chính xác.
Đối với đề xuất kéo dài bảo hành 10 năm nhưng không giữ tiền bảo hành, ông Tiến cho biết các dự án do Công ty Sơn Hải bảo hành 10 năm thời gian qua vẫn phải thực hiện giữ tiền hoặc bảo lãnh bảo hành theo quy định. Khoản tiền này nhằm bảo đảm xử lý kịp thời các sự cố do lỗi nhà thầu. Nếu nhà thầu không đủ khả năng khắc phục, chủ đầu tư có thể sử dụng nguồn tiền đó thuê đơn vị khác sửa chữa.
Trường hợp nhà thầu tự nguyện kéo dài bảo hành, hai bên có thể nghiên cứu thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng về phạm vi và trách nhiệm khắc phục để xem xét giảm hoặc không giữ tiền bảo hành.
Lãnh đạo các ban quản lý dự án thuộc Bộ Xây dựng cho biết dù Công ty Sơn Hải tự nguyện bảo hành một số đoạn cao tốc 10 năm, nhưng chủ đầu tư vẫn phải giữ lại 3% giá trị hợp đồng theo quy định. Nguyên nhân là công trình giao thông sau khoảng 10 năm khai thác thường phải trùng tu, nguy cơ hư hỏng ở giai đoạn cuối càng lớn. Nếu không giữ tiền bảo hành, việc chậm khắc phục sự cố có thể gây ảnh hưởng lớn tới khai thác công trình.
Các đơn vị này cũng cho rằng công trình đường bộ gồm nhiều hạng mục với tuổi thọ khác nhau như bê tông xi măng, bê tông nhựa, sơn kẻ đường hay dải phân cách. Nếu áp dụng cứng quy định bảo hành 10 năm cho toàn bộ công trình thì hồ sơ dự toán phải tách riêng thời hạn bảo hành từng hạng mục, gây phức tạp trong tính toán và đấu thầu. Hiện hồ sơ mời thầu phổ biến quy định bảo hành 2 năm; nếu nâng lên 10 năm có thể khiến ít nhà thầu tham gia, làm giảm tính cạnh tranh.
Đại diện Tổng công ty 319 cũng cho rằng trong một gói thầu có nhiều hạng mục với tuổi thọ khác nhau. Một số hạng mục như dải phân cách chỉ có tuổi thọ khoảng 2 năm, nên nếu phải bảo hành 10 năm sẽ khiến chi phí dự toán đấu thầu tăng mạnh và phức tạp hơn. Ngoài ra, chi phí bảo đảm hoặc bảo lãnh ngân hàng đều do nhà thầu chi trả, nên nhiều doanh nghiệp mong muốn thực hiện theo đúng quy định hiện hành, thay vì kéo dài thời gian bảo hành.