Theo số liệu của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), trong 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhân điều đạt 139.865 tấn, tăng gần 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 953,5 triệu USD, tăng gần 10,9%, trong khi giá xuất khẩu bình quân đạt 6.802 USD/tấn, chỉ giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất của ngành điều Việt Nam với mức tăng trưởng tích cực cả về lượng và kim ngạch, lần lượt tăng 29,7% và 30,3%. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc giảm do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ và kỳ nghỉ đầu năm. Singapore tiếp tục gia tăng vai trò là thị trường trung chuyển trong tháng 3.
Đáng chú ý, khu vực Trung Đông – thị trường lớn thứ ba của ngành điều Việt Nam trong năm 2025 – đang chịu tác động mạnh từ xung đột địa chính trị. Theo Vinacas, sau khi Israel và Mỹ tấn công Iran, lượng xuất khẩu điều vào khu vực này trong tháng 3 giảm tới 50% so với cùng kỳ. Sang tháng 4/2026, do tình hình chiến sự leo thang, hoạt động xuất khẩu sang khu vực này gần như đình trệ.
Không chỉ đầu ra gặp khó, hoạt động nhập khẩu điều thô phục vụ chế biến cũng tăng mạnh trong quý I do lo ngại thiếu hụt nguồn cung. Việt Nam đã nhập khẩu hơn 810.000 tấn điều thô, tăng 35,9% so với cùng kỳ, với tổng trị giá vượt 1,31 tỷ USD. Riêng trong tháng 3, lượng nhập khẩu tăng hơn 44% so với cùng kỳ năm trước.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung điều thô lớn nhất cho Việt Nam, trong khi Bờ Biển Ngà ghi nhận mức tăng trưởng mạnh cả về lượng lẫn giá trị xuất khẩu sang Việt Nam.
Ông Bạch Khánh Nhựt – Phó Chủ tịch thường trực Vinacas – đánh giá, số liệu quý I chưa phản ánh đầy đủ xu hướng cả năm do đây là giai đoạn cao điểm thu mua nguyên liệu phục vụ chế biến của ngành điều. Tuy nhiên, những biến động vừa qua đã cho thấy tác động tức thì của chiến sự Trung Đông đến hoạt động xuất nhập khẩu của ngành điều.
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là giá điều thô nhập khẩu vẫn ở mức cao trong khi giá xuất khẩu nhân điều giảm nhẹ, khiến chi phí nguyên liệu trong cơ cấu giá thành tăng mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trước bối cảnh đó, Vinacas đã đưa mục tiêu xuất khẩu điều năm 2026 xuống còn 5 tỷ USD, thấp hơn mức hơn 5,43 tỷ USD đạt được trong năm 2025. Hiệp hội cho rằng mục tiêu này phù hợp với bối cảnh hiện nay và có thể tiếp tục được điều chỉnh tùy theo diễn biến thị trường trong thời gian tới.
Ngoài biến động thị trường, ngành điều còn phải đối mặt với áp lực logistics khi tình hình bất ổn tại Trung Đông và tuyến vận tải Biển Đỏ – Suez khiến giá cước vận chuyển duy trì ở mức cao và tiềm ẩn nguy cơ tăng thêm.
Cùng với đó, lãi suất tăng nhanh trong 4 tháng đầu năm và điều kiện tiếp cận tín dụng khó khăn đang gây áp lực lớn lên dòng tiền của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn thu mua nguyên liệu.
Ở góc độ thị trường xuất khẩu, các quy định mới liên quan đến môi trường, phát triển bền vững, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tại EU và Trung Quốc cũng đang làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ của doanh nghiệp chế biến điều.
Trước những áp lực này, Vinacas kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ tín dụng như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và xây dựng các gói vay phù hợp cho doanh nghiệp thu mua, chế biến điều.
Hiệp hội cũng đề xuất các bộ, ngành liên quan làm việc với hãng tàu nhằm ổn định giá cước vận tải, ưu tiên chỗ cho nông sản xuất khẩu và tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế các kênh đi qua khu vực xung đột.
Về dài hạn, ngành điều cho rằng cần thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do với các quốc gia châu Phi nhằm tạo môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động nhập khẩu nguyên liệu.
Bên cạnh đó, Vinacas kiến nghị Chính phủ có chính sách tín dụng ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trên mỗi tấn nhân điều, đồng thời hỗ trợ tái canh và phát triển vùng nguyên liệu trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn điều thô nhập khẩu.
Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Tại diễn đàn năng lượng và môi trường sáng 8/7, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho rằng doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là động lực quyết định sự thành bại của lộ trình phát thải ròng bằng 0 (Net Zero).
Phó thủ tướng lưu ý sàn giao dịch carbon trong nước đã vận hành thí điểm cuối tháng 6. Ông yêu cầu cộng đồng doanh nghiệp rà soát công nghệ, minh bạch dữ liệu môi trường và chủ động tham gia thị trường carbon. Về dài hạn, doanh nghiệp cần tiên phong xây dựng lộ trình giảm phát thải, tích hợp tiêu chí ESG (môi trường, xã hội, quản trị) vào chiến lược kinh doanh.
"Cộng đồng doanh nghiệp cần xác định chuyển đổi xanh, quản trị ESG là chiến lược sống còn và cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh", Phó thủ tướng nói. Chính phủ sẽ tiếp tục vận hành và hoàn thiện sàn giao dịch carbon trong nước, nhằm tạo cơ chế định giá carbon minh bạch, hiệu quả.
Cuối tháng trước, sàn giao dịch carbon Việt Nam ghi nhận những giao dịch đầu tiên, với giá đóng cửa ở mức 130.000 đồng một tấn CO2. Với lượng hạn ngạch phân bổ lên tới hơn 511 triệu tấn CO2, giới chuyên gia tính toán vốn hóa toàn thị trường ở mức 66.500 tỷ đồng.
Thứ trưởng Nông Nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết phát triển sàn carbon là định hướng lớn trong lộ trình Net Zero của Việt Nam. Sàn giao dịch là công cụ hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm phát thải, giúp doanh nghiệp chủ động tham gia vào các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon, tiếp cận nguồn lực tài chính xanh trong tương lai.
Ông Thành cho hay Bộ cam kết chủ động tháo gỡ các rào cản chính sách, nâng cao năng lực thực thi, tối ưu hóa quy trình nhằm tạo thuận tiện hơn cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chuyển dịch năng lượng là trọng tâm của lộ trình giảm thải, khi ngành này được dự kiến chiếm 73% tổng phát thải cả nước theo kịch bản thông thường. Ngành năng lượng đang đứng trước mục tiêu kép về giảm thải và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10% một năm.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định chuyển dịch năng lượng cần thực hiện theo lộ trình phù hợp, không "loại bỏ đột ngột các nguồn năng lượng truyền thống", như nhiệt điện than.
Theo ông, việc sử dụng điện than cần hướng tới nâng cao hiệu quả, áp dụng công nghệ mới để kiểm soát chặt chẽ phát thải, từng bước giảm dần tỉ trọng trong cơ cấu điện. Ông cho biết Chính phủ kiên định nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Phó thủ tướng đề nghị các tổ chức quốc tế, quốc gia phát triển hỗ trợ Việt Nam thiết thực hơn, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm thải theo lộ trình đặt ra.