Chủ tịch Hội đồng thẩm định nhà nước với dự án Vành đai 5 – Vùng thủ đô là Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Bộ Xây dựng là cơ quan thường trực. Các phó chủ tịch hội đồng gồm Thứ trưởng Bộ Tài chính và Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
Các ủy viên hội đồng gồm lãnh đạo các bộ Quốc phòng, Công an, NN-MT, KH-CN, Công thương, Tư pháp và lãnh đạo UBND 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ.
Trước đó, theo Ban Quản lý dự án Thăng Long và Liên danh tư vấn lập báo cáo tiền khả thi, dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng thủ đô là dự án quan trọng quốc gia.
Dự án nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải, giảm tải và bảo đảm an toàn giao thông trên tuyến Vành đai 5. Hoàn thành và đưa vào khai thác đồng bộ các tuyến đường bộ cao tốc có năng lực lớn, an toàn và tốc độ cao trên hành lang vận tải các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.
Theo đề xuất của tư vấn, dự án có điểm đầu tại Km0 (tương ứng Km367+100 đường Hồ Chí Minh), thuộc địa phận xã Yên Bài, Hà Nội; điểm cuối trùng với điểm đầu, tạo thành tuyến khép kín.
Tổng chiều dài tuyến khoảng 340 km (không bao gồm 33 km đi trùng với cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên và cao tốc Hà Nội – Lào Cai).
Tuyến đi qua địa bàn 7 địa phương: Hà Nội (51 km), Ninh Bình (36 km), Hưng Yên (27 km), Hải Phòng (63 km), Bắc Ninh (49 km), Thái Nguyên (36 km) và Phú Thọ (78 km).
Về quy mô đầu tư, tuyến chính cao tốc được đề xuất xây dựng theo quy mô 6 làn xe theo quy hoạch; riêng đoạn qua Thái Nguyên (từ Km248+124 đến cao tốc CT.07) quy mô 4 làn xe; tốc độ thiết kế 100 – 120 km/giờ.
Ngoài dự án Vành đai 5, Hà Nội đang triển khai dự án Vành đai 4 – Vùng thủ đô, dài khoảng 113,5 km, đi qua địa bàn 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh. Trong đó, dự án có chiều dài qua Hà Nội khoảng 59 km đi qua địa bàn 17 phường, xã.
Tin Gốc: Thanh Niên

Mới đây, ngày 18.5, trang Egde Malaysia nhận định VN đang đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quan trọng của mô hình "Con hổ châu Á" cổ điển: tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Một chuyển biến quan trọng là cơ cấu xuất khẩu đã thay đổi rõ rệt, tỷ trọng hàng chế tạo và công nghệ cao tăng nhanh. VN hiện trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Đáng chú ý, vai trò khu vực tư nhân trong nước đang tăng lên nhanh chóng. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng của VN đang chuyển dần từ "Nhà nước dẫn dắt trực tiếp" sang "Nhà nước kiến tạo phát triển", tập trung đầu tư hạ tầng để thúc đẩy sản xuất.
Trang tin này cũng nêu rằng một trong những nền tảng giúp VN duy trì tốc độ tăng trưởng cao là lợi thế nhân khẩu học với lực lượng lao động trẻ, dồi dào và ngày càng có chất lượng cao hơn. Một điểm được đánh giá cao là việc VN duy trì kỷ luật tài khóa khá chặt chẽ trong nhiều năm qua. Nợ công còn 32,9% năm 2024, được xem là mức tương đối an toàn so với nền kinh tế mới nổi.
Trước đó vào đầu năm nay, trang The McGill International Review (MIR) của Canada cũng có bài nhận định rằng VN dù vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng chú ý và đang nổi lên như một ứng cử viên nặng ký cho danh hiệu "Con hổ châu Á" trong giai đoạn phát triển mới. Mô hình phát triển của VN hiện nay được định hình bởi hai trụ cột quan trọng. Một là vai trò sở hữu và kiểm soát của nhà nước trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Hai là đường lối đối ngoại linh hoạt, cho phép VN duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ - hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến khu vực. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN trong nhiều năm liên tiếp đã tiệm cận mức 7 - 10%/năm, ngưỡng tăng trưởng từng làm nên tên tuổi của các "con hổ châu Á" trong giai đoạn đỉnh cao công nghiệp hóa…
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật, nhận định: bên cạnh những yếu tố mà báo chí nước ngoài thường nhắc đến thì có 2 yếu tố quan trọng khác khiến VN có thể tiến tới trở thành "con hổ châu Á", đó là chất lượng thể chế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hiện nay, chất lượng điều hành và thể chế ở VN đang có sự chuyển động mạnh theo hướng kiến tạo phát triển. Điểm đáng chú ý là VN không còn chỉ tập trung vào tăng trưởng ngắn hạn mà đang tái cấu trúc bộ máy và mô hình quản trị để tạo ra dư địa lớn cho sự phát triển dài hạn. VN đang bước vào một giai đoạn cải cách thể chế và tổ chức không gian phát triển có quy mô rất lớn trong nhiều năm trở lại đây, trong đó nổi bật là tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính và hình thành các cực tăng trưởng có quy mô lớn hơn.
Đồng thời, từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã thông qua các nghị quyết về khoa học, công nghệ (KH-CN), hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, năng lượng, giáo dục và y tế. Điểm chung của các nghị quyết này là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển đã thể hiện tầm nhìn dài hạn và tư duy phát triển hệ thống. VN cũng đang chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và lao động giá rẻ sang dựa chủ yếu vào KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là yếu tố quyết định để VN vượt qua "bẫy thu nhập trung bình".
Ông Đỗ Phú Trần Tình nhấn mạnh: VN hiện nay định hướng không chỉ là công xưởng gia công, mà đang đầu tư mạnh vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, kinh tế số… Đồng thời, cả nước đang triển khai hàng loạt siêu dự án hạ tầng như tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trị giá khoảng 67 tỉ USD và chương trình phát triển năng lượng hạt nhân để bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn phát triển mới. Đây chính là dấu hiệu đặc trưng của một nền kinh tế đang tiến tới mô hình "con hổ châu Á".
Nhìn lại lịch sử kinh tế hơn hai thập niên trước, VN thường xuất hiện trên các mặt báo tài chính quốc tế với định danh khiêm tốn: một quốc gia hưởng lợi từ "cổ tức dân số", một điểm đến lý tưởng cho các ngành thâm dụng lao động nhờ giá nhân công rẻ. Những nhận định cũ giai đoạn trước thường xoáy sâu vào các lĩnh vực dệt may, da giày hay lắp ráp đơn giản. Khi đó, thế giới nhìn nhận VN như một "trạm dừng chân" tạm thời cho các dây chuyền sản xuất cần tối ưu chi phí. Thế nhưng giờ đây cục diện đã thay đổi.
Trong bài báo đăng ngày 13.5, tờ Nikkei Asia (Nhật Bản) phản ánh, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực công nghệ ngày càng gia tăng, Tập đoàn bán dẫn Qualcomm (Mỹ) đang đẩy mạnh mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại VN, coi đây là mắt xích quan trọng trong chiến lược xây dựng trung tâm kỹ thuật toàn cầu. Điều này cho thấy VN giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển toàn cầu của tập đoàn này.
Tương tự, trang The Interpreter (Úc) ngày 15.5 cũng cho rằng VN hy vọng trở thành trung tâm bán dẫn toàn cầu, thu hút sự quan tâm rộng rãi từ các chính phủ và các nhà lãnh đạo công nghệ. VN coi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là chìa khóa vàng để mở ra giai đoạn phát triển mới. Điều làm nên sự khác biệt của VN so với các cường quốc tầm trung khác là chiến lược ngành bán dẫn được định hướng theo các mục tiêu rõ ràng, đồng bộ nhằm củng cố các yếu tố khác nhau của hệ sinh thái chip phức tạp.
Trên thực tế, lĩnh vực bán dẫn của VN đã có những chuyển động mạnh mẽ. Không chỉ là sự tham gia của hàng loạt "ông lớn" FDI như Intel, Samsung, Qualcomm... mà mới nhất vào đầu năm nay, hai tập đoàn công nghệ lớn của VN là Viettel và FPT đồng loạt kích hoạt các dự án tỉ USD. Việc Viettel khởi công nhà máy chế tạo chip tại Hòa Lạc (Hà Nội) và FPT vận hành nhà máy kiểm thử, đóng gói tại Bắc Ninh không đơn thuần mở rộng quy mô sản xuất vật lý, mà được xem như hai mảnh ghép tạo nên hệ sinh thái khép kín đầu tiên của người Việt: Viettel dấn thân vào khâu chế tạo phôi chip phức tạp, còn FPT đảm nhận khâu hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.
Như vậy với việc xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn tại Hòa Lạc được kỳ vọng sẽ "khép kín" toàn bộ quy trình sản xuất chip ngay tại VN, bởi trước đó vẫn còn công đoạn chế tạo chip là khâu phức tạp và then chốt nhất vẫn chưa thể thực hiện trong nước. Ngoài ra, vấn đề đất hiếm - nguyên liệu chiến lược về sản xuất chất bán dẫn - mà theo số liệu của Cơ quan Khảo sát địa chất của Mỹ trước đó, VN hiện đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng và tài nguyên đất hiếm với khoảng 22 triệu tấn, chỉ sau Trung Quốc (44 triệu tấn).
Đặc biệt, VN cũng là quốc gia duy nhất ngoài Trung Quốc có chuỗi cung ứng nam châm đất hiếm tích hợp theo chiều dọc và đã thu hút sự quan tâm từ các công ty trong nhiều lĩnh vực…Như vậy có thể thấy rằng nhiều yếu tố cộng hưởng khiến cho cơ hội phát triển ngành bán dẫn của VN vươn lên mạnh mẽ.
Theo PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, để thúc đẩy và tạo ra sự khác khác biệt trong lĩnh vực KH-CN nói chung và bán dẫn nói riêng thì cần vượt ra khỏi tư duy "thu hút đầu tư" đơn thuần để chuyển sang tư duy "xây dựng năng lực công nghệ quốc gia". Đây được xem là một vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là cần xây dựng chiến lược nhân lực bán dẫn quốc gia. Không chỉ đào tạo kỹ sư số lượng lớn, mà phải phân tầng theo các nhóm: kỹ sư thiết kế vi mạch, kỹ sư vật liệu, kỹ sư đóng gói - kiểm thử, chuyên gia AI phần cứng, chuyên gia tự động hóa, chuyên gia sở hữu trí tuệ và quản trị chuỗi cung ứng bán dẫn.
Tiếp theo, cần chọn đúng phân khúc chiến lược, như trước mắt nên tập trung vào thiết kế chip, đóng gói - kiểm thử, vi mạch cho thiết bị thông minh, AI, ô tô điện, năng lượng và các ứng dụng công nghiệp. Song song cần phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa; xây dựng hệ sinh thái đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp và cần hoàn thiện thể chế cho đổi mới sáng tạo.
"Bán dẫn không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà còn liên quan đến sở hữu trí tuệ, thuế, đất đai, nhập khẩu thiết bị, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh dữ liệu, hợp tác quốc tế và thị trường vốn. Nếu thể chế cải cách không đủ nhanh, VN sẽ khó nắm bắt cơ hội", PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình chia sẻ thêm.
Nói về cuộc chuyển mình ấn tượng về hình ảnh của VN trên trường quốc tế, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) nhìn nhận: VN hiện nay không còn chỉ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ở tầng thấp như dệt may hay gia công đơn giản, mà đã trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi điện tử và công nghệ. FDI cũng đang thay đổi về chất: trước đây vốn ngoại chủ yếu tập trung vào dệt may hoặc bất động sản, còn hiện nay các tập đoàn như Samsung, Apple, LG, Foxconn, Amkor, Nvidia hay Intel đều đã mở rộng hiện diện tại VN. Samsung hiện xuất khẩu từ VN khoảng 50 - 60 tỉ USD/năm, tương đương gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Apple cũng đang đẩy mạnh dịch chuyển chuỗi cung ứng AirPods, iPad, MacBook sang VN; Amkor đầu tư tổ hợp bán dẫn hơn 1,6 tỉ USD ở Bắc Ninh.
Cũng theo vị chuyên gia này, VN đang có đột phá mạnh ở 3 lĩnh vực: thứ nhất là điện tử và bán dẫn khi xuất khẩu nhóm máy vi tính, điện tử và linh kiện đã vượt 70 tỉ USD/năm. Thứ hai là năng lượng xanh và xe điện, với VinFast đang mở rộng sang Mỹ, Ấn Độ, Indonesia và kéo theo hệ sinh thái pin, linh kiện, trạm sạc phát triển nhanh. Thứ ba là kinh tế số khi quy mô kinh tế số VN đã vượt 30 tỉ USD và thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á.
Điều quan trọng là chúng ta đang hưởng lợi từ xu hướng "Trung Quốc + 1", tức các tập đoàn toàn cầu muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc. Nhờ vị trí địa lý, chi phí cạnh tranh, độ mở thương mại cao và mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, VN đang dần chuyển từ vai trò "công xưởng chi phí thấp" sang trung tâm sản xuất - logistics - công nghệ mới.
Tuy nhiên, để thực sự trở thành "con hổ châu Á", ông Trần Anh Tùng khuyến nghị VN vẫn cần phải cố gắng để thu hẹp khoảng cách. Điểm yếu hiện nay là giá trị gia tăng nội địa còn thấp. Dù xuất khẩu điện tử rất lớn nhưng phần linh kiện lõi, chip, công nghệ nền và sở hữu trí tuệ vẫn nằm chủ yếu trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Nghĩa là, chúng ta đang mạnh về "quy mô sản xuất" nhưng chưa mạnh tương xứng về "năng lực công nghệ". Giai đoạn tới, VN phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang năng suất cao và công nghệ cao. Muốn vậy, cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ nội địa để tăng tỷ lệ nội địa hóa; đồng thời đầu tư mạnh vào nhân lực công nghệ, AI, bán dẫn và quan trọng nhất cải cách thể chế để giảm chi phí logistics, thủ tục, vốn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Dần hình thành hướng dịch chuyển
Báo cáo mới nhất của Cushman & Wakefield Việt Nam cho thấy thị trường nhà ở Hà Nội đang ngày càng được dẫn dắt bởi xu hướng mở rộng ra vùng ven, với các khu dân cư mới, các cực đô thị quy mô lớn và những hành lang hạ tầng được kỳ vọng sẽ đóng vai trò lớn hơn trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Thủ đô.
Báo cáo đánh giá, thị trường đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó tăng trưởng tương lai được kỳ vọng sẽ mở rộng xa hơn khỏi lõi đô thị truyền thống. Nếu thập kỷ vừa qua được đánh dấu bởi đà tăng giá mạnh ở cả phân khúc căn hộ và nhà liền thổ, thì chặng tiếp theo của thị trường nhiều khả năng sẽ ngày càng được định hình bởi xu hướng giãn nở ra khu vực ngoại ô, sự hình thành của các hành lang phát triển mới và sự xuất hiện của những cực đô thị quy mô lớn trên phạm vi Hà Nội mở rộng.
Theo Cushman & Wakefield Việt Nam, trong 10 năm qua (từ 2015 đến nay), thị trường căn hộ Hà Nội đã ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể, với tổng nguồn cung tăng 2,9 lần và giá sơ cấp trung bình tăng 288%. Đà tăng bền bỉ của giá sơ cấp trong giai đoạn này một phần đến từ sự thiếu hụt nguồn cung nhà ở có mức giá phải chăng.
Không chỉ thay đổi về giá và nguồn cung, thị trường căn hộ Hà Nội còn trải qua một sự dịch chuyển mang tính cấu trúc rộng hơn. Các dự án nhà ở đã dần mở rộng từ mô hình khu đô thị ban đầu sang một phổ vị trí đa dạng hơn, bao gồm khu vực ngoại ô, phía tây, các khu vực thứ cấp và những vị trí gắn với trung tâm. Điều này cho thấy thị trường đang ngày càng vận động theo hướng đa cực.
Xu hướng đó được dự báo sẽ còn rõ nét hơn trong thập kỷ tới. Nguồn cung căn hộ tại khu vực Hà Nội mở rộng được dự báo tăng từ tối thiểu 440.000 căn thuộc 710 dự án vào năm 2025 lên ít nhất 760.000 căn thuộc 1.150 dự án vào năm 2035. Phần lớn nguồn cung mới này được kỳ vọng sẽ xuất hiện tại các khu dân cư mới nằm cách trung tâm thành phố hơn 30km, trong khi nhiều cực đô thị quy mô lớn cũng sẽ gia nhập thị trường và góp phần hình thành các đô thị vệ tinh trong tương lai. Báo cáo xác định các tuyến đường vành đai, cầu mới và việc triển khai Luật Đất đai 2024 từ năm 2026 là những động lực quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo này.
Thị trường tăng ở nhiều phân khúc
Thị trường bất động sản Hà Nội quý I/2026 ghi nhận xu hướng tái cấu trúc rõ nét ở hầu hết phân khúc, với dòng vốn và nguồn cung dịch chuyển ra ngoài khu vực trung tâm. Đáng chú ý, nguồn cung nhà ở "dạt" ra vùng ven, phụ thuộc hạ tầng.
Các chuyên gia của Công ty Savills Việt Nam phân tích, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) duy trì tích cực và quy hoạch Thủ đô theo hướng dài hạn, thị trường đang chuyển sang mô hình đa cực, phân tán, chú trọng chất lượng và trải nghiệm. Các khu vực ngoài lõi trung tâm ngày càng đóng vai trò quan trọng, nhờ hạ tầng cải thiện và nhu cầu thực gia tăng.
Quý I, thị trường căn hộ ghi nhận tâm lý thận trọng hơn, song nguồn cung mới vẫn là động lực chính của giao dịch và có tỷ lệ hấp thụ cao hơn trung bình. Phần lớn dự án mở bán nằm ngoài Vành đai 3, cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt ra khu vực vùng ven – nơi giá còn "dễ tiếp cận" hơn và được hỗ trợ bởi hạ tầng giao thông.
Savills dự báo, trong 9 tháng cuối của năm 2026, căn hộ hạng A và B sẽ chiếm ưu thế với khoảng 16.700 căn. Các địa phương lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh được kỳ vọng chia sẻ nhu cầu với Hà Nội nhờ hạ tầng phát triển và nguồn cung mới.
Thị trường nhà ở đang dịch chuyển mang tính cấu trúc từ nội đô ra ngoại thành, do hạn chế quỹ đất trung tâm và tác động của hạ tầng. Về dài hạn, tăng trưởng sẽ gắn với mô hình đô thị đa cực, phát triển theo các hành lang phía Bắc, Đông và Tây - bà Bà Đỗ Thu Hằng, Giám đốc cấp cao, Bộ phận Nghiên cứu và tư vấn Savills Hà Nội dự báo.
Phân khúc nhà liền thổ có diễn biến nguồn cung khác biệt, nhưng vẫn ghi nhận quỹ đạo tăng giá đáng chú ý. Trong kỳ đánh giá, tổng nguồn cung tăng 1,4 lần, trong khi giá sơ cấp trung bình tăng 257%. Dù tốc độ tăng nguồn cung thấp hơn so với phân khúc căn hộ, phân khúc này vẫn duy trì mức tăng giá trị mạnh mẽ.
Trong giai đoạn tới, nguồn cung nhà liền thổ tại khu vực Hà Nội mở rộng được dự báo tăng từ tối thiểu 132.000 căn thuộc 520 dự án vào năm 2025 lên ít nhất 210.000 căn thuộc 700 dự án vào năm 2035. Tương tự phân khúc căn hộ, nguồn cung nhà liền thổ trong tương lai được kỳ vọng sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài trung tâm thành phố, nhờ sự xuất hiện của các cực đô thị quy mô lớn và sự cải thiện của kết nối hạ tầng liên vùng. Các tuyến Vành đai 1, 2, 3 và 4, cùng với hệ thống đường cao tốc và metro, được báo cáo xác định là những động lực dài hạn quan trọng cho tăng trưởng giá trị.
Bà Nguyễn Ly Ly, Quản lý bộ phận nghiên cứu thị trường, Cushman & Wakefield Việt Nam cho biết, trong 10 năm qua, thị trường nhà ở Hà Nội đã đi qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ phục hồi sau giai đoạn kinh tế suy yếu và lãi suất cao, đến tăng trưởng mạnh, chững lại dưới tác động của Covid-19, siết pháp lý và tín dụng, trước khi bước vào giai đoạn phục hồi gần đây. Xuyên suốt chu kỳ đó, mặt bằng giá tiếp tục xu hướng đi lên.
Bà Ly Ly dự báo, trong giai đoạn tới, khi thị trường mở rộng ra các khu vực ngoài trung tâm và các cực đô thị mới hình thành rõ nét hơn, chúng tôi cho rằng sẽ có thêm dư địa để phát triển nguồn cung ở nhiều mức giá đa dạng hơn, qua đó mở ra cơ hội cho các sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu ở thực.
Thực tế cho thấy, sự hình thành các đô thị vệ tinh không chỉ giúp giảm áp lực dân số cho khu vực nội đô mà còn tạo ra các trung tâm kinh tế mới, nơi hội tụ đầy đủ các tiện ích sống, làm việc và giải trí. Đây là mô hình phát triển bền vững mà nhiều thành phố lớn trên thế giới đã áp dụng thành công, và Hà Nội đang từng bước đi theo hướng này.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo công văn Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, hiện tượng El Nino có khả năng cao hình thành từ tháng 6 đến tháng 8.2026 với xác suất từ 80 - 90% và có 20 - 25% nguy cơ đạt mức rất mạnh vào các tháng cuối năm, kéo dài sang năm 2027.
Tại Việt Nam, các điều kiện khô nóng đã xuất hiện sớm từ đầu năm 2026, nắng nóng gia tăng sớm hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa có thể thiếu hụt ngay trong các tháng mùa khô năm 2026. Thực tế hiện nay, lượng mưa trên cả nước từ đầu năm đến giữa tháng 4 đã thiếu hụt phổ biến từ 10 - 40% so với trung bình nhiều năm, khiến dòng chảy và mực nước tại nhiều lưu vực sông chạm mức thấp nhất trong chuỗi quan trắc.
Dự báo trong giai đoạn từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, lượng mưa có khả năng giảm mạnh từ 25 - 50%. Điển hình, hệ thống sông Đà có nguy cơ thiếu hụt 10 - 25% dòng chảy ngay trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 7.2026, tiềm ẩn rủi ro lớn đến việc cấp nước hạ du và an ninh năng lượng.
Tình trạng này kéo theo nguy cơ rất cao xảy ra hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực nam Trung bộ, cao nguyên Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026 - 2027. Đồng thời, các địa phương vẫn cần đề phòng các đợt mưa cực đoan gây lũ quét, sạt lở đất và những cơn bão mạnh có quỹ đạo phức tạp trên Biển Đông. Vào cuối năm 2026, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm hơn trung bình nhiều năm.
Tin Gốc: Thanh Niên

