Mới đây, ngày 18.5, trang Egde Malaysia nhận định VN đang đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quan trọng của mô hình “Con hổ châu Á” cổ điển: tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Một chuyển biến quan trọng là cơ cấu xuất khẩu đã thay đổi rõ rệt, tỷ trọng hàng chế tạo và công nghệ cao tăng nhanh. VN hiện trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Đáng chú ý, vai trò khu vực tư nhân trong nước đang tăng lên nhanh chóng. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng của VN đang chuyển dần từ “Nhà nước dẫn dắt trực tiếp” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển”, tập trung đầu tư hạ tầng để thúc đẩy sản xuất.
Trang tin này cũng nêu rằng một trong những nền tảng giúp VN duy trì tốc độ tăng trưởng cao là lợi thế nhân khẩu học với lực lượng lao động trẻ, dồi dào và ngày càng có chất lượng cao hơn. Một điểm được đánh giá cao là việc VN duy trì kỷ luật tài khóa khá chặt chẽ trong nhiều năm qua. Nợ công còn 32,9% năm 2024, được xem là mức tương đối an toàn so với nền kinh tế mới nổi.
Trước đó vào đầu năm nay, trang The McGill International Review (MIR) của Canada cũng có bài nhận định rằng VN dù vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng chú ý và đang nổi lên như một ứng cử viên nặng ký cho danh hiệu “Con hổ châu Á” trong giai đoạn phát triển mới. Mô hình phát triển của VN hiện nay được định hình bởi hai trụ cột quan trọng. Một là vai trò sở hữu và kiểm soát của nhà nước trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Hai là đường lối đối ngoại linh hoạt, cho phép VN duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ – hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến khu vực. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN trong nhiều năm liên tiếp đã tiệm cận mức 7 – 10%/năm, ngưỡng tăng trưởng từng làm nên tên tuổi của các “con hổ châu Á” trong giai đoạn đỉnh cao công nghiệp hóa…
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế – Luật, nhận định: bên cạnh những yếu tố mà báo chí nước ngoài thường nhắc đến thì có 2 yếu tố quan trọng khác khiến VN có thể tiến tới trở thành “con hổ châu Á”, đó là chất lượng thể chế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hiện nay, chất lượng điều hành và thể chế ở VN đang có sự chuyển động mạnh theo hướng kiến tạo phát triển. Điểm đáng chú ý là VN không còn chỉ tập trung vào tăng trưởng ngắn hạn mà đang tái cấu trúc bộ máy và mô hình quản trị để tạo ra dư địa lớn cho sự phát triển dài hạn. VN đang bước vào một giai đoạn cải cách thể chế và tổ chức không gian phát triển có quy mô rất lớn trong nhiều năm trở lại đây, trong đó nổi bật là tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính và hình thành các cực tăng trưởng có quy mô lớn hơn.
Đồng thời, từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã thông qua các nghị quyết về khoa học, công nghệ (KH-CN), hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, năng lượng, giáo dục và y tế. Điểm chung của các nghị quyết này là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển đã thể hiện tầm nhìn dài hạn và tư duy phát triển hệ thống. VN cũng đang chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và lao động giá rẻ sang dựa chủ yếu vào KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là yếu tố quyết định để VN vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Ông Đỗ Phú Trần Tình nhấn mạnh: VN hiện nay định hướng không chỉ là công xưởng gia công, mà đang đầu tư mạnh vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, kinh tế số… Đồng thời, cả nước đang triển khai hàng loạt siêu dự án hạ tầng như tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam trị giá khoảng 67 tỉ USD và chương trình phát triển năng lượng hạt nhân để bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn phát triển mới. Đây chính là dấu hiệu đặc trưng của một nền kinh tế đang tiến tới mô hình “con hổ châu Á”.
Nhìn lại lịch sử kinh tế hơn hai thập niên trước, VN thường xuất hiện trên các mặt báo tài chính quốc tế với định danh khiêm tốn: một quốc gia hưởng lợi từ “cổ tức dân số”, một điểm đến lý tưởng cho các ngành thâm dụng lao động nhờ giá nhân công rẻ. Những nhận định cũ giai đoạn trước thường xoáy sâu vào các lĩnh vực dệt may, da giày hay lắp ráp đơn giản. Khi đó, thế giới nhìn nhận VN như một “trạm dừng chân” tạm thời cho các dây chuyền sản xuất cần tối ưu chi phí. Thế nhưng giờ đây cục diện đã thay đổi.
Trong bài báo đăng ngày 13.5, tờ Nikkei Asia (Nhật Bản) phản ánh, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực công nghệ ngày càng gia tăng, Tập đoàn bán dẫn Qualcomm (Mỹ) đang đẩy mạnh mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại VN, coi đây là mắt xích quan trọng trong chiến lược xây dựng trung tâm kỹ thuật toàn cầu. Điều này cho thấy VN giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển toàn cầu của tập đoàn này.
Tương tự, trang The Interpreter (Úc) ngày 15.5 cũng cho rằng VN hy vọng trở thành trung tâm bán dẫn toàn cầu, thu hút sự quan tâm rộng rãi từ các chính phủ và các nhà lãnh đạo công nghệ. VN coi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là chìa khóa vàng để mở ra giai đoạn phát triển mới. Điều làm nên sự khác biệt của VN so với các cường quốc tầm trung khác là chiến lược ngành bán dẫn được định hướng theo các mục tiêu rõ ràng, đồng bộ nhằm củng cố các yếu tố khác nhau của hệ sinh thái chip phức tạp.
Trên thực tế, lĩnh vực bán dẫn của VN đã có những chuyển động mạnh mẽ. Không chỉ là sự tham gia của hàng loạt “ông lớn” FDI như Intel, Samsung, Qualcomm… mà mới nhất vào đầu năm nay, hai tập đoàn công nghệ lớn của VN là Viettel và FPT đồng loạt kích hoạt các dự án tỉ USD. Việc Viettel khởi công nhà máy chế tạo chip tại Hòa Lạc (Hà Nội) và FPT vận hành nhà máy kiểm thử, đóng gói tại Bắc Ninh không đơn thuần mở rộng quy mô sản xuất vật lý, mà được xem như hai mảnh ghép tạo nên hệ sinh thái khép kín đầu tiên của người Việt: Viettel dấn thân vào khâu chế tạo phôi chip phức tạp, còn FPT đảm nhận khâu hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.
Như vậy với việc xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn tại Hòa Lạc được kỳ vọng sẽ “khép kín” toàn bộ quy trình sản xuất chip ngay tại VN, bởi trước đó vẫn còn công đoạn chế tạo chip là khâu phức tạp và then chốt nhất vẫn chưa thể thực hiện trong nước. Ngoài ra, vấn đề đất hiếm – nguyên liệu chiến lược về sản xuất chất bán dẫn – mà theo số liệu của Cơ quan Khảo sát địa chất của Mỹ trước đó, VN hiện đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng và tài nguyên đất hiếm với khoảng 22 triệu tấn, chỉ sau Trung Quốc (44 triệu tấn).
Đặc biệt, VN cũng là quốc gia duy nhất ngoài Trung Quốc có chuỗi cung ứng nam châm đất hiếm tích hợp theo chiều dọc và đã thu hút sự quan tâm từ các công ty trong nhiều lĩnh vực…Như vậy có thể thấy rằng nhiều yếu tố cộng hưởng khiến cho cơ hội phát triển ngành bán dẫn của VN vươn lên mạnh mẽ.
Theo PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, để thúc đẩy và tạo ra sự khác khác biệt trong lĩnh vực KH-CN nói chung và bán dẫn nói riêng thì cần vượt ra khỏi tư duy “thu hút đầu tư” đơn thuần để chuyển sang tư duy “xây dựng năng lực công nghệ quốc gia”. Đây được xem là một vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là cần xây dựng chiến lược nhân lực bán dẫn quốc gia. Không chỉ đào tạo kỹ sư số lượng lớn, mà phải phân tầng theo các nhóm: kỹ sư thiết kế vi mạch, kỹ sư vật liệu, kỹ sư đóng gói – kiểm thử, chuyên gia AI phần cứng, chuyên gia tự động hóa, chuyên gia sở hữu trí tuệ và quản trị chuỗi cung ứng bán dẫn.
Tiếp theo, cần chọn đúng phân khúc chiến lược, như trước mắt nên tập trung vào thiết kế chip, đóng gói – kiểm thử, vi mạch cho thiết bị thông minh, AI, ô tô điện, năng lượng và các ứng dụng công nghiệp. Song song cần phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa; xây dựng hệ sinh thái đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp và cần hoàn thiện thể chế cho đổi mới sáng tạo.
“Bán dẫn không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà còn liên quan đến sở hữu trí tuệ, thuế, đất đai, nhập khẩu thiết bị, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh dữ liệu, hợp tác quốc tế và thị trường vốn. Nếu thể chế cải cách không đủ nhanh, VN sẽ khó nắm bắt cơ hội”, PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình chia sẻ thêm.
Nói về cuộc chuyển mình ấn tượng về hình ảnh của VN trên trường quốc tế, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM) nhìn nhận: VN hiện nay không còn chỉ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ở tầng thấp như dệt may hay gia công đơn giản, mà đã trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi điện tử và công nghệ. FDI cũng đang thay đổi về chất: trước đây vốn ngoại chủ yếu tập trung vào dệt may hoặc bất động sản, còn hiện nay các tập đoàn như Samsung, Apple, LG, Foxconn, Amkor, Nvidia hay Intel đều đã mở rộng hiện diện tại VN. Samsung hiện xuất khẩu từ VN khoảng 50 – 60 tỉ USD/năm, tương đương gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Apple cũng đang đẩy mạnh dịch chuyển chuỗi cung ứng AirPods, iPad, MacBook sang VN; Amkor đầu tư tổ hợp bán dẫn hơn 1,6 tỉ USD ở Bắc Ninh.
Cũng theo vị chuyên gia này, VN đang có đột phá mạnh ở 3 lĩnh vực: thứ nhất là điện tử và bán dẫn khi xuất khẩu nhóm máy vi tính, điện tử và linh kiện đã vượt 70 tỉ USD/năm. Thứ hai là năng lượng xanh và xe điện, với VinFast đang mở rộng sang Mỹ, Ấn Độ, Indonesia và kéo theo hệ sinh thái pin, linh kiện, trạm sạc phát triển nhanh. Thứ ba là kinh tế số khi quy mô kinh tế số VN đã vượt 30 tỉ USD và thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á.
Điều quan trọng là chúng ta đang hưởng lợi từ xu hướng “Trung Quốc + 1”, tức các tập đoàn toàn cầu muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc. Nhờ vị trí địa lý, chi phí cạnh tranh, độ mở thương mại cao và mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, VN đang dần chuyển từ vai trò “công xưởng chi phí thấp” sang trung tâm sản xuất – logistics – công nghệ mới.
Tuy nhiên, để thực sự trở thành “con hổ châu Á”, ông Trần Anh Tùng khuyến nghị VN vẫn cần phải cố gắng để thu hẹp khoảng cách. Điểm yếu hiện nay là giá trị gia tăng nội địa còn thấp. Dù xuất khẩu điện tử rất lớn nhưng phần linh kiện lõi, chip, công nghệ nền và sở hữu trí tuệ vẫn nằm chủ yếu trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Nghĩa là, chúng ta đang mạnh về “quy mô sản xuất” nhưng chưa mạnh tương xứng về “năng lực công nghệ”. Giai đoạn tới, VN phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang năng suất cao và công nghệ cao. Muốn vậy, cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ nội địa để tăng tỷ lệ nội địa hóa; đồng thời đầu tư mạnh vào nhân lực công nghệ, AI, bán dẫn và quan trọng nhất cải cách thể chế để giảm chi phí logistics, thủ tục, vốn.
Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và tiền thuê đất trong năm 2026. Theo đó, Bộ đề xuất các khoản thuế và tiền thuê đất sẽ được lùi thời hạn nộp thêm từ 2 - 5 tháng. Cụ thể, DN, tổ chức kê khai thuế GTGT theo tháng sẽ được lùi hạn nộp số phát sinh của các kỳ tháng 5 - 9. Trong đó, thuế của kỳ tháng 5 sẽ nộp chậm nhất vào ngày 20.11, còn các kỳ tháng 6 - 9 được lùi đến 21.12. Đối với DN kê khai theo quý, số thuế GTGT phát sinh của quý 2 và quý 3/2026 cũng được đề xuất lùi thời hạn nộp, lần lượt đến ngày 2.11 và 31.12. Thuế TNDN tạm nộp của hai quý này cũng được áp dụng các mốc thời gian tương tự.
Đối với hộ và cá nhân kinh doanh, thuế TNCN phát sinh của tháng 5 - 9 (hoặc quý 2 và quý 3/2026) được gia hạn cùng thời hạn tương tự thuế GTGT. Riêng tiền thuê đất, Bộ Tài chính đề xuất lùi thời hạn nộp với một nửa số tiền của kỳ đầu năm 2026 với thời gian 6 tháng, chậm nhất đến ngày 2.11.
Bộ Tài chính cho biết các chính sách gia hạn nộp thuế được ban hành trong các nghị định của Chính phủ thời gian qua được xã hội và cộng đồng DN đánh giá là có hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp DN có thêm nguồn vốn ngắn hạn thông qua việc chưa phải nộp ngay số thuế phát sinh vào ngân sách; từ đó tạo đà thúc đẩy phát triển kinh tế, trong khi vẫn đảm bảo giảm thiểu tác động cân đối ngân sách (không dẫn đến điều chỉnh dự toán thu ngân sách đã được Quốc hội quyết định).
Theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù trong 5 tháng đầu năm 2026, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; tuy nhiên KT-XH nước ta tiếp tục gặp khó khăn, thách thức. Tăng trưởng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chưa đạt kịch bản; cầu hàng hóa và dịch vụ chưa đạt kỳ vọng; nhập siêu liên tiếp trong vòng 6 tháng và có xu hướng gia tăng. Thiên tai, thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường; chưa xử lý hiệu quả vấn đề ô nhiễm không khí, nguồn nước, ngập úng, ùn tắc giao thông… tại một số thành phố lớn. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo... Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động phức tạp, tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu. Đối với nước ta, nền kinh tế tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn, thách thức từ cả những yếu tố bất lợi bên ngoài cùng với những khó khăn nội tại chưa khắc phục hoàn toàn và những vấn đề phát sinh. Để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần thiết có giải pháp về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất.
Bộ Tài chính dự kiến trình Chính phủ ban hành nghị định này trong tháng 6 để chính sách có hiệu lực ngay và áp dụng đến hết năm nay.
Đại biểu Quốc hội (QH) Trần Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Đại học Sài Gòn, thừa nhận hiện các DN nói chung vẫn chịu tác động từ xung đột địa chính trị trên thế giới, nhất là lạm phát ở nhiều nước lên cao khiến khả năng tiêu thụ hàng hóa chậm lại. Vì vậy, cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ kịp thời để DN vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển. Ngoài chính sách gia hạn các loại thuế, ông Ngân đề nghị Bộ Tài chính cần tiếp tục xem xét để có các chính sách hỗ trợ thiết thực khác cho DN, người dân.
Tương tự, Liên đoàn Thương mại và công nghiệp VN (VCCI) vừa đề xuất 11 kiến nghị định lượng hóa hỗ trợ DN nhỏ và vừa. Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, khu vực tư nhân nước ta vẫn mang đặc trưng là "đông nhưng nhỏ". Cụ thể, gần 70% DN ngoài nhà nước có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng, 81,4% sử dụng chưa tới 10 lao động. Không chỉ nhỏ về quy mô mà hiệu quả sinh lời của khu vực này còn rất thấp khi tỷ suất lợi nhuận năm 2023 chỉ đạt khoảng 1,4%, đi kèm sự phân bổ mật độ không đồng đều giữa các đô thị lớn như TP.HCM, Hà Nội với các tỉnh miền núi… Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của cộng đồng DN, VCCI đề xuất một số kiến nghị đối với dự thảo luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa (sửa đổi). Cụ thể, mở rộng diện ưu đãi thuế TNDN cho cả khối DN vừa ngành sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, đồng thời bổ sung ưu đãi đầu tư mở rộng, đổi mới công nghệ cho các đơn vị đang hoạt động. Việc giữ lại dòng tiền sau thuế chính là nguồn vốn giá rẻ thực chất nhất cho tái đầu tư.
Về tiếp cận tín dụng, dự thảo đã ghi nhận nguyên tắc cho vay dựa trên tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), đơn hàng và tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, nếu thiếu khung định giá và tỷ lệ tài trợ cụ thể thì quy định vẫn chỉ dừng ở nguyên tắc và tổ chức tín dụng tiếp tục dè dặt giải ngân. VCCI đề nghị giao Chính phủ ban hành khung định giá tài sản vô hình, quyền SHTT và đơn hàng làm tài sản bảo đảm, rút ngắn thời hạn thẩm định, đồng thời định lượng mức ưu đãi tín dụng (chẳng hạn cấp bù lãi suất tối thiểu 2%/năm) cho DN sản xuất, công nghiệp hỗ trợ để bảo đảm công bằng với mức hỗ trợ lãi suất 2%/năm đã dành cho dự án xanh tại điều 21.
Về hỗ trợ mặt bằng sản xuất, cần khấu trừ thẳng vào tiền thuê đất thay vì hoàn trả qua chủ hạ tầng, nâng mức giảm tiền thuê lên 30% trong 7 năm cho cả DN thuê trực tiếp và công nghiệp hỗ trợ hiện hữu, đảm bảo đồng bộ với luật Đất đai 2024 và Nghị quyết 198/2025 của QH. Hay về chuyển đổi số, cần định lượng mức hỗ trợ tối thiểu 50% chi phí (có trần), gọi tên rõ ràng các công nghệ ERP, MES, AI, IoT và cho phép khấu hao nhanh phần mềm. Tương tự, về chuyển đổi xanh và ESG (Môi trường - xã hội - quản trị), cần nâng hỗ trợ lãi suất lên 3%/năm, tài trợ tối thiểu 50% chi phí chứng nhận, kiểm kê khí nhà kính...
"Đề nghị ban soạn thảo định lượng cụ thể các mức hỗ trợ về tỷ lệ, trần và thời hạn ngay trong luật hoặc nghị định hướng dẫn, hạn chế tối đa quy định mang tính nguyên tắc khó thực thi, và phân loại chính sách theo đặc thù từng ngành để DN sản xuất, công nghiệp hỗ trợ không bị loại khỏi diện hỗ trợ khi quy mô thực chất còn nhỏ", bản kiến nghị nêu.
Hoàn toàn ủng hộ đề xuất gia hạn các loại thuế mà Bộ Tài chính đang lấy ý kiến, chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa phân tích: trong số các công cụ điều tiết vĩ mô, thuế là công cụ hữu hiệu và tạo tác động nhanh nhất, trực tiếp nhất. Giảm thuế GTGT giúp hạ giá thành, kích thích chi tiêu tiêu dùng để giải phóng hàng tồn kho cho DN. Đây cũng là một trong những biện pháp quan trọng giúp DN khắc phục được một phần biến động giá hàng nhập khẩu từ bên ngoài. Trong khi đó, việc giãn, hoãn thuế TNDN thực chất là một khoản "vay không lãi suất" từ nhà nước, giúp DN giữ lại được dòng tiền mặt - nguồn "máu" cốt lõi để duy trì sản xuất mà không phải gánh thêm chi phí vốn. "Sự tiếp sức từ chính sách thuế có ý nghĩa cực kỳ lớn trong bối cảnh sức chống chịu của các DN, nhất là khối vừa và nhỏ, đã đi đến giới hạn. Nhiều DN thuộc nhiều ngành nghề đang kẹt trong một vòng xoáy áp lực ngạt thở: chi phí đầu vào, giá vật liệu, nhân công, logistics… đều tăng, dòng tiền kinh doanh cạn kiệt, trong khi sức mua thị trường lại lao dốc do người dân thắt lưng buộc bụng, chần chừ chi tiêu vì tâm lý lo ngại lạm phát", TS Lê Xuân Nghĩa nhìn nhận.
Để giải quyết căn cơ khó khăn của thị trường và tạo động lực mạnh cho tăng trưởng giai đoạn tới, đáp ứng các mục tiêu vô cùng thách thức, ông Lê Xuân Nghĩa kiến nghị Chính phủ cần tập trung xử lý dứt điểm 3 cụm vấn đề. Thứ nhất là khơi thông nút thắt đầu tư công bằng cách điều chỉnh đơn giá xây dựng mới. Thực tế, giá vật liệu xây dựng và nhân công tăng mạnh thời gian qua khiến nhiều dự án đình trệ, đẩy hàng loạt DN xây dựng quy mô vừa và nhỏ vào nguy cơ phá sản vì "càng làm càng lỗ". Rất nhiều dự án đầu tư công đang đình trệ, kéo theo hệ quả liên lụy tới nhiều ngành nghề khác. Đầu tư công đã được xác định là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế năm nay. Do đó, việc tháo gỡ đơn giá lúc này được coi là nhiệm vụ vô cùng cấp bách để giải phóng nguồn lực tăng trưởng chính của năm.
Thứ hai, cần nhanh chóng giải quyết dứt điểm tín dụng cho nhà ở xã hội (NOXH). Ngân sách phải đứng ra tài trợ bù lãi suất cho tín dụng NOXH, cho DN cũng như người mua. Việc để các ngân hàng thương mại tự điều hòa nguồn vốn và dùng quỹ dự phòng gánh mức lãi suất 6,1% là hoàn toàn bất khả thi trong bối cảnh giá bất động sản (BĐS) đang đi xuống và rủi ro nợ xấu dâng cao. Ngân sách nhà nước phải vào cuộc trực tiếp thì chương trình này mới "chạy" được. Cùng với đó, nới mạnh hạn mức doanh thu chịu thuế cho hộ kinh doanh và dứt điểm các vấn đề liên quan tới hóa đơn điện tử.
"Quy định hạn mức nộp thuế 1 tỉ đồng/năm đối với các hộ kinh doanh dịch vụ, du lịch, ăn uống hiện quá lạc hậu. Thực tế, khảo sát của chúng tôi cho thấy chỉ một quán phở bình dân doanh thu đã đạt 1,5 - 1,7 tỉ đồng/năm, trong khi biên lợi nhuận của ngành này rất thấp. Hạn mức này cần được mạnh dạn nâng lên 5 tỉ đồng/năm để "khoan thư sức dân", đồng thời cần ban hành các hướng dẫn hạch toán hóa đơn điện tử thật rành mạch, rõ ràng để DN yên tâm vận hành", TS Lê Xuân Nghĩa phân tích.
TS Trần Hoàng Ngân cũng đồng tình, Chính phủ cần tiếp tục có nhiều giải pháp để hỗ trợ DN, tạo động lực để kinh tế tăng trưởng cao như mục tiêu đặt ra. Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và nhất là Nghị quyết 198/2025 của QH đã nêu rõ nhiều cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Các bộ, ngành và địa phương cần rà soát lại sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết 198/2025 thì những chính sách nào chưa triển khai phải làm ngay. Trong đó, vấn đề hỗ trợ tiếp cận đất đai, hỗ trợ thuê nhà; hỗ trợ về tài chính, tín dụng; hỗ trợ công nghệ, đổi mới sáng tạo... đều góp phần tạo nền tảng cho các DN phát triển. Trường hợp chính sách nào được áp dụng nhưng chưa phù hợp hay gặp vướng mắc thì cũng cần đánh giá cụ thể để đề xuất tháo gỡ hay chỉnh sửa phù hợp. Ông Ngân nhấn mạnh: hàng loạt chính sách quan trọng, hỗ trợ DN đều đã được ban hành trong các nghị quyết của trung ương, quan trọng nhất là bộ, ngành và địa phương phải thực hiện nhanh, đưa chính sách đi vào thực tiễn để thật sự tạo động lực cho DN vượt qua được những tác động khó lường bên ngoài, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung của cả nước.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Quản lý thuế 2025 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (có hiệu lực từ ngày 1.7).
Theo nghị định này, có 8 trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử.
Thứ nhất, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) bán hàng hóa, dịch vụ thuộc trường hợp lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trừ trường hợp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Thứ hai, hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động cho thuê bất động sản; thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Thứ ba, hộ kinh doanh làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán hàng đa cấp mà doanh nghiệp xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp đã khấu trừ thuế theo quy định pháp luật quản lý thuế.
Thứ tư, các khoản phí và các khoản thu khác phát sinh từ hoạt động tái bảo hiểm (bao gồm nhượng tái bảo hiểm, các khoản thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về nhượng tái bảo hiểm), nhận tiền gửi, hoạt động tài chính (phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng khoán sơ cấp, phát hành giấy tờ có giá), bán nợ, giao dịch ngoại tệ và sản phẩm phái sinh.
Thứ năm, góp vốn bằng tài sản của tổ chức, cá nhân kinh doanh vào tổ chức kinh tế.
Thứ sáu, tài sản điều chuyển từ công ty mẹ đến các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và ngược lại, giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Thứ bảy, máy móc, thiết bị cho mượn là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ phục vụ gia công hàng hóa của bên cho mượn, không thu tiền, không chuyển quyền sở hữu.
Thứ tám gồm 3 trường hợp: hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh như hàng hóa được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh trong một cơ sở kinh doanh.
Hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung cấp để sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả tài sản cố định do cơ sở kinh doanh tự xây dựng, tự sản xuất).
Các khoản thu không liên quan đến bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh: các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, thu đòi người thứ ba của hoạt động bảo hiểm, các khoản thu hộ, các khoản thu thù lao từ cơ quan nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan nhà nước, các khoản thu tài chính.
Theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử được miễn phí dịch vụ trong thời gian 12 tháng kể từ khi sử dụng.
Cục Thuế (Bộ Tài chính) thực hiện hoặc ủy thác cho tổ chức cung cấp dịch vụ về hóa đơn điện tử thực hiện cung cấp hóa đơn điện tử được miễn phí dịch vụ.
Các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh không thuộc trường hợp nêu trên, khi sử dụng hóa đơn điện tử thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử thì trả tiền dịch vụ theo hợp đồng ký giữa các bên.
Kể từ ngày 1.7, các nghị định sau đây hết hiệu lực thi hành: Nghị định 123/2020/NĐ-CP; điều 1 Nghị định 41/2022/NĐ-CP; Nghị định 70/2025/NĐ-CP.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Xây dựng, trong năm 2025, cơ quan này đã rà soát 451 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh với tổng thời gian giải quyết lên tới 4.750 ngày và tổng chi phí tuân thủ hơn 12.753 tỉ đồng. Sau quá trình rà soát, Bộ đã cắt giảm 56 thủ tục, đơn giản hóa 241 thủ tục, nâng tổng số TTHC được cắt giảm, đơn giản hóa lên 297/451 thủ tục, đạt tỷ lệ 65,8%.
Đáng chú ý, thời gian giải quyết thủ tục đã được cắt giảm 1.691 ngày, tương đương 31,6%; chi phí tuân thủ giảm gần 4.000 tỉ đồng, tương đương 35,6%. Đây là con số rất lớn trong bối cảnh lĩnh vực xây dựng và giao thông là những ngành có phạm vi tác động rộng, liên quan trực tiếp tới doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân.
Không chỉ cắt giảm TTHC, Bộ Xây dựng còn mạnh tay phân cấp thủ tục từ cấp Bộ về địa phương. Theo đó, 45 thủ tục hành chính đã được phân cấp, giảm tải đáng kể cho cơ quan trung ương, đồng thời tạo điều kiện cho địa phương chủ động xử lý hồ sơ nhanh hơn, sát thực tiễn hơn.
Bên cạnh đó, Bộ cũng cắt giảm 10/45 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và 183/447 điều kiện kinh doanh, tương ứng tỷ lệ cắt giảm 30%. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tháo gỡ "rào cản giấy phép", tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hạ tầng và vận tải.
Chỉ tính riêng trong tháng 4, Bộ đã rà soát toàn bộ 454 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý, đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa và phân cấp 157 thủ tục, tương đương gần 35%; đồng thời cắt giảm 19 ngành, nghề đầu tư kinh doanh và 102/249 điều kiện kinh doanh.
Với kết quả này, Bộ Xây dựng là một trong 3 Bộ, ngành hoàn thành các chỉ tiêu theo Kết luận 18-KL/TW của Hội nghị Trung ương 2.
Tính lũy kế đến nay, Bộ Xây dựng đã cắt giảm tổng cộng hơn 6.868 tỉ đồng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tương đương 54,6%; đồng thời rút ngắn 2.549 ngày xử lý hồ sơ, đạt tỷ lệ 53,7%.
Đáng nói, những thủ tục được lựa chọn cắt giảm đều là các thủ tục có tác động lớn tới hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải. Việc cải cách toàn diện giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng cơ hội đầu tư.
Tiếp nối kết quả đạt được trong năm 2025, trong năm nay, Bộ Xây dựng tiếp tục đề xuất cắt giảm thêm 56 thủ tục, đơn giản hóa 91 thủ tục và phân cấp thêm 13 thủ tục hành chính. Tổng số TTHC dự kiến tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa và phân cấp đạt 160/454 thủ tục, tương đương 35,2%.
Để thực hiện mục tiêu này, một trong những giải pháp được Bộ Xây dựng xác định đột phá trong cải cách hành chính chính là chuyển đổi số và liên thông dữ liệu. Hiện Bộ đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành 6 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đồng bộ thường xuyên với Trung tâm dữ liệu quốc gia, bao gồm dữ liệu về hạ tầng đường sắt, đăng kiểm phương tiện, hàng hải, đường bộ, hàng không và năng lực hành nghề xây dựng.
Trong năm 2026, Bộ tiếp tục triển khai nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng khác như cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; hệ thống dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị; dữ liệu phát triển đô thị; dữ liệu quy hoạch khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng…
Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, khi các cơ sở dữ liệu này được kết nối, chia sẻ đồng bộ với Trung tâm dữ liệu quốc gia và các Bộ, ngành liên quan, quá trình giải quyết TTHC sẽ được thực hiện liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp sẽ không phải cung cấp lại nhiều loại giấy tờ, hồ sơ đã có trên hệ thống dữ liệu dùng chung.
Việc tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính cũng sẽ giúp giảm đáng kể thời gian thẩm định hồ sơ, giảm áp lực cho cơ quan quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.