Phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sáng 6.4, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp.
Đây cũng là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Chúc mừng kết quả bầu cử tốt đẹp và các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn, Tổng Bí thư cũng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu, ủy viên HĐND các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Nhấn mạnh thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu, Tổng Bí thư cũng nêu rõ các thách thức từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dòng vốn toàn cầu… Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Theo Tổng Bí thư, đất nước ta, với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
“Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách hiến định của mình.
“Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện tốt 4 nhiệm vụ lớn. Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai. Luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai, nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả. Giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, Quốc hội phải nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
“Giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử của đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Tổng Bí thư lưu ý cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Cạnh đó, phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách. Mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình. Xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
“Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Trả lời phỏng vấn báo chí về những điểm nhấn trọng tâm trong chuyến thăm chính thức Thái Lan sắp tới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam Urawadee Sriphiromya khẳng định đây là chuyến thăm hết sức quan trọng.
"Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của nhà lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam tới Thái Lan sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV và sau khi bộ máy lãnh đạo mới của Việt Nam được kiện toàn. Thái Lan vinh dự là quốc gia ASEAN đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới thăm trước khi tiếp tục chuyến công du đến các nước khác trong khu vực", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Bà Urawadee Sriphiromya cho biết, đã khá lâu hai nước mới có chuyến thăm ở cấp cao nhất, do đó, sự kiện này nhận được nhiều kỳ vọng không chỉ từ phía Chính phủ mà còn từ nhân dân hai nước, đặc biệt là cộng đồng người Thái gốc Việt. Diễn ra đúng vào năm hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), chuyến thăm phản ánh sâu sắc sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và tình cảm thân thiết giữa hai quốc gia.
Về mặt chiến lược, thành tựu cốt lõi của chuyến thăm sẽ là việc thảo luận chi tiết để thông qua Kế hoạch Hành động (POA) giai đoạn 2026 - 2031, nhằm hiện thực hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện. Đây là một kế hoạch toàn diện, bao trùm trên mọi phương diện hợp tác để hai nước cùng nhau hỗ trợ, đạt được an ninh, hòa bình và thịnh vượng chung.
Trong bối cảnh môi trường quốc tế đầy thách thức, việc các nhà lãnh đạo trực tiếp trao đổi, tham vấn góp phần tạo sự tin cậy cho cả hai bên, nhằm giải quyết các bài toán như an ninh năng lượng, an ninh lương thực và tội phạm xuyên quốc gia. Đại sứ Thái Lan tin tưởng chuyến thăm sẽ gặt hái những kết quả hết sức tốt đẹp.
"Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chắc chắn sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị bền chặt lâu đời và đưa mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan tiến lên những nấc thang mới, đóng góp thiết thực vào một ASEAN tự cường và thịnh vượng", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Điểm lại những thành tựu nổi bật trong quan hệ hai nước thời gian gần đây, Đại sứ Thái Lan khẳng định, quan hệ hợp tác song phương đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay và tiếp tục được nâng lên tầm cao mới qua từng năm.
Năm ngoái, hai bên đã nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, cấp độ hợp tác cao nhất mà Việt Nam thiết lập với các quốc gia khác.
Về kinh tế, bất chấp các cú sốc toàn cầu, thương mại song phương vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, hiện đã vượt mốc 23 tỉ USD và đang tiến sát mục tiêu 25 tỉ USD.
Về đầu tư, Thái Lan đã tăng từ vị trí thứ 9 lên thứ 8 trong số các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Điều này phản ánh niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân Thái Lan vào các chính sách tạo môi trường thuận lợi của Chính phủ Việt Nam.
"Tôi đã nghe nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam từ 40 năm trước chia sẻ rằng họ rất hài lòng và cho rằng, quan hệ giữa hai nước đang ở giai đoạn gần gũi, gắn bó nhất từ trước tới nay", bà Urawadee Sriphiromya nói.
Bên cạnh kinh tế, giao lưu nhân dân là nền tảng vô cùng vững chắc. Lượng khách du lịch giữa hai nước tăng trưởng đáng kể. Hợp tác an ninh - quốc phòng cũng ghi nhận dấu ấn khi tàu Hải quân Hoàng gia Thái Lan thực hiện chuyến thăm cảng TP.HCM sau 11 năm gián đoạn, nhằm chào mừng 50 năm quan hệ ngoại giao, minh chứng cho sự tin cậy chiến lược ngày càng cao.
Hợp tác kinh tế giữa hai nước mang tính bổ trợ lẫn nhau và hiện được định hình bởi chiến lược "ba kết nối": kết nối chuỗi cung ứng, kết nối kinh tế địa phương và kết nối phát triển bền vững.
Về chuỗi cung ứng, hai nước đang hướng tới sự chuyển dịch từ các sản phẩm cơ khí truyền thống sang công nghệ cao. Quá trình này được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng đang hoàn thiện rất nhanh của Việt Nam, từ cảng biển nước sâu, đường sắt Bắc - Nam đến các sân bay quốc tế.
Về phát triển bền vững, doanh nghiệp Thái Lan đang đầu tư xây dựng các khu công nghiệp xanh đạt chuẩn quốc tế tại Việt Nam, đồng bộ từ nguồn điện, nước đến xử lý chất thải nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư xanh nước ngoài.
Trong lĩnh vực bán lẻ, các tập đoàn Thái Lan đang đóng vai trò bệ phóng đưa nông sản, hàng hóa Việt Nam tiêu thụ nội địa, tiếp cận thị trường Thái Lan và xuất khẩu sang các chuỗi siêu thị tại châu Âu.
Thái Lan cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực hàng không, cụ thể là dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu máy bay (MRO), dựa trên nền tảng các hãng hàng không như VietJet đã hoạt động tại Thái Lan hơn 10 năm.
* Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có cho rằng mối quan hệ "ấm áp" hiện nay với Trung Quốc có thể duy trì trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông, cũng như cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại và an ninh không? Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có tin rằng Việt Nam có thể thúc đẩy tiến triển trong vấn đề tranh chấp Biển Đông mà vẫn duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc không?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ gắn bó lâu đời. Hiện nay, hai nước đang triển khai hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực quan trọng.
Chủ trương của Việt Nam là tiếp tục phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bởi Trung Quốc hội tụ đầy đủ các yếu tố của một đối tác ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam: là nước láng giềng, là đối tác quan trọng và là quốc gia có nhiều lợi ích chung cũng như những điểm tương đồng với Việt Nam. Việc duy trì quan hệ hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác có trách nhiệm với Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho cả hai nước mà còn đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định của khu vực.
Về vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam rất rõ ràng và nhất quán. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Chúng tôi không cho rằng việc duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và xử lý các vấn đề trên Biển Đông là mâu thuẫn với nhau. Nếu duy trì được quan hệ tốt đẹp và đối thoại hiệu quả, mọi bất đồng đều có thể được giải quyết. Ngược lại, sự phát triển tích cực của quan hệ song phương cũng tạo nền tảng thuận lợi cho đối thoại. Vì vậy, việc duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và giải quyết các vấn đề trên Biển Đông là những mục tiêu bổ trợ lẫn nhau, chứ không loại trừ nhau.
Đối với quan hệ Mỹ - Trung Quốc, cạnh tranh giữa các nước lớn là một thực tế khách quan. Việt Nam không tiếp cận quan hệ với các nước lớn từ lăng kính an ninh, cũng không lựa chọn đứng về bên nào. Chúng tôi duy trì quan hệ tốt với các nước lớn để cùng giải quyết những vấn đề quan trọng, thiết yếu; chủ trương của Việt Nam là không hợp tác với nước này để gây tổn hại hoặc tạo khó khăn cho nước khác.
Vì vậy, Việt Nam đã và đang duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Mỹ và Trung Quốc, mang lại lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực.
* Xin Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Việt Nam có khả thi hay Đảng và Chính phủ đang xem xét điều chỉnh giảm xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Iran? Trong những năm tới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là tham vọng hay là mục tiêu khó đạt được trong thực tế?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khát vọng phát triển của Việt Nam là khát vọng chung của toàn dân tộc. Chúng tôi đã xác định mục tiêu rõ ràng, đó là đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu này đã được đề ra từ nhiều năm trước và liên tục được khẳng định, trong đó có trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng. Thế hệ chúng tôi có trách nhiệm tiếp tục sự nghiệp phát triển đất nước và kiên định theo đuổi định hướng đó.
Để trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, kinh nghiệm quốc tế cũng như quy luật phát triển cho thấy Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hai con số, tức tối thiểu từ 10% trở lên. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu và cân nhắc rất kỹ lưỡng. Chúng tôi hoàn toàn nhận thức được rằng đây là một mục tiêu đầy tham vọng và rất thách thức. Tuy nhiên, vì quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, chúng tôi đã và đang triển khai nhiều giải pháp thực tiễn quan trọng.
Chúng tôi đã đánh giá lại năng lực quốc gia và xác định lại mô hình phát triển, tăng trưởng của đất nước. Mô hình này phải được xây dựng trên nền tảng tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược. Chúng tôi đã rà soát toàn bộ các nguồn lực dành cho phát triển, và điều đó cho chúng tôi cơ sở vững chắc để lạc quan.
Điều mang lại cho chúng tôi niềm tin chính là quyết tâm rất cao của toàn bộ hệ thống chính trị: sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận rộng rãi của nhân dân, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà sản xuất, khu vực kinh tế tư nhân, người lao động và nông dân. Chúng tôi có sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với mục tiêu đầy tham vọng này.
Chúng tôi tin rằng không có con đường nào khác. Nếu không đạt được mục tiêu này, Việt Nam sẽ không thể hiện thực hóa những khát vọng phát triển lớn hơn mà đất nước đã đặt ra.
Đúng là khi mục tiêu này được đề ra, chúng tôi chưa phải đối mặt với một số khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, nhiều thách thức đã được dự liệu từ trước, bao gồm bất ổn chính trị thế giới, những khó khăn của kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng, áp lực về năng lượng và biến động của thị trường quốc tế. Dù vậy, dựa trên quỹ đạo phát triển trong những năm gần đây, chúng tôi vẫn duy trì sự lạc quan.
Chúng tôi đã triển khai nhiều biện pháp mới và đang xây dựng một mô hình phát triển, tăng trưởng mới cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - một mô hình dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh của con người Việt Nam, tinh thần tự lực, tự cường, tư duy đổi mới sáng tạo, cùng với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia thành công và chuyển hóa những bài học đó thành các chính sách cụ thể.
Đồng thời, chúng tôi cũng rà soát lại hệ thống thể chế, xác định các điểm nghẽn và đang tiến hành những cải cách cần thiết nhằm tháo gỡ các rào cản đối với tăng trưởng, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển dài hạn.
Trên thực tế, kết quả đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy mặc dù vẫn còn những khó khăn và cần có những điều chỉnh nhất định, các mục tiêu cốt lõi vẫn nằm trong tầm tay. Điều này càng củng cố niềm tin của chúng tôi.
Đối với câu hỏi liệu Việt Nam có điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng hay không, câu trả lời của chúng tôi là rất rõ ràng: chúng tôi sẽ không điều chỉnh mục tiêu này theo hướng giảm xuống. Chúng tôi kiên định không chỉ với mục tiêu tăng trưởng của năm 2026 mà còn với việc duy trì quỹ đạo tăng trưởng đó trong những năm tiếp theo, bởi chỉ có như vậy mới có thể đạt được các mốc phát triển mà đất nước đã đề ra.
Và tham vọng của chúng tôi còn vượt xa hơn thế. Tầm nhìn của Việt Nam không chỉ dừng lại ở năm 2045. Chúng tôi đang hoạch định cho cả dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước cũng như cho thế kỷ phát triển tiếp theo của Việt Nam, với những khát vọng còn lớn lao hơn nữa trong tương lai.
* Xin trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã dành thời gian quý báu sau một ngày làm việc với lịch trình hết sức bận rộn để trả lời cho hãng Reuters hôm nay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Cảm ơn các phóng viên. Chúng tôi hy vọng phóng viên đưa tin khách quan, đúng thực tế, đúng hình ảnh và sự phát triển của đất nước Việt Nam. Chúng tôi không né tránh nhìn vào khó khăn, thách thức cũng như những hạn chế, tồn tại. Tuy nhiên, chúng tôi đề nghị phóng viên phản ánh chân thực thực tế, đúng theo nguyện vọng, đúng theo yêu cầu, đúng với sự phát triển của đất nước chúng tôi. Xin cảm ơn!
Chiều 22.6, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật (Ban Chỉ đạo) đã tổ chức phiên họp thứ nhất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp.
Tại phiên họp, Ban Chỉ đạo đề nghị, các cơ quan tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các thành viên và các đại biểu để chỉnh lý, hoàn thiện các dự thảo văn bản, báo cáo, đề án.
Về các văn bản nền tảng hoạt động của Ban Chỉ đạo, phiên họp cơ bản thống nhất với dự thảo quy chế làm việc, quyết định phân công nhiệm vụ của các thành viên Ban Chỉ đạo và chương trình công tác năm 2026.
Với báo cáo chuyên đề về cơ chế, chính sách, giải pháp lớn để thể chế hóa các chủ trương, định hướng về phát triển kinh tế nhà nước theo Nghị quyết số 79- NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo yêu cầu tiếp tục quán triệt và thống nhất nhận thức mới về kinh tế nhà nước, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn đối với các nguồn lực chiến lược của quốc gia; tạo bước đột phá trong quản trị doanh nghiệp nhà nước.
Về báo cáo chuyên đề cơ chế, chính sách, giải pháp lớn để thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, yêu cầu trọng tâm là xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc thù, vượt trội, cạnh tranh, gắn với kết quả thực hiện và cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Cùng đó, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mua công nghệ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Xây dựng và vận hành cổng một cửa đầu tư quốc gia. Xây dựng cơ chế lựa chọn, quản lý và giám sát nhà đầu tư chiến lược; cơ chế điều phối quốc gia và liên kết vùng trong thu hút đầu tư nước ngoài.
Đối với báo cáo về cơ chế, chính sách, giải pháp lớn để thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về xử lý ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, Ban Chỉ đạo yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy kiểm soát từng nguồn thải sang quản trị chất lượng môi trường không khí theo mục tiêu.
Phát triển hệ thống dữ liệu môi trường đồng bộ, hiện đại; xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá, cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm; xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từng địa phương, từng nguồn phát thải.
Về báo cáo tình hình và giải pháp rà soát, sửa đổi, ban hành, bãi bỏ các quy định pháp luật để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong năm 2026, Ban Chỉ đạo đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ phải coi việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh bất hợp lý là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục.
Cần chuyển từ tư duy quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh.
Về Đề án "Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi bộ luật Tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới", Ban Chỉ đạo yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế tố tụng theo hướng hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ công lý, đấu tranh phòng, chống tội phạm với yêu cầu khuyến khích khắc phục hậu quả, thu hồi tài sản, tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Về tổ chức thực hiện, từ nay đến cuối năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tập trung, sớm hoàn thiện và vận hành hiệu quả cơ chế làm việc của Ban Chỉ đạo, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.
Đồng thời, chuẩn bị thật tốt các dự án luật, nghị quyết, đề án lớn để trình ra Quốc hội, khắc phục tình trạng chậm, nợ văn bản hướng dẫn thi hành.
Phải tạo chuyển biến đo được trong cắt giảm thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hoàn thiện pháp luật các lĩnh vực trọng tâm.
Cùng đó, cơ quan thường trực định kỳ báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo những công việc đã hoàn thành, việc chậm, việc khó, việc vượt thẩm quyền, việc cần phải tháo gỡ, không giao việc bằng khẩu hiệu, không chấp nhận tình trạng đã triển khai, đang nghiên cứu, đã quán triệt nhưng không xác định được sản phẩm nào đã hoàn thành, văn bản nào đã ban hành và thủ tục nào đã cắt giảm, xung đột pháp luật nào đã được xử lý và trách nhiệm của người đứng đầu đến đâu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng, Ban Chỉ đạo sẽ hoàn thành tốt trọng trách được giao, góp phần tạo đột phá mới về thể chế, pháp luật, khơi thông nguồn lực phát triển để thể chế không còn là điểm nghẽn mà phải là nguồn lực cho phát triển.